Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Gìn giữ và phát huy xây dựng Bản sắc Văn hoá dân tộc trong Thời Kỳ Mới


đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học xó hội và nhân văn




gìn giữ và phát huy xây dựng
bản sắc Văn Hoá dân tộc
trong Thời Kỳ Mới

Tiểu luận Triết học



Người thực hiện: Đỗ Bích Tuyển
Khoa Văn học, chuyên ngành Hán Nôm






 

 

Hà Nội 3-2003

 Text Box: đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học xó hội và nhân văn

 



gìn giữ và phát huy xây dựng 
bản sắc Văn Hoá dân tộc 
trong Thời Kỳ Mới

Tiểu luận Triết học


Người thực hiện: Nguyễn Đức Toàn
Khoa Văn học, chuyên ngành Hán Nôm








Hà Nội 3-2003
đại học quốc gia hà nội
trường đại học khoa học xã hội và nhân văn




giữ gìn bản sắc dân tộc trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập và trong điều kiện
cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay

Lời Mở Đầu




Một quốc gia văn minh là một quốc gia có một nền văn hóa truyền thống lâu đời, mà trong đó các giá trị đạo đức truyền thống góp phần xây dựng nên bản sắc văn hoá của dân tộc đó được các thế hệ kế tiếp giữ gìn và phát huy. Cho dù trong nền kinh tế thị trường mở cửa hay dưới thời kỳ chế độ phong kiến thì vấn đề bản sắc dân tộc với các giá trị văn hoá đạo đức vẫn luôn luôn được nhà nước quan tâm chú trọng.
Đại hội lần thứ 8 của Đảng đã nhận định: Nền kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực, nhưng cũng có những mặt tiêu cực mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của nhân dân, như xu thế phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý sùng bái đồng tiền, vì đồng tiền mà trà đạp lên đạo đức, nhân phẩm...
Khi chuyển sang cơ chế thị trường mới và mở cửa trong quan hệ quốc tế, chúng ta đã không dự kiến được đầy đủ những tác động của những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường đối với các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa... Đặc biệt do tác động của nhu cầu lợi nhuận, kinh tế dẫn đến sự tha hoá về nhân cách con người trong ứng xử gia đình cũng như xã hội.  Vì vậy hơn lúc nào hết, vấn đề duy trì và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trong phải được củng cố và giữ vững để tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường có thể hòa nhập với nền kinh tế của các nước tiên tiến nhưng không bị đồng hóa, hòa tan trong xu hướng phát triển của lợi nhuận mà xoá nhoà các giá trị đạo đức và văn hoá truyền thống.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có nền văn minh lúa nước, trải qua mấy ngàn năm chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Các mặt về kinh tế thì chậm phát triển, khoa học kỹ thuật thì lạc hậu, khiến cho việc thông thương khó khăn, lạc hậu quẩn quanh và kéo dài trong nghèo đói. Nhưng trước đây, trong một thời gian khá dài, ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có những cái nhìn phủ nhận hoàn toàn vai trò và giá trị nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, coi kinh tế thị trường là một thuộc tính của chủ nghĩa tư bản, dẫn đến sự kỳ thị với kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường: không chấp nhận nền kinh tế hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng trước hết là đổi mới tư duy kinh tế đã khẳng định rằng, quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chứ không có nghĩa là bỏ qua một giai đoạn phát triển của hình thái ý thức xã hội, mà trong đó có sản xuất hàng hóa, tích luỹ vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc cho kiến trúc thượng tầng mới chủ nghĩa xã hội, từ đó đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Đảng ta đã xác định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng(1).
Vì vậy, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập và trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay đang là vấn đề được cả xã hội quan tâm, do vậy được chọn làm đối tượng của tiểu luận này.
a. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận có đối tượng là nghiên cứu vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc trong điều kiện kinh tế mở cửa và trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, nên để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
b. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Trong quá trình làm tiểu luận, chúng tôi đã tham khảo các tài liệu có liên quan, tra cứu lý luận để có một cái nhìn đúng đắn về vấn đề bản sắc dân tộc và giá trị của văn hoá truyền thống trong điều kiện hiện nay.
c. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát thực tế nền kinh tế thị trường đang rầm rộ phát triển hiện nay ở Hà Nội cũng như ở các thành phố lớn trong cả nước và ảnh hưởng của nó tới đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân.
Chương I. Một nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc
1. 1 Khái lược về văn hoá
1. 2  Nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
1.3. Phương hướng của Đảng trong thời kỳ mới
Xác định rõ đường lối đúng đắn của Đảng và nhà nước đề ra, hội nhập nhưng không hòa tan, cho dù kinh tế phát triển vẫn giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc và định hướng chủ nghĩa xã hội .
Chương II. Bản sắc văn hoá dân tộc dưới sự ảnh hưởng của kinh tế thị trường
2.1 Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường
2.2 ảnh hưởng của kinh tế thị trường với đời sống, kinh tế xã hội của đất nước
2.3 Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc
Chương III. Kết luận
Tài liệu tham khảo.




Chương 1:
Một nền văn hóa mang đậm
bản sắc dân tộc

1.1. Khái lược về văn hoá
Việt Nam là đất nước có nền văn hóa lâu đời, nền văn hóa ấy đã góp phần làm nên sức mạnh Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Với kinh nghiệm dân tộc và trí tuệ của thời đại, trong quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn vai trò của văn hóa trong sự phát triển của đất nước.
Văn hóa là tổng thể hoạt động sáng tạo của các cá nhân, các cộng đồng trong quá khứ, trong hiện tại. Trải qua hàng thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy tạo nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thị hiếu và tập quán, những yếu tố xác định đặc tính của mỗi dân tộc.
Văn hóa vừa là kết quả hoạt động thực tiễn của con người, vừa ảnh hưởng trực tiếp, sâu xa đến hành vi của từng con người và của cộng đồng dân cư trong sản xuất và tổ chức đời sống, trong sinh hoạt gia đình giao tiếp, ứng xử ngoài xã hội, trong hoạt động quản lý, trong quan hệ quốc tế.
Tổ chức UNESCO định nghĩa về văn hóa như sau: Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. “Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” (Tuyên bố về những chính sách văn hóa, Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 6/7 đến 6/8/1982 tại Mehico).
Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.
Con người khi sinh ra không phải đã có ngay văn hóa, mà phải được nuôi dưỡng, dạy dỗ, rèn luyện để biết suy nghĩ và hành động theo các chuẩn mực xã hội, để trở thành có văn hóa. Chính cách suy nghĩ và hành động có văn hóa của hàng triệu con người trong hàng trăm, hàng ngàn năm đã tạo nên truyền thống văn hóa, sức mạnh văn hóa của toàn xã hội, của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Đó là sức mạnh tạo ra của cải vật chất và nền văn minh tinh thần. Vì thế mà văn hóa giữ vai trò là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.
Với tư cách là động lực của sự phát triển, văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh, nguồn lực quyết định của sự phát triển. Lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò của con người ngày càng tăng trong sự phát triển xã hội và ngày nay, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng, nhằm tạo ta những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của toàn xã hội.
Do vậy, trong thời đại hiện nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu là có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người hay không. Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa.
Với tư cách là hệ điều tiết của phát triển , văn hóa có khả năng phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, có khả năng bảo đảm cho sự phát triển được hài hòa, cân đối và bền vững.
 Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa phải dựa vào tiêu chuẩn cái đúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất ra hàng hóa với số lượng và chất lượng ngày càng đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị nhân bản của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái đồng tiền, nghĩa là hạn chế xu hướng hàng hóa và dồng tiền xuất hiện với tư cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người cũng như những mối liên hệ khác.
1.2. Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ “Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển xã hội”.
Có thể nói, bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo văn hóa của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển.
Nhìn chung, dù nói theo cách này hay cách khác thì bản sắc văn hóa dân tộc không thể tách rời với hoạt động sáng tạo của dân tộc đó. Và chính trong hoạt động ấy trải từ đời này qua đời khác bộc lộ khuynh hướng, phương thức và kết quả mang đậm dấu ấn riêng biệt của một dân tộc. Sắc thái riêng biệt đó biểu hiện rõ nhất trong tư duy, trong lối sống, trong phong tục, tập quán... trong toàn bộ quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của một dân tộc. Điều đó cũng giải thích vì sao nhiều người tìm thấy nét độc đáo của văn hóa Việt Nam ở cách ăn mặc, thậm chí ở cả những dồ dùng không phải được sản xuất ở Việt Nam, nhưng được sử dụng theo kiểu độc đáo Việt Nam.
Nói tới bản sắc văn hóa dân tộc cần nói tới truyền thống, vì “truyền thống là một bộ phận của văn hóa. Truyền thống của một dân tộc nói lên bản sắc văn hóa của dân tộc ấy”. Truyền thống dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước, ý chí sắt đá vì độc lập tự do của dân tộc và tinh thần khoan dung, nhân nghĩa sáng ngời. Đó cũng là lòng “thương người như thể thương thân”, đó là tính cộng đồng bền chặt tương thân tương ái, “lá lành đùm lá rách”. Người Việt Nam cần cù, bền bỉ và sáng tạo trong lao động, kiên cường và lạc quan trong gian khó, coi trọng và hòa đồng với thiên nhiên. Lối sống của người Việt Nam giản dị mà lịch lãm, thanh đạm mà tinh tế thể hiện một cốt cách Đông phương tiêu biểu.
Tất cả những truyền thống đó đều được thấm sâu vào tâm hồn người Việt Nam và được biểu hiện một cách nhuần nhị trong toàn bộ hoạt động có tính lịch sử của dân tộc ta. Từ cách tư duy cho đến phương pháp giữ nước và dựng nước, từ phong tục tập quán, ngôn ngữ, tôn giáo, văn học nghệ thuật đến ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội... đều in đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt  Nam.
Trong thực tế đời sống xã hội hiện nay cần nhấn mạnh rằng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc  không đồng nghĩa với việc phục hồi những hủ tục, mê tín, dị đoan, lối sống gia trưởng, đầu óc “phép vua thua lệ làng” coi thường pháp luật.
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc cũng không phải là sự ôm giữ khư khư những truyền thống tốt đẹp của mình mà phải đưa những truyền thống văn hóa ấy vào cuộc sống hiện tại, tạo cho nó một sức sống mới thông qua con người và cuộc sống hôm nay nhằm khắc đậm những nét đẹp, tạo dựng những nét mới bổ sung cho kho tàng truyền thống văn hóa dân tộc.
Chúng ta cần phải trân trọng quá khứ, trân trọng những gì tốt đẹp được truyền lại từ ngàn đời ông cha, song không có nghĩa ta chỉ vin vào cái cổ xưa để bảo thủ hay ru ngủ ta trong vỏ bao dày của mấy ngàn năm lịch sử. Mà cần phải bảo tồn nó một cách thiết thực, nhưng cũng phải biết chắt lọc tinh hoa trong giao lưu văn hoá để điểm tô sức sống mới cho văn hoá truyền thống, bên cạnh đó có cái nhìn khách quan sâu sắc gạt bỏ những hủ lậu không lành mạnh có hại cho nền văn hoá thời kỳ mới.
Cái quan trọng trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay là biết nhìn vào quá khứ tốt đẹp để vươn tới tương lai, một tương lai hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc.
Như vậy, kế thừa truyền thống phải chọn lọc, đồng thời phải hoàn thiện nâng cao cái vốn có, bổ sung cái mới. Làm như vậy chính là giữ gìn và phát huy truyền thống trong hiện tại, bắc nhịp cầu đi đến tương lai.
1.3 Phương hướng của Đảng trong thời kỳ mới
Trong thời đại mà sự giao lưu văn hoá mang tính quốc tế quốc tế ngày càng phát triển thì việc giữ gìn bản sắc dân tộc với những giá trị văn hoá truyền thống là một vấn đề quan trọng hàng đầu, bức thiết hơn bao giờ hết. Vì giữ được bản sắc dân tộc chính là giữ được gương mặt đích thực của dân tộc mình trong cộng đồng quốc tế. Nhưng làm thế nào để giữ được bản sắc dân tộc trong điều kiện mở cửa lại là một vấn đề không đơn giản.
Cương lĩnh năm 1991 của Đảng cộng sản Việt Nam khi xác định những đặc trưng trong xây dựng  và phát triển xã hội mới đã nêu lên một vấn đề trọng tâm đó là phải “ gìn giữ và phát huy một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Chiến lược phát triển kinh tế, xã hội  đã xác định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người, đồng thời nêu rõ yêu cầu tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường.(1)  Vấn đề văn hoá còn đựơc nhấn mạnh và thực thi trong Nghị quyết 5 của Trung Ương về bảo tồn các di sản văn hoá truyền thống.














Chương 2:
bản sắc văn hóa dân tộc Dưới Sự ảnh hưởng của kinh tế thị trường

2.1 Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất xã hội đều được giải quyết thông qua đồng tiền và các yếu tố sản xuất như tài nguyên, đất đai, vật tư, sức lao động, chất xám, sản phẩm của khoa học công nghệ, lao động quả lý cũng như các sản phẩm của khoa học và dịch vụ do quá trình lao động sản xuất tạo ra đều được coi là hàng hóa, được mua bán theo giá cả thị trường. Thị trường là một hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng phức tạp, luôn biến động với sự tham gia của hàng triệu người mua bán với hàng triệu mặt hàng khác nhau. Nhìn bên ngoài, thị trường rất hỗn độn, ngẫu nhiên và tự phát, nhưng bên trong sự vận động của nó lại tự thiết lập được một sự ăn khớp, một sự phối hợp khá chặt chẽ, tạo nên một trật tự và sự ổn định tương đối, có khả năng điều tiết hoạt động của các thành viên tham gia thị trường, buộc mọi người phải tự giác chấp nhận. Sức mạnh điều khiển vô hình của thị trường được tạo nên và tác động do sự vận động của hàng loạt quy luật khách quan. Đó chính là hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường, bao gồm trước hết là quy luật cung và cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ v.v. Các quy luật này vận động một cách khách quan, có tính hệ thống, tạo ra cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường.
Đảng ta đã khẳng định, kinh tế thị trường không đối lập với CNXH mà là cần thiết cho CNXH, do đó chuyển sang cơ chế thị trường là một đòi hỏi khách quan và là điều kiện cần thiết để chúng ta xây dựng thành công CNXH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Tuy nhiên để có một xã hội XHCN đích thực, vấn đề cơ bản có tính quyết định lại phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước trong công cuộc đổi mới hiện nay. Do vậy vai trò và chức năng quản lý của nhà nước trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường là phải phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo cho đất nước thoát  khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
2.2 ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Nền kinh tế thị trường và cơ chế thị trường có những mặt tích cực nhất định. Do có động cơ lợi nhuận nên cơ chế thị trường thúc đẩy mọi người tích cực, năng động hoạt động sản xuất kinh doanh. Cơ chế thị trường bảo đảm cho các nhà sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng được tự do lựa chọn và quyết định việc sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của mình. Thông qua cạnh tranh trên thị trường thúc đẩy các doanh nghiệp tìm biện pháp làm ăn có hiệu quả. Cơ chế thị trường có tác dụng điều tiết quan hệ cung cầu, sàng lọc tự nhiên đối với sản phẩm doanh nghiệp và con người, qua đó mà tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng các nhà kinh doanh, nhà quản lý và người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Bên cạnh những tác động tích cực, cơ chế thị trường có những mặt tiêu cực, hạn chế. Trước hết, cơ chế thị trường là sự điều tiết các quan hệ kinh tế, xã hội mang tính tự phát và mù quáng. Nhà kinh doanh chỉ chạy theo mục tiêu lợi nhuận đơn thuần, chỉ chú ý giải quyết những kinh tế mà ít chú ý đến những vấn đề xã hội. Mục đích của họ là làm sao thu được nhiều lợi nhuận. Sự cạnh tranh gây ra sự phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý sùng bái đồng tiền, bất công xã hội gia tăng, nhiều trường hợp sinh ra ô nhiễm môi trường sinh thái.
Như chúng ta đã từng chứng kiến, việc cải cách mở cửa góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển,  khoa học kỹ thuật ngày một nâng cao, song đằng sau đấy kéo theo bao sự vô lối. Việc đánh đập, hành hung công nhân, vi phạm nhân quyền của một số doanh nghiệp nước ngoài đã diễn ra nhiều lần, gây nên sự mất dân chủ, hoang mang lo sợ trong công nhân Việt Nam. Lớn hơn, đó là sự không tuân thủ theo đúng luật lao động của Bộ luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây nên tình trạng khó quản lý, khó điều hành của nhà chức trách.
Nền kinh tế thị trường phát triển, song mặt trái của nó ảnh hưởng to lớn tới đời sống văn hóa của nhân dân. Bên cạnh những mặt tích cực, giờ đây, trong mọi ngóc ngách của cuộc sống, cơ chế đồng tiền len lỏi không ngừng, nó làm băng hoại giá trị đạo đức, tinh thần vốn có của một số lớp người. Trong quan hệ thầy trò xưa “tôn sư trọng đạo”, nhưng giờ đây một số người đã dùng đồng tiền làm lung lay nhân cách người thầy, phá hoại đạo đức vốn ngàn đời tốt đẹp của bậc tôn sư.
Trong gia đình, cha con chồng vợ cũng lấy đồng tiền làm mục đích sống, mọi quan hệ thuần phong mĩ tục bị đảo lộn.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận, kinh tế phát triển, khoa học công nghệ tiên tiến đã góp phần làm cho xã hội văn minh hơn. Tình trạng đói nghèo được khắc phục, đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được cải thiện, mở rộng tầm nhìn ra các nước anh em trên thế giới. Như vậy, văn hóa dân tộc có sự giao lưu rộng rãi với các nước trên toàn cầu; một mặt vẫn giữu được phong thái của dân tộc, một mặt tiếp thu tinh hoa của văn minh nhân loại, làm giàu thêm vốn văn hóa của dân tộc Việt Nam.
          2.3 Vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc:
Trên bình diện tổng quát nhất, trong thời kỳ phát triển đổi mới của đất nước hiện nay, giữ gìn bản sắc dân tộc đóng vai trò vừa làm động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Đây là một vấn đề rất lớn cả về lý luận và thực tiễn.
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao... Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là bước phát triển mới về chất mọi mặt đời sống xã hội nước ta. Sự phát triển này chỉ có thể đạt được khi biết lấy văn hóa làm động lực, hệ điều chỉnh và mục tiêu của sự phát triển.
Những bài học thành công và thất bại của các mô hình phát triển kinh tế thế giới trong mấy thập kỷ qua giúp chúng ta nhận rõ sai lầm của nhiều lý thuyết phát triển trước kia của phương Tây là đã không coi trọng nhân tố con người, nhân tố văn hóa. Nhiều nước Bắc Phi lao theo mô hình phát triển của phương Tây, bất chấp truyền thống văn hóa dân tộc, dẫn đến hậu quả tai hại rất khó khắc phục: không những xã hội rối loạn mà kinh tế cũng không phát triển được, càng cố công nghiệp hóa bao nhiêu càng nghèo đi bấy nhiêu và bị lệ thuộc nặng nề vào bên ngoài.
ở nước ta Đảng khẳng định, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân; lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; khoa học và công nghệ là động lực của công nghiệp hóa.
Cần lưu ý rằng, khoa học công nghệ được nhiều nước xem là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển. Việc tiếp thu khoa học và công nghệ nước ngoài là con đường ngắn nhất để phát triển- lợi thế của nước đi sau. Tuy nhiên, chúng ta phải biết tiếp thu có chọn lựa, tiếp thu một cách sáng tạo, cải biến chúng cho phù hợp với điều kiện của đất nước; đồng thời, cần làm chủ kỹ thuật và thông tin để tránh việc nhập công nghệ đã lạc hậu, tự biến mình thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển.
Trong tình hình như vậy, văn hóa đóng vai trò quan trọng để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển kinh tế thị trường. Trước hết, là sự nhận thức về tính hai mặt của kinh tế thị trường để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội; chủ động đấu tranh khắc phục, hạnc hế tối đa những khuynh hướng tiêu cực của kinh tế thị trường như sự phân hóa giàu nghèo quá mức, tâm lý dùng bái đồng tiền có thể dẫn đến băng hoại đạo đức, lối sống, nhân phẩmv.v...
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam, đạo lý Việt Nam tham gia vào quá trình điều tiết tinh thần của sự phát triển kinh tế thị trường, giảm bớt sự nghiệt ngã của quy luật cạnh tranh theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh; bằng chính sách và pháp luật để điều chỉnh hướng kinh doanh...
Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường là sự khơi dậy những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống như “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, “lá lành đùm lá rách”... dưới những hình thức đa dạng để xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người với người.
Đi vào kinh tế thị trường, thực hiện chính sách mở cửa để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dân tộc Việt Nam phải giữ được giá trị truyền thống tốt đẹp, tô đậm và làm phong phú thêm bản sắc dân tộc, không bị hòa tan, đánh mất bản thân mình, không biến mình thành “cái bóng mờ của người khác”. Đó chính là một biểu hiện sinh động của tinh thần yêu nước, của giá trị “không có gì quý hơn độc lập, tự do” trong điều kiện mới v.v.
Tuy nhiên, bản sắc dân tộc không phải là cái bất biến. Cùng với sự vận động của lịch sử, bản sắc dân tộc cũng biến đổi, phát triển vừa kế thừa những nét đẹp của truyền thống, vừa tiếp thu những yếu tố mới, tạo nên những truyền thống mới. Nghĩa là bản sắc dân tộc của văn hóa luôn luôn phát triển những nội dung mới, biểu hiện trong những hình thức mới nhưng vẫn không mất di cái căn cốt sâu xa của nó.
Song song với việc giữ gìn bản sắc dân tộc, chúng ta vẫn chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Điều đó phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị tịnh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hóa, nghệ thuật của dân tộc. Bảo vệ và tôn tạo các di tích văn hóa, lịch sử, các danh lam thắng cảnh của đất nước, khai thác chúng một cách thông minh và hữu ích. Đồng thời tiếp thu văn hóa nhân loại, thông qua chính sách rộng mở, tăng cường giao lưu, hợp tác về nhiều mặt với các nước trong cộng đồng thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, Việt Nam đã và đang mở rộng cánh cửa ra thế giới bên ngoài. Đây là một điều kiện thuận lợi để giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm bản sắc văn hóa Việt Nam. Chúng ta lựa chọn, tiếp thu các yếu tố nhân bản, hợp lý, khoa học, tiến bộ của văn hóa thế giới, cả phương Đông và phương Tây, để làm giàu thêm văn hóa dân tộc, định hướng giá trị cho toàn xã hội. Mặt khác, chống lại sự xâm nhập của mọi thứ văn hóa độc hại, chủ nghĩa tự do cá nhân cực đoan, lối sống sùng bái vật chất, sùng ngoại mất gốc.
Trong sự rộng mở mối quan hệ quốc tế như hiện nay, một nền văn hóa có bản sắc riêng, một nền văn hóa có bản sắc riêng sẽ không bị hòa tan, không tự đánh mất mình và đủ bản lĩnh để tiếp nhận tinh hoa hoặc thải loại những gì không phù hợp từ văn hóa bên ngoài. Tự ty, vọng ngoại hoặc dị ứng, bài ngoại đều là những thái độ cực đoan, thiếu khoa học trong trong giao lưu văn hóa.
Nền văn hóa Việt nam phải sống hơi thở và sức sống của thời đại mình. Nền văn hóa ấy phải hòa nhịp cùng tiến trình văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại. Điều đặc biệt đáng quan tâm ở đây là hiện đại không đồng nghĩa với cái mới nhất thời, mà nó phải là thể hiện xu hướng mới phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội loài người, góp phần vào tiến bộ chung của nhân loại.


Chương 3:
Kết luận
Nền văn hóa được gọi là tiên tiến nhất thiết phải là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi lẽ văn hóa tự bản thân nó, ở phần sâu xa nhất tạo thành linh hồn và sức sống bền vững của nó, bao giờ cũng mang bản sắc dân tộc.
Ngày nay, không thể có một nền văn hóa phát triển trong khép kín. Sự phát triển của kinh tế thị trường, không học công nghệ đã làm thay đổi bộ mặt thế giới, tạo ra một khả năng rộng lớn cho sự tiếp xúc, trao đổi giữa các nền văn hóa khác nhau. Giao lưu văn hóa đã trở thành điều kiện tất yếu của phát triển.
Cho dù trong hoàn cảnh nào, bản sắc dân tộc luôn luôn là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo văn hóa của mỗi dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển. Như vậy, bản sắc dân tộc là sắc thái gốc, là “thẻ căn cước” của một nền văn hóa, nghĩa là những đặc trưng riêng biệt không thể trộn lẫn của một nền văn hóa.
Trong chính sách mở cửa và giao lưu kinh tế, văn hóa như hiện nay, văn hóa vừa thúc đẩy quá trình này vừa chấp nhận sự thách thức lớn: nguy cơ chệch hướng trong lĩnh vực văn hóa chính là sự đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, biến mình thành bản sao nhợt nhạt của kẻ khác, nền văn hóa khác. Thua lỗ trong kinh tế còn có thể bù đắp được, nhưng thua lỗ trong văn hóa thì không gì bù đắp nổi, bởi mất văn hóa là mất tất cả. Giữ gìn bản sắc dân tộc vừa là một nội dung xây dựng nền văn hóa mới vừa là một điều kiện để giao lưu quốc tế. Chúng ta sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới, hoà nhập với cộng đồng các nước trong khu vực, nhưng hoà nhập chứ không thể hòa tan./.


Tài liệu tham khảo
1. Giáo trình triết học Mác-Lênin, Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1999
2. Đổi mới và thực hiện đồng bộ các chính sách, cơ chế quản lý kinh tế. Tập thể tác giả, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1997.
3. Giáo trình trung học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, H.1997
4. Tài liệu học tập lý luận chính trị phổ thông, tập II, Ban tư tưởng văn hóa trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1997
5. Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng, Nxb Giáo dục, H.1997
6. Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nguyễn Khắc Thuần, Nxb Giáo dục, H. 1997.




(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, CTQG< ST, H.1996, tr.97.
(1) Đảng cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.9.


1 nhận xét: