Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục/ VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ. (Bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên)/ Tỉnh HÀ TĨNH- NGHỆ AN


TỈNH HÀ TĨNH

Cổ tích

Trấn cổ Nghệ An

Di chỉ hiện còn tại xã Trung Duệ huyện Kì Anh.

Đài Trang Vương

Đài trên đỉnh Hương Tích núi Hồng Lĩnh thuộc huyện Can Lộc, không rõ khởi dựng từ thời nào. Tương truyền là nơi Trang Vương xuất gia đến tu hành, xây thành đá, trong thành tạc đá tạo ra 99 nền nhà, nhưng lâu ngày bỏ hoang phế, nên không còn nhận ra được đầy đủ. Bên cạnh có am Hương Tích, là nơi hóa thân của người con gái thứ 3 của Trang Vương

Thành cổ Lâm Ấp

Di chỉ lũy xưa hiện còn trên núi Hoành Sơn.

Nhà cổ Quỳnh Viên

Di chỉ trên núi thuộc địa giới phía nam xã Dương Tân huyện Thạch Hà. Trên núi có ao nước sâu không thấy đáy, bên bờ ao là di chỉ của ngôi nhà cổ gọi là Quỳnh Viên. Tương truyền Chử Đồng Tử đến đây tu luyện lập ra phiên trại, ngờ rằng đây chính là di chỉ cũ đó.

Đồn Thông Lĩnh

Di chỉ ở thôn Xuân Sơn huyện Kì Anh, nay vẫn còn dấu tích của tường thành bằng đá và pháo đài.

Thành cổ Doanh Cầu

Thành ở xã Hà Trung huyện Kì Anh. Thời Lê sơ trấn lị Nghệ An đặt tại đây, về sau mới dời về Quyết Dũng, thành được giữ lại làm đồn Doanh Cầu. Di tích cũ hiện vẫn còn.

Lầu cổ Nhuận Hồ

Ở xã Tả Ao huyện Nghi Xuân. Ngày trước Hồ Hán Thương dựng lầu tại đây, nay vẫn còn di chỉ.

Núi sông

Núi Nam Giới

Núi trên biển thuộc xã Dương Luật phía đông huyện Thạch Hà, chu vi vài chục dặm, ngọn cao lớn hùng vĩ. Mỏm cao nhất ở phía đông bắc hình giống như đầu rồng, nối liền với sống núi kéo xuống như mũi rồng, lại có hai khe tròn ở hai bên như mắt rồng, bên dưới mũi nổi lên một ngọn tròn trịa như long chuẩn, bên dưới có ao thiên trì rộng vài mẫu như miệng rồng. Ao này sâu không có đáy, xung quanh cỏ nước mọc um tùm, được các nhánh núi hai bên bao bọc nom như râu rồng. Một ngọn núi ở bên trái chắn ngang luồng gió làm rung lên âm thanh nghe như muôn tiếng sấm rền, gọi là ngọn Long Ngâm. Trên ao thiên trì có di chỉ của nền nhà, tương truyền là nơi tu đạo của Chử Đồng Tử và Tiên Dung thời Hùng Vương, gọi là núi Quỳnh Viên.

Núi Mã Yên (Yên Ngựa)

Ở bên dưới xã Hà Trung huyện Kì Anh núi thoải xuống thành đồi bằng phẳng, phía nam quả đồi có cầu bắc qua suối và dòng sông Trí Giang. Thời Lê đặt làm dinh trấn Nghệ An, di tích của lũy cũ nay vẫn còn.

Suối Vũ Môn

Ở núi Khai Trướng (Giăng Màn) huyện Hương Sơn. Giữa vùng cây cối xanh biếc, một dòng suối chảy xuôi dài vài trăm trượng nom như dải lụa mềm. Cứ đến ngày 8 tháng Tư hàng năm mây mưa lại kéo đến đổ xuống núi này. Tương truyền đây là nơi cá chép hóa rồng. Dân chài bủa lưới ở phía hạ lưu thường bắt được những con cá có chấm ở trên đầu.

Núi Hồng Lĩnh

Núi nằm ở phía bắc huyện Can Lộc, phía nam huyện Nghi Xuân, hình khối cao to đẹp đẽ. Tương truyền có đến 99 ngọn núi, trong đó ngọn Am Lam vươn hẳn lên trời, bốn mùa phủ đầy sương mù. Phía tây ngọn núi này có ao thiên trì sâu không thấy đáy. Phía nam của ao có động lớn chứa được hàng trăm người. Bên dưới động có nhiều đá tảng giống như hình người, hình ngựa. Lại có ngọn núi cao khác, phía nam cũng có ao, nước đổ vào sông Lam. Còn có ngọn Sư Tử, giữa sườn núi có con suối treo đổ nước xuống bờ đá, nước chảy xói vào đá tạo thành vực. Ở miệng vực có tảng đá trắng nằm vắt ngang bên trên, gọi là cầu Cốc Tiên. Cạnh đó lại có tảng đá dựng đứng như hình khăn phác đầu có đủ cả dải khăn với vòng đeo tai, gọi là vực Đầu Cân (Khăn đội đầu). Một ngọn núi ở phía đông ăn ra biển, màu xanh của núi hòa hợp với màu mây, mưa giăng đều đặn theo mùa trong năm. Lại còn ngọn Hồ Phong trên đỉnh có hai phiến đá lớn châu đầu vào nhau, giữa chúng là ao thiên trì, nước trong sạch thơm mát uống được.

Núi Côn Bằng

Núi trên biển thuộc xã Bình Điền huyện Can Lộc. Núi bằng phẳng, chồng chất những khối đá kì dị, xếp thành 5 nhóm, sắp đều nhau đối diện ở hai bên phải trái, ở giữa có khối đá lớn gọi là "đá Tướng". Lại một khối đá lớn hơn gọi là "đá Đại tướng". Thầy phong thủy gọi đó là thế "ngũ quân xuất trận". Từ xa trông lại như cá côn xòe vây, chim bằng gương cánh, vì thế mới đặt tên là Côn Bằng.

Đền miếu

Đền Vũ Mục vương

Đền ở dưới ngọn Long Ngâm núi Nam Giới thuộc địa phận xã Dương Luật huyện Thạch Hà, thờ con của anh trai Lê Thái Tổ là Lê Khôi, làm quan đến chức Kiểm hiệu Tư không Bình chương sự. Ông qua đời tại đây, tên thụy là Vũ Mục. Dân địa phương tưởng nhớ công đức của ông lập đền thờ phụng.

Đền đôi Thần Đầu

Đền ở thôn Thần Đầu huyện Kì Anh, thờ hai vị thần. Một vị là Lê Quảng Chí, đỗ Bảng nhãn triều Lê, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong làm Phúc thần; một vị là Lê Quảng Ý, đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan đến chức Chưởng Hàn lâm viện, kiêm lãnh Tứ thành binh mã, tước Quận công, sau khi mất được phong Phúc thần. Dân địa phương dựng đền tại đây thờ hai vị.

Đền Chế Thắng Phu nhân

Đền ở thôn Hải Khẩu huyện Kì Anh. Vào thời vua Trần Duệ Tông, cung nữ Nguyễn Bích Châu theo thuyền vua đi đánh Chiêm Thành. Giữa biển bỗng nhiên trời nổi sóng lớn, thuyền sắp lật. Nàng Bích Châu tình nguyện gieo mình xuống nước, thuyền vua nhờ đó mới được an toàn. Sau này, vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm qua đây, đêm mộng thấy nàng Bích Châu hiện ra kêu cứu. Lê Thánh Tông liền viết bài hịch ném xuống nước trách lỗi Quảng Lợi vương. Một lát sau thấy xác nàng Bích Châu nổi lên trên mặt nước, nhan sắc vẫn tươi như khi còn sống. Vua bèn sai đem đi làm lễ chôn cất rồi lập đền thờ phụng.

Đền Điện Quận công

Đền ở thôn Sơn Triều huyện Kì Anh, thờ hậu duệ của Thọ Quận công là Phạm Hoành, làm quan trấn giữ Nghệ An đời Lê. Ông có công lao đánh giặc, được phong tước Quận công. Sau khi qua đời được dân thôn lập đền thờ phụng.

Đền Thọ Quận công

Thần họ Phạm, không rõ tên, có công phò vua Lê đánh nhà Mạc. Sau khi qua đời được dân địa phương lập đền thờ phụng.

Đền Diên Quận công

Đền ở xã Trung Tiết huyện Thạch Hà, thờ thần tên là Trần Hoa, người bản xã, có công phò vua Lê đánh nhà Mạc, được ban tước Diên Quận công, phong làm phúc thần. Sau khi qua đời được dân thôn lập đền thờ phụng.

Đền Tam thần Quyền Hoành

Đền thờ 3 vị thần ở xã Quyền Hoành huyện Kì Anh. Một vị là Hào Quận công, một vị là Thái bảo và một vị là Thiếu bảo, đều làm quan đời Lê ra trấn thủ Nghệ An, có nhiều công đức với dân, nên sau khi mất được dân lập đền thờ phụng.

Đền Long Vương

Đền nằm trên bờ sông thuộc hai thôn Chỉ Châu Đông, Chỉ Châu Nam huyện Thạch Hà, thờ thần Long vương. Hồi trước vua Lê Thánh Tông đem quân đi đánh dẹp phương nam, trảy thuyền đi qua đền, thuyền bỗng mắc lại không tiến lên được. Dân phu đem sự việc tâu lên, bèn sai quan ra tế ở đền, chỉ lát sau thuyền lại rẽ nước lao về phía trước như tên bắn. Sau ngày thắng trận trở về, vua ban sắc gia phong cho thần, lệnh cho địa phương duy trì tế lễ hàng năm.

Đền Uy Cảm

Đền ở xã Việt Yên Hạ huyện La Sơn.

Chùa quán

Chùa Cảm Sơn

Chùa ở xã Đại Nại huyện Thạch Hà. Núi Cảm Sơn mổi lên giữa đồng bằng, trước mặt là sông lớn. Chùa ở trên núi, gọi là Cảm Sơn tự, xây dựng từ niên hiệu Thịnh Đức triều Lê.

Chùa Ngạn Sơn

Chùa ở trên núi thuộc xã Trảo Nha huyện Thạch Hà.

Chùa Bàn Độ

Chùa ở sườn núi Bàn Độ thuộc thôn Phú Duyệt huyện Kì Anh. Bên trái chùa có dòng suối, trên không có nguồn, dưới không có đáy mà vẫn có nước trào ra, nước rất trong và mát.

Chùa Phú Dẫn

Chùa ở xã Phú Dẫn huyện Kì Anh. Trước cửa chùa núi cao chất ngất, hình dạng như rồng, phượng, rùa. Bên cạnh chùa có dòng suối trong, cảnh rất đẹp.

Chùa Nhân Lí

Chùa dựng trên gò đất thuộc xã Nhân Lí huyện Kì Anh. Cảnh trí cũng rất đẹp.

Chùa Hương Tích

Chùa trên ngọn núi Hương Tích của dãy Hồng Lĩnh, thuộc huyện Can Lộc. Trên núi có am đá, bên phải là chùa Hương Tích. Thông mọc xanh um, là nơi danh thắng đệ nhất của tỉnh Nghệ An.

Chùa Thiên Tượng

Chùa trên ngọn núi Thiên Tượng của dãy núi Hồng Lĩnh, thuộc huyện Can Lộc. Giữa sườn núi mở rộng thành một vùng trũng, khe suối nước chảy róc rách qua kẽ đá. Chùa nằm giữa khu này, bên cạnh là khu nhà ở của sư sãi. Trước mặt có hồ lớn dẫn nước từ suối khe chảy vào. Đây cũng là một phong cảnh đẹp của núi Hồng.

 

TỈNH NGHỆ AN

Cổ tích

Thành Vạn An

Thành ở xã Hương Lãm huyện Nam Đường, là thành cổ của Mai Hắc Đế. Di chỉ nay vẫn còn.

Lũy cổ

Ở xã Lâm Thịnh huyện Nam Đường. Bốn xung quanh dựng cao lên như hình cái đấu. Tương truyền vào cuối đời Trần, quân Chiêm Thành sang xâm lấn đã đắp thành này lấy làm nơi đong đếm quân lính.

Thành Bình Ngô

Thành ở ngọn Cương Trú núi Thiên Nhận thuộc xã Bích Hồ huyện Thanh Chương. Phía nam ngọn núi có di tích ngôi thành cổ, dài khoảng 1 dặm. Chân thành có những tảng đá hình người, ngựa, giáo, mác. Hồi đầu Lê Thái Tổ mới dấy binh khởi nghĩa, đại quân từ Tương Dương men theo núi kéo xuống phía đông, chia quân đóng đồn thành hàng để lợi dụng địa hình hiểm trở. Thủy quân giặc Minh tiến đến đây không sao đánh nổi, thua to tháo chạy. Vì thế gọi thành này là thành Bình Ngô. Di tích nay vẫn còn.

Thành Lục Niên

Thành ở ngọn Lạp Phong núi Thiên Nhận thuộc xã Nam Kim huyện Thanh Chương. Bên trái ngọn núi có di tích bức thành đá rộng khoảng hơn 1 mẫu, do Lê Thái Tổ xây đắp nên để chống cự với viên tướng giặc Minh Phương Chính ròng rã trong suốt 6 năm, vì thế mới có tên là thành Lục Niên. Còn có cách giải thích khác nói Lê Thái Tổ từ lúc khởi nghĩa cho đến khi vào được thành Nghệ An mất đến 6 năm, nên thành mới có tên như thế. Về sau vị Hương cống người La Sơn là Nguyễn Thiếp do được cử trông coi hạt này, nên sau khi từ quan về hưu cất nhà ở ẩn tại đây, vua nhiều lần cho vời nhưng không chịu ra, nên lấy hiệu là Lục Niên, cũng còn tên hiệu khác là Lạp Phong, nổi tiếng là bậc cao sĩ thời Lê mạt.

Thạch Thành

Thành ở trên núi Hùng Sơn thuộc Xã Nghĩa Liệt huyện Hưng Nguyên. Thành xây bằng đá cao 6 thước. Chu vi ước khoảng 1 dặm, tương truyền là do viên tướng người Minh Trương Phụ xây đắp nên. Trên chót đỉnh núi có một chỗ trũng sâu xuống, rộng đến 4, 5 thước. Tương truyền đó là chỗ chôn cột đồng ngày xưa. Lại có một đống đá cao rộng khoảng 3, 4 thước, tương truyền là chỗ đặt cột cờ của Trương Phụ. Di chỉ hiện vẫn còn.

Thành đá Cự Lại

Thành ở xã Tây Lũy huyện Đông Thành, chu vi dài ước hơn 100 trượng, cao cỡ 4, 5 thước. Thành xếp bằng đá, tương truyền do tướng nàh Minh dựng nên. Di chỉ hiện vẫn còn.

Thành cổ Tương Dương

Thành ở xã Chính An huyện Tương Dương, xây dựng vào thời Trần. Gần đây do nước sông chảy xói vào bờ, thành cổ chỉ còn lại mấy tảng đá trắng vương vãi giữa lòng sông mà thôi.

Đá ma nhai

Ở phía tây xã Trầm Hương huyện Tương Dương. Vách đá dựng đứng như bức tường cao nghìn nhận, phía dưới có động có thể chứa được vài chục người. Con đường núi dẫn lên sâu thẳm đầy hiểm trở. Vào năm Khai Hựu thứ 7 (1335) triều Trần, nhà vua thân chinh đi đánh Ai Lao, thắng trận trở về qua núi này sai văn thần là Nguyễn Trung Ngạn mài vách đá ghi lại chiến công, chữ to bằng bàn tay khắc sâu vào đá hàng tấc. Nay vẫn còn.

Núi

Núi Kim Nhan

Ở thôn Kệ Tràng huyện Lương Sơn. Dãy núi từ phủ Tương Dương đổ tới, nhấp nhô từ đỉnh đến chân toàn là đá, ngọn núi nhọn chĩa thẳng lên trời. Trên đỉnh cao nhất có hang trống rất sâu, không có vết chân người trèo tới. Tương truyền ở đó thường có một dải mây màu đỏ, lúc kéo dài như dải lụa, lúc xòe rộng như cái tán mui xe, hoặc thu nhỏ như đồm lửa ngọn đuốc bay vào núi này, qua hốc đá mà nhập vào hang. Lúc đó trên núi phát ra tiếng vang rung động ầm ầm như sấm. Dân địa phương bảo đó là tinh của người chết qui tụ vào trong hang, vì thế còn gọi núi này là núi Thu Tinh.

Núi Hùng Sơn

Ở địa phận hai xã Nghĩa Liệt và Phú Điền huyện Hưng Nguyên. Núi trập trùng nối liền nhau, trên một đỉnh ở giữa có di chỉ thành của Trương Phụ và các chùa An Quốc, chùa Am Hà. Bên sườn núi có đền Tuyên Nghĩa. Đó là vào hồi Trương Phụ trở về Bắc quốc, ủy quyền cho viên tướng Thái Phúc lưu lại trấn giữ. Lê Thái Tổ từ huyện Đỗ Gia kéo quân tới đánh, tướng Minh phải tử thủ trong thành. Lê Thái Tổ cho là trung nghĩa, bèn phong cho là Tuyên Nghĩa Sơn thần. Ngày nay trấn thành và kho tàng của quân vua Lê vẫn còn lại di chỉ.

Núi Di Lặc

Ở hai xã Quan Trung, Thái Xá huyện Đông Thành. Núi cao trung bình, hai bên thấp xuống như hai vai, nên đặt tên như thế. Mặt bên kia của núi Hai Vai có động, bên trong thạch nhũ ngũ sắc rủ buông rực rỡ; mặt bên này đá dựng đứng như hình người, được dân đi biển lấy làm điểm chuẩn. Xưa vua Lê Thánh Tông đi tuần phương nam, từ ngoài biển vọng vào trông thấy như hình búi tóc tiên, bèn sai đặt cho tên núi là Quát Sơn.

Núi Vũ Kì

Ở xã An Lạc huyện Đông Thành. Vách đá núi bày thành hàng ngang như những lá cờ. Mé đông có hang, bên trong có bình phong đá, lư hương đá, đỉnh hang có lỗ thông lên trời. Phong cảnh cũng rất đẹp.

Núi Hổ Sơn

Núi ở thôn Trung Phường huyện Đông Thành, đứng đối diện với núi Di Lặc. Trên sườn núi có hang, phải lọt qua cửa hang mới thấy có thể đi sâu vào trong. Trong hang dần dần mở rộng và bằng phẳng, trông như lầu gác xếp chồng lên nhau đến 4, 5 tầng. Soi đuốc nhìn thấy có 9 lỗ, trong đó một lỗ tròn sâu không thấy đáy. Xế về hướng đông có một lỗ nhỏ có thể đi lọt, qua lỗ này hang lại mở rộng ra như đoạn trước. Bên trong có cột đèn đá. Tương truyền ở đây có 3 cái hang ăn thông với suối. Phía tây núi này có chùa Hưng Phúc.

Núi Hùng Lĩnh

Ở hai xã Đông Liệt và Tú Lãm huyện Đông Thành. Mạch núi từ Đại Hoạch Sơn đổ về, phía bắc có sông Cương, phía nam có sông Lam. Chân núi là vệ Vạn An, nơi có di chỉ lũy cổ của Mai Hắc Đế, nay ở đó vẫn còn miếu thờ. Phía dưới vệ này có chợ, đối diện ở bờ bên kia là cửa quan Lương Tráng, thông ra cửa biển. Đường bộ đường thủy hội lại, đây trở thành nơi đô hội của đất Nghệ An.

Núi Lập Thạch

Ở xã Đặng Điền huyện Chân Lộc. Núi nhô lên giữa bãi cát bằng phẳng, phong cảnh kì thú. Chân núi có hang nhỏ và hẹp, bên trong có hai chữ "Trần triều" không rõ tạc khắc từ thời nào. Núi có khối đá rất giống hình người, gọi là ngọn Tiên Nhân. Mé tây có hồ nước mặn. Ngày trước Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du dựng nhà ở bên hồ, dựa theo vị trí các tảng đá mà đặt ra bệ ngồi câu cá, cửa sổ uống trà, vách thơ, ghế tiên, sập ngồi uống rượu, bàn cờ, nghiên mực, giá bút v.v...

Đền miếu

Đền An Dương vương

Đền trên núi Mộ Dạ xã Tập Phúc huyện Đông Thành. An Dương vương nhờ có nỏ thần lẫy móng rùa thiêng mà phá giặc có được đất nước, đặt kinh đô ở thành Cổ Loa thuộc Bắc Ninh, ở ngôi 15 năm. Về sau vì con rể là Trọng Thủy trộm mất nỏ thần nên bị Triệu Đà đánh bại, bỏ chạy về phương nam, cưỡi con tê vằn 7 tấc xuống biển. Người đời truyền rằng nơi ông xuống biển chính là ở núi Mộ Dạ xã Cao Xá Diễn Châu.

Đền Mai Hắc Đế

Đền ở xã Hương Lam huyện Nam Đường. Vua thân đen mặt sắt, tướng mạo hùng dũng, được dân chúng tôn kính theo về qui phục. Vào niên hiệu Khai Nguyên nhà Đường, Quang Sở Khách  lĩnh chức An Nam Đô hộ, áp dụng chính sách cai trị tham lam tàn ác, dân chúng không chịu đựng nổi. Vì thế vua đi đến đâu dân chúng đều theo về qui phục. Thế rồi vua liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp ở bên ngoài, đánh chiếm lấy châu, xưng Vương, đóng đô ở thành Vạn An. Nhà Đường sai Nội thị Dương Tư Húc sang đánh, quân vua bị thua chạy về núi Hùng Sơn rồi mất, an táng tại phía nam núi này. Dân địa phương lập đền thờ phụng.

Đền Uy Minh nhà Lí

Đền ở núi Quả Sơn xã Bạch Đường huyện Lương Sơn. Vương họ Lí, tên là Nhật Quang, con trai thứ 8 của vua Lí Thái Tông, được phong tước Uy Minh vương, cai quản phủ Nghệ An, được dân chúng tin yêu cảm phục. Bấy giờ Chiêm Thành xin thực hiện nghĩa vụ chức cống với nước ta, được mấy năm thì người bộ lạc nước họ làm phản, nước Chiêm sai người sang ta cầu viện. Vương liền dẫn quân thủy bộ tiến thẳng tới cửa biển Thi Nại. Bộ lạc Chiêm hay tin vội tới quì lạy trước cửa quân ta, thề xin nghe theo mệnh lệnh chúa Chiêm mà không dám còn có tâm địa nào khác. Ông dẫn quân trở về Nghệ An. Người Chiêm tưởng nhớ ân đức của ông, dựng đền thờ ở chân núi Tam Tòa thờ phụng. Về sau ông dời trị sở của châu về xã Bạch Đường. Sau khi ông mất, dân địa phương cũng lập đền thờ ông.

Đền Tứ vị Thánh nương Cần Hải

Đền ở xã Hương Cần huyện Quỳnh Lưu. Vào niên hiệu Tường Hưng đời nhà Tống, quân Tống bị thua trận ở Nhai Sơn. Dương Thái hậu cùng ba vị Công chúa phải nhảy xuống biển tự vẫn. Bỗng gió bão nổi lên cuốn bốn vị trôi đến cửa biển Càn Hải, nhan sắc vẫn tươi như khi còn sống. Dân địa phương bèn lập đền thờ. Về sau vua Trần Anh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, khi thuyền quân đi qua cửa Càn Hải, ban đêm vua mộng thấy thần hiện ra thưa rằng: Thiếp nguyên là cung phi của nhà Triệu Tống, bị quân Nguyên bức hại, rồi nhân sóng gió đưa đến chốn này, từ lâu đã được Thượng đế phong cho làm Hải thần. Nay xin theo trợ giúp Thánh thượng đánh giặc lập công. Thế rồi quân của vua tiến thẳng tới thành Đồ Bàn. Đại thắng trở về, vua sai ban sắc phong gia tặng cho thần, lập đền thờ phụng. Đến thời Hồng Đức triều Lê, vua lại thân chinh dẫn quân đi đánh Chiêm Thành qua đây cũng vào đền cầu khấn, nhờ vậy tiến thẳng vào đất Chiêm đánh bại chúng. Sau khi trở về, vua mệnh cho ghi chép hạng bậc của thần vào điển thờ, xây dựng sửa sang thêm đền miếu. Các triều sau đó đều có phong tặng, triều Nguyễn ta cũng có gia tặng mĩ tự.

Đền Liễu Hạnh Công chúa

Đền ở xã Cao Xá huyện Đông Thành phủ Diễn Châu. Còn có đền thờ nữa ở xã La Hoàng huyện Hưng Nguyên. Sự tích xem ở mục Đền miếu của huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.

Đền thần Cao Vương

Đền ở hai tổng Quan Trung và Thái Xá huyện Đông Thành. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.

Chùa quán

Chùa An Quốc

Chùa trên núi Hùng Sơn thuộc xã Nghĩa Liệt huyện Hưng Nguyên. Đằng sau là núi Tượng Đầu, trước mặt có suối Tiên Châu. Bên sườn núi tuôn ra dòng nước thơm, dân gọi là suối An Quốc. Vào thời Trần, Nguyễn Biểu bị giặc Minh hãm hại đã tử tiết ở nơi đây.

 










Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét