Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục/ VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) / Tỉnh Thanh Hóa- Ninh Bình


TỈNH THANH HÓA

Cổ tích

Thành Nhà Hồ

Thành nằm ở địa phận các ấp Hoa Nhai, Phương Nhai và Tây Nhai huyện Vĩnh Lộc. Thành có 4 cổng ra vào, vốn xưa là các đường phố cổ, nên mới có các tên ấp như thế. Ngày nay vẫn còn lại những viên đá lát đường.

Cung Nhà Hồ

Tại địa phận thôn Trung xã Kim Âu huyện Vĩnh Lộc, Hồ Quí Li xây Li cung ở đây. Đối diện bên trái dựng lầu Chọi gà, bên cạnh cung dựng chùa Phong Công. Ngày nay cung chỉ còn lại vài ba cột trụ bằng đá, 3 cái giếng đá và di tích của tường thành mà thôi.

Lam Kinh Nhà Lê

Ở xã Quảng Thí huyện Thụy Nguyên, phía đông nam núi Lam Sơn. Phía nam là sông Lương Giang, phía bắc là núi. Đây là đất dấy nghiệp của vua Lê Thái Tổ. Đầu niên hiệu Thuận Thiên lấy đất này làm Lam Kinh, xây dựng cung điện. Từ sau khi nhà Lê mất, Lam Kinh bị bỏ đổ nát gần hết, chỉ còn lại nền móng ngày xưa.

Thành cũ Lê Chích

Thành ở xã Chu Xuyết huyện Nông Cống. Tại đây có một tấm bia đá đã bị mờ mòn không thể nhận lại nét chữ. Di tích của thành vẫn còn.

Nhà cũ của Nghĩa Quốc công

Ở xã Tân Qui huyện Tống Sơn. Ông là người trang Gia Miêu Ngoại, có công phò lập vua Lê Tương Dực, được phong Nghĩa Quốc công , dời nhà đến ở đây. Vua Lê Tương Dực có ban cho ông bài thơ ngự chế khắc bào bia, nay vẫn còn.

Hồ Thuyền Đồng

Hồ ở huyện Yên Định. Tương truyền ở huyện Quân Ninh Giao Châu có hồ Thuyền Đồng, cách Hợp Phố 40 dặm. Vào những ngày trời âm u, người ta thường thấy có thuyền bằng đồng trôi nổi trên mặt nước. Lại có con trâu hiện lên trong hồ. Biện lễ gà rượu đến tế thì đánh được nhiều cá, còn nếu không tế lễ thì chỉ vớt được phân trâu mà thôi. Ngày nay không rõ vị trí hồ này nằm ở đâu.

Động Từ Thức

Động ở xã Trị Nội huyện Nga Sơn, ngày xưa gọi là động Bích Đào. Động rất thoáng và rộng, cỏ cây xanh tốt. Tương truyền Từ Thức là người đời Trần, làm quan Tri huyện huyện Tiên Du, bỏ quan đi tu đạo, lên núi hái thuốc, gặp tiên nữ Giáng Huơng ở đây bèn lấy làm vợ. Bên động có ngôi đền thờ Bích Động Linh tiên. Hang bên trong rất sâu và tối, đi vào phải liên tiếp thay đuốc nhiều lần, nhưng xưa nay cũng chưa có ai đi được tận cùng tới đáy. Trong động thạch nhũ rủ xuống tạo thành hình dáng quả chuông cái trống, gõ vào phát ra âm thanh, lại chỗ này như hình bầu rượu, bức màn trướng, chiếc lọng che, chỗ kia giống hình viên thuốc, đống thóc, củ khoai sọ, đống muối, ao bèo, lại có các hòn đá bày ra như bàn cờ với quân cờ, kì quái muôn hình vạn trạng, thực đúng là dấu tích thần tiên, cảnh trí thì đẹp đẽ vô cùng.

Động Hồ Công

Động ở phía bắc núi Xuân Đài huyện Vĩnh Lộc. Khe động trên ngọn núi phía nam, có tảng đá hình con cóc nằm. Trong động có thạch nhũ màu đỏ, hang đá quanh co kéo dài hơn nghìn trượng, người có thể đi lại bên trong. Chỗ tận cùng có cái giếng đá sâu không biết đâu là đáy. Trong động còn có hai pho tượng đá, tương truyền là tượng của Hồ Công và Phí Trường Phòng.

Núi

Núi Triệu Tường

Núi nằm trên địa phận các trang Đông Bình, Khắc Ninh, Quảng Phúc thuộc quí hương  huyện Tống Sơn. Lăng Trường Nguyên của triều ta đặt tại đây. Mạch núi chạy từ huyện Thạch Thành kéo về, có 12 ngọn nối tiếp nhau, cây cỏ tốt tươi, trông như tấm gấm thêu. Phía đông bắc núi này có núi Tam Điệp, núi Thần Phù uốn lượn ở bên trái; phía tây là núi Xuân Sơn, núi Điều Doanh; chuyển qua phía nam có rú Trạch Nam, tức là núi Trang Chư quanh co ở bên phải; phía nam có sông Tống Giang ôm vòng trước mặt. Núi vốn gọi là núi Thiên Tôn, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) mới được phong tên Triệu Tường ngày nay.

Núi Thần Đầu

Còn có tên gọi là núi Thần Phù hoặc Hiệp Sơn, nằm ở huyện Nga Sơn. Mạch núi chạy từ núi Tam Điệp, qua núi Cẩm Đái, Phú Dương đổ xuống, giữa chừng có dòng sông nhỏ xẻ ngọn núi thành hai dải, dải phía nam chính là núi này. Còn dải phía bắc từ trang Mĩ Quan nối đến xã Trị Nội, nơi có chùa Bạch Ác và động Từ Thức rồi gặp biển thì dừng lại. Đá núi tranh hùng với sóng nước, phong cảnh kì vĩ rất ngoạn mục.

Núi Cốc Sơn

Núi ở xã Phú Ổ huyện Quảng Xương. Núi từ huyện An Lạc tỉnh Ninh Bình đổ sang, cao vài trăm trượng. Suối đổ xuống chân núi tạo thành ao sen. Đỉnh núi có ngôi đền, đá ngoài cửa đền phải lách người mới vào được.

Núi Vân Lỗi

Núi ở xã Thạch Giản phía nam huyện Nga Sơn. Núi từ xã Kim Âu huyện Vĩnh Lộc kéo xuống đến đây nổi lên một ngọn cao, phía đông sát với đầm Bạch Câu. Trong núi có động, cảnh trí tịnh mịch, ngày xưa gọi là đông Thúy Vân, có bia ghi chép, nay vẫn còn.

Núi Linh Trưởng

Núi ở hai xã Kim Xuyết và Ngọc Lâm phía bắc huyện Hoằng Hóa. Núi bắt đầu từ phía nam ngọn núi Bích Giang, trập trùng 7 ngọn liên tiếp men dọc theo dòng sông kéo dài ra biển. Có một mỏm đá từ dưới vươn lên như muốn vượt lên mặt nước. Giữa muôn trùng sóng nổi lên mấy ngọn núi con, đó là núi Da Sơn (Núi Dừa), núi Mũi Hài, núi Bò Mẹ Bò Con của huyện Hậu Lộc. Trên húi có đền thờ Nam Hải Tứ vị Thánh nương. Ngày trước có người lên núi du ngoạn đã khắc vào đá hai chữ "Tiên Châu", chữ nay vẫn còn.

Núi Cô Sơn

Núi ở xã Bản Thuye huyện Vĩnh Lộc. Núi từ dãy Hùng Lĩnh đổ về, đến đây nổi lên ngọn núi đất. Ngày trước có hòn đá tròn hình sư tử hí cầu. Lại có các ngọn núi xếp thành nhị thập bát tú ở bên trái, trong đó ngọn ở giữa gọi là Hoàng Phong, vách đá dựng đứng, trên có khắc 8 chữ lớn "Thanh Tri Điền Trí Thanh Trí Điền Tri", chữ cao khoảng 1 trượng, không trèo lên được, không rõ chữ khắc vào thời nào, cũng không đoán được ý nghĩa nói gì. Lại còn một ngọn núi đất nổi lên giữa đồng bằng, hình khum tựa ngôi nhà chỉ có một cửa. Tương truyền núi này thường tìm thấy nhiều long cốt.

Núi Kim Sơn

Còn có tên gọi là núi Biện Lĩnh. Mạn đông dọc theo sông Mã kéo xuống, gồm 19 ngọn núi, từ xa trông tới, chỗ thì giống như tán lọng, cờ quạt, chỗ thì nom tựa voi đá, bức màn, bức tranh, màu sắc biến đổi tùy theo từng lúc trời râm hay nằng, buổi sáng hay chiều. Trong có 2 cái động, một gọi là động Tiên Phàn, một gọi là động Ngọc Long, trong động có nhũ đá. Một ngọn ở phía nam gọi là Mai Sơn, có nhiều trúc, sườn núi có ao liên trì rộng hàng mấy mẫu, bốn mùa nước trong xanh. Ngọn phía đông là Cốc Sơn, cao khoảng 30 trượng, chân núi có vòm đá, trong có đầm sâu, bên trên có động, gọi là động Kim Sơn có thể chứa được vài trăm người. Vòm có 2 cửa, thiên nhiên sắp đặt một cây gỗ to không cần chằng buộc mà rất vững chãi, tục gọi là Tiên Kiều. Lại một vòm hang khác ăn thông sang quả núi bên trái. Có tấm bia khắc 3 chữ lớn "Trú Quân sơn" (núi Trú Quân), nay vẫn còn.

Đền miếu

Miếu Triệu Việt vương

Miếu ở xã Trinh Hà huyện Mĩ Hóa, nơi từng đặt trướng phủ khi hành quân của Triệu Việt vương. Sự tích xem ở phần tỉnh Hà Nội. Nhiều tỉnh hạt ở Bắc Kì có lập đền thờ ông.

Miếu Lê Đại Hành Hoàng đế

Miếu ở xã Trung Lập huyện Thụy Nguyên. Xã này là nơi có gia sản cơ nghiệp từ đời trước của vua Lê Đại Hành. Có thuyết nói đây là nhà ở cũ của vua, về sau nhân lấy đó lập thành đền thờ, nơi đó nay vẫn còn bia ghi chép. Nhiều tỉnh hạt ở Bắc Kì cũng có đền thờ ông.

Miếu các vua Lê

Tên cũ gọi là lăng Hoằng Đức, tại thôn Kiều Đại xã Bố Vệ huyện Đông Sơn. Vốn xưa lăng ở xã Quảng Thí Lam Sơn, đến năm Gia Long thứ 4 (1805) triều ta mới di dời về xây dựng tại đây. Đền thờ chung 24 vị vua, 28 vị Hoàng hậu đời Lê, được cấp 140 suất phu trông nom, mỗi năm cấp 3000 quan tiền để thờ phụng. Các tỉnh hạt khác về phía Bắc cũng có đền lập ra để thờ phụng.

Đền Quang Thục Thái hậu triều Lê

Đền ở xã Đồng Bàng huyện Yên Định. Thái hậu l;à người xã này, họ Ngô, sinh ra vua Lê Thánh Tông. Về sau bà được suy tôn là Quang Thục Thái hậu, xây dựng nhà Phúc Quang đường. Dân xã dùng tòa từ đường này để thờ bà.

Đền Sùng Trân

Đền ở núi Cổ Đam, Phú Dương thuộc huyện Tống Sơn, thờ Liễu Hạnh Công chúa. Sự tích xem phần tỉnh Nam Định.

Đền thần Đồng Cổ

Đền trên núi Đồng Cổ thuộc xã Đan Nê huyện Yên Định. Trên núi có quán Triều Thiên. Tương truyền khi vua Lê Đại Hành đi đánh Chiêm Thành đóng quân ở chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy người thần hiện ra xin được đem trống đồng dùi đồng đi theo vua trợ chiến. Vua ưng thuận. Đến khi lâm trận đối địch với quân Chiêm, văng vẳng nghe thấy tiếng trống thúc trận vang rền. Trận ấy quả nhiên đánh thắng giặc. Vua trở về truyền đổi tên núi là núi Đồng Cổ, ban sắc phong tặng cho thần. Các vua triều sau đó từ Lí Thái Tông, Lê Thái Tổ, Lê Hồng Đức, Lê Cảnh Hưng mỗi khi chinh chiến đi qua đây đều được thần hiển linh phù trợ, nên từ đời Lí đến đời Lê liên tiếp ban sắc gia phong, tặng phong cho thần. Triều ta cũng có gia phong. Tương truyền trong đền có chiếc trống đồng không rõ làm từ thời nào, nặng khoảng trăm cân, đường kính đai trống 2 thước 1 tấc, cao 1 thước 5 tấc, trống chế tạo rỗng trong, không đáy, mặt trống có 9 gờ tròn, thành bên có khắc chữ kiểu hình nòng nọc, năm tháng đã mờ mòn không đọc ra được, một góc hơi bị khuyết. Hồi Tây Sơn đánh đến đây lấy đem đi, nhưng sau đó một người ở huyện Hậu Lộc lại tìm thấy ở bến sông rước về đền thờ. Trống ấy nay vẫn còn.

Đền thần Đổng Thiên vương

Đền ở xã Trịnh Điện huyện Yên Định. Thần người làng Phù Đổng thuộc Cổ Ninh. Sự tích xem ở phần tỉnh Nghệ An.

Đền Tản Viên sơn thần

Đền ở xã Quan Phác huyện Cẩm Thủy. Sự tích xem ở phần tỉnh Sơn Tây.

Đền Triệu Ẩu

Đền ở huyện Yên Định. Thần là con gái của Triệu Việt Vương, có sức khỏe dũng mãnh, giỏi võ nghệ. Đến tuổi cập kê, có người muốn hỏi làm vợ, bà than rằng: Nom chỗ nào cũng thấy đầy rẫy bọn con trai khỏe mạnh mà lại cam chịu sự ràng buộc của người phương Bắc, ta biết lấy kẻ nào đây! Thế rồi không chịu lấy chồng. Vào niên hiệu Xích Điểu nhà Ngô, quan lại trong quận tham lam tàn ác khiến dân lành không sao sống nổi. Bà nổi dậy tập hợp dân chúng trên núi Bồ Điền tiến đánh xuống các quận huyện. Bà thường cưỡi trên lưng voi trắng hô hào đốc chiến khiến giặc thua tơi bời. Bà hùng cứ cả vùng Cửu Chân. Về sau bị Thứ sử Lục Dận đánh bại, mất rồi hóa thành thần. Các triều vua đời sau nhiều lần ban sắc phong tặng.

Đền Khương Công Phụ

Đền ở thôn Cẩm Cầu huyện Yên Định. Ông đỗ Tiến sĩ thời Đức Tông nhà Đường, làm quan chức Trung thư Môn hạ Bình chương sự. Đến thời Thuận Tông đổi làm Thứ sử Thanh Châu. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư. Người đời truyền nhau rằng quê tổ của ông ở huyện Hoằng Hóa. Đến thời Lê Cảnh Hưng, Hải Quận công Phạm Đình Trọng đem sự việc tâu lên triều đình, phong cho ông là Thượng đẳng thần và dựng đền thờ tại đây để biểu dương bậc hiền nhân danh tiếng.

Đến Chiểu Bạch Sơn thấn

Đền ở thôn Bình Lâm huyện Nga Sơn. Ông  người huyện Hoằng Hóa, thời trai trẻ khỏe mạnh dũng cảm, được Lí Thái tôn phong cho làm Vũ vệ Tướng quân. Khi vua Thái Tông lên ngôi, ba vị Vương câu kết nhau gây biến loạn, ông đem quân dẹp yên, được thăng Đô thống Thượng tướng quân, đi đánh giặc Chiêm Thành lập công. Sau khi mất được tặng phong là phúc thần.

Đền Thái úy đời Lí

Đền ở xã Ngọ Xá huyện Vĩnh Lộc. Ông tên là Lí Thường Kiệt, làn quan dưới triều Lí Thánh Tông, thường đi kinh lược vùng Thanh Hóa, Nghệ An, có nhiều công đức với dân. Sau khi ông mất, dân chúng tưởng nhớ công ơn của ông lập đền thờ phụng.

Đền Thần Tham Xung

Đền ở xã Biện Thượng huyện Cẩm Thủy. Tương truyền thần là người huyện Nông Cống, có tài lược dẹp loạn. Vào niên hiệu Đại Nghiệp nhà Tùy, ông làm tướng đi đánh giặc, vào trận ông bị dao lưỡi dao chém đầu gần lìa khỏi cổ, nhưng vẫn cưỡi ngựa chạy về đến bờ sông thôn Cổ Định rồi mới ngã ngựa mà chết, được dân xã ấy lập đền thờ phụng.

Đền Phòng Ngự sứ

Đền ở huyện Đông Sơn, do dân 4 xã Thọ Sơn, Triệu Xá, Triệu Thiền và Hàm Hạ cùng thờ phụng. Ông tên là Thiều Thốn, làm quan Phòmg Ngự sứ Lạng Sơn dưới triều Trần Dụ Tông, có tài phủ dụ binh sĩ. Sau khi ông mất được dân thôn lập đền thờ phụng.

Đền Trần Tướng quân

Đền ở xã Phương Vệ huyện Vĩnh Lộc. Thần tên là Trần Khát Chân, là Thượng Tướng quân đời Trần. Khi Hồ Quí Li khởi loạn, ông và Thái bảo họ Trần , họ Nguyễn  cùng mưu trừ gian nhưng không thành, bị chúng sát hại. Người đời sau tưởng nhớ ân đức lập đền thờ phụng.

Đền Tô Thái úy

Ở các huyện thuộc 3 phủ Hà Trung, Thiệu Hóa và Tĩnh Gia đều có đền thờ. Thần tên là Tô Hiến Thành, làm quan Thiếu phó dưới triều Thiệu Minh nhà Lí. Ông từng có công bắt kẻ tiếm nghịch hiệu là Thân Lợi ; đánh dẹp nước phiên trái mệnh là Ngưu Hống, Ai Lao . Về sau làm Đô tướng, chỉ huy quân sĩ đi tuần đường biển giứ yên biên cương. Niên hiệu Bảo Ứng có công đánh Chiên Thành , được thăng Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự. Ông nhận di chiếu của vua phò ấu chúa, hết dạ trung thành. Ông làm quan đến chức Thái úy, trở thành nhân vật hàng đầu của triều Lí , được tôn hiệu là "Tô đại liêu". Sau khi ông mất, phàm những nơi nào từng được ông trải qua lúc sinh thời đều dựng đền thờ ông.

Đền Thần Uy Minh

Hai xã Du Độ và Đồng Loan thuộc huyện Ngọc Sơn mỗi xã đều có một ngôi đền thờ. Thần là con trai thứ 8 của vua Lí Thái Tổ, được phong tước Uy Minh hầu, từng được cử ra trông coi trấn Nghệ An, có nhiều công trạng, được truy phong tước Vương, nhận tiết việt. Ông có nhiều chính tích ân huệ cho dân, nên sau khi mất được nhân dân tưởng nhớ công đức lập đền thờ phụng.

Đền Chiêu Văn

Đền ở xã Văn Trinh huyện Ngọc Sơn. Thần là Hoàng tử thứ 6 của vua Trần Thái Tông, tự là Nhật Duật, được phong là Chiêu Văn vương, làm tướng phò tá trải 4 triều vua, hai lần được cử đi coi giữ trọng trấn. Đến đâu ông cũng thi hành chính sách tốt đẹp. Sau khi ông mất được nhân dân tưởng nhớ công đức lập đền thờ phụng.

Đền Thần Ngu Uyên

Đền ở xã Yên Thành huyện Hoằng Hóa.Tương truyền hồi Lí Thái Tông thân chinh đánh dẹp dân man miền núi Ái Châu, chiến thuyền theo đường biển qua cảng mà vào, nhưng nước quá nông nên không đi được. Vua ngầm khấn thần linh, chỉ một lát có một con cá lớn ngảy vọt ngay trước mũi thuyền, nước lập tức dâng cao. Vua lấy làm kinh dị, phong cho thần là thần Tam Kì Ngu Giang, rồi lập đền thờ phụng.

Đền Trịnh Thái úy

Đền ở xã Kim Bôi huyện Hậu Lộc. Thần tên là Trịnh Khả, theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa, trải mấy chục chiến trận có nhiều công lao to lớn. Vào niên hiệu Thuận Thiên được phong Thượng Tướng quân. Thời Thái Hòa, quân Chiêm Thành sang lấn chiếm, ông đi đánh dẹp được giặc, được thăng Thái úy Quân quốc trọng sự. Sau khi mất được truy tặng Hiển Khánh vương, dựng đền thờ phụng.

Đền Lương Thượng thư

Đền ở xã Vãn Hà huyện Thụy Nguyên. Ông đỗ Tiến sĩ đời Cảnh Trị, làm quan Thượng thư bộ Binh. Ông thi hành chính sách nhân hậu khoan dung, khiến dân chúng được nhờ. Sau khi mất được tặng tước Quận công. Dân địa phương dựng đền thờ phụng.

Đền Hiển Từ Hoàng Thái hậu đời Lê

Đền ở xã Thủy Chú huyện Lôi Dương. Hậu là người bản thôn, sinh ra vua Lê Thái Tổ. Sau khi Thái Tổ thu phục được đất nước cho dựng đền tại làng để thờ phụng.

Đền Cung Từ Hoàng Thái hậu đời Lê

Gọi là đền Hiển Nhân, ở xã Thịnh Mĩ. Bà là Hoàng hậu của vua Lê Thái Tổ, mẹ sinh ra Lê Thái Tông.

Đền thần Đông Hải họ Đoàn

Đền ở xã Đồng Đội huyện Ngọc Sơn. Thần họ Đoàn, tên Thượng. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.

Lăng

Lăng Trường Nguyên

Lăng ở núi Triệu Tường huyện Tống Sơn tỉnh Thanh Hóa, là lăng hợp táng của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế  và Tĩnh Hoàng hậu. Năm Gia Long thứ 7 (1808) kính dâng tên lăng. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) xây nhà bia. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) xây nền vuông phía trước lăng, hướng về phía đông. Nền xây bằng gạch, cao 2 thước 3 tấc 5 phân, bốn cạnh trước sau phải trái đều dài 2 trượng 1 thước. Xung quanh xây tường cao 2 thước 9 tấc, tường trước và sau đều dài 3 trượng 3 thước 6 tấc 5 phân, tường phải và trái đều dài 3 trượng 7 thước. Có 3 cổng mở ra ở mặt trước và hai bên tả hữu, tại bốn góc dựng 10 cột trụ đá. Bên phải có 2 nhà bia, mỗi nhà đều 1 gian lợp ngói phẳng. Một nhà dựng tấm bia khắc bài kí ngự chế của vua Thánh Tổ Nhân Hoàng đế, nhà kia dựng tấm bia khắc bài thơ ngự chế của vua Hiến Tổ Chương Hoàng đế.

Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ

Lăng tại xã Lam Sơn huyện Thụy Nguyên. Trong lăng hiện còn bi kí. (Các lăng dưới đây cũng đều có bia).

Hựu Lăng của Lê Thái Tông

Chiêu Lăng của Lê Thánh Tông

Dụ Lăng của Lê Hiến Tông

Kính Lăng của Lê Túc Tông

Lăng Phúc Lộc của Lê Gia Tông

Lăng ở xã Phúc Lộc.

Lăng Bình Ngô của Lê Thuần Tông

Lăng ở xã Bình Ngô.

Lăng Phù Nguyên của Lê Hiến Tông

Lăng ở xã Phù Nguyên.

Lăng Thúy Hoa của Lê Anh Tông

Lăng ở xã Trạc Xá huyện Đông Sơn. Nay vẫn còn bia.

Lăng Hoa Man của Lê Kính Tông

Lăng ở xã Trạc Xá huyện Đông Sơn.

Lăng Hoa Phố của Lê Chân Tông

Lăng ở xã Phú Cốc huyện Đông Sơn.

Lăng Phúc Lâm của Lê Hi Tông

Lăng ở thôn Phú Lâm.

Lăng Diễn Phúc của vua Lê

Lăng ở xã Thọ Hạc. Không rõ vị hiệu của vua.

Lăng vua Lê Thần Tông

Lăng ở thôn Bái Trạch xã Bàn Thạch huyện Lôi Dương.

Lăng vua Lê Huyền Tông

Lăng ở thôn Quả Nhuệ Thượng huyện Lôi Dương. Có đền thờ.

Lăng vua Lê Hiển Tông

Lăng ở xã Bàn Thạch huyện Lôi Dương.

Lăng vua Lê Chiêu Thống

Lăng ở xã Bàn Thạch huyện Lôi Dương.

Lăng Bạch Nguyệt của Ý Đức Thái hậu triều Lê

Lăng ở xã Tịnh Xá huyện Đông Sơn.

Lăng vua Lê Ý Tông

Lăng ở xã Phù Nguyên huyện Đông Sơn.

Lăng vua Lê Tuyên Tổ

Lăng ở xã Như Áng huyện Lương Sơn.

Chùa quán

Chùa Lục Vân

Chùa trên núi Thần Phù thuộc trang Chính Đại huyện Tống Sơn. Núi đá ở đây dựng đứng, ở giữa có động Lục Vân, nhân lấy động này làm thành chùa. Phía đông vạt đá thành bia khắc 4 chữ "Thần Xích Sơn bi". Một dòng sông nhỏ chảy qua phía trước, cạnh đó là hang thông lên trời. Trong hang có 2 tảng đá, một tảng giống hình rồng, một tảng tựa hình hổ, người đời truyền nhau rằng đó là "Long hổ tranh quang" (Rồng hổ đua nhau vẻ đẹp). Phong cảnh nơi đây tuyệt đẹp, nên các đời đều có thơ đề vịnh khắc trên đá, vẫn còn lưu lại đến ngày nay.

Chùa Nguyên Hải

Chùa ở huyện Tống Sơn, do Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế triều ta xây dựng. Năm Quang Hưng thứ 20 (1597) trùng tu chùa, dựng bia khắc bài văn bia do Thông Quận công Đỗ Chú soạn.

Chùa Hồng Mông

Chùa ở xã Kim Âu huyện Vĩnh Lộc. Chùa nằm trên sườn núi, từ xa nhìn thấy cao chót vót. Bên dưới là đường cái quan, tấp nập người đi du ngoạn vãn cảnh.

Chùa Kim Âu

Chùa ở xã Kim Âu huyện Vĩnh Lộc. Phía nam quả núi là cung cũ của nhà Hồ. Trong thành có chùa. Bên trái chùa là cung Bao Tiêu, nơi ở của vua Thuận Tông hồi cuối đời Trần.

Chùa Du Anh

Dưới chân núi Xuân Đài ở xã Thiên Thành huyện Vĩnh Lộc có ngôi chùa cổ. Chùa được trùng tu vào năm Hoằng Định thứ 6 (1605), Thái tể Phùng Khắc Khoan soạn bài văn bia, nay vẫn còn. Hai bên nách chùa có hồ Nhật và hồ Nguyệt, phía sau vách đá dựng bình phong, trước mặt đỉnh núi cao chót vót. Đây vốn là một thắng cảnh nổi tiếng.

Chùa Linh Xứng

Chùa ở phía nam núi Ngưỡng Sơn thuộc xã Hoàng Ngưu huyện Vĩnh Lộc. Vào niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ đời Lí, Thái úy Lí Thường Kiệt khi vào kinh lược các xứ Nghệ An đã cho xây dựng chùa này ở đây. Chùa có bia và tháp, nay vẫn còn.

Chùa Thái Bình

Chùa ở xã Bằng Trình huyện Thụy Nguyên. Trước chùa nhìn xuống dòng sông Lương Giang. Giữa lòng sông đá nổi lên nhấp nhô. Sau chùa có động đá, miệng hang ăn xuyên qua núi hai bên đông tây ăn thông với nhau, thực là sự khéo bày đặt của thiên nhiên. Chùa do Thiền sư Như Ngọ sáng lập vào thời Chính Hòa nhà Lê. Bên chùa có am đá, tháp đá và những tấm bia khắc vào các triều đại, nay vẫn còn.

Chùa Đại Hùng

Chùa ở núi Bàn A thuộc xã Đại Khánh huyện Đông Sơn. Chùa lấy bờ đá làm vách, trên đó tạc một pho tượng lớn chỉ thấy một nửa kim thân Đức Phật, không rõ có từ thời nào. Trước cửa chùa có một tấm bia đá tạc vào niên hiệu Quang Thuận nhà Lê và một bài thơ, nay vẫn còn.

Chùa Tiên Sơn

Chùa dựng trên một mỏm vách đá chân núi Khế Sơn thuộc thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn, Chùa dựng ăn vào vách đá, cao chỉ 4 thước, rộng không quá 1 trượng, bên trong có tượng Phật, đều do đá đẽo thành. Sườn núi phía bắc chùa có một khe đá nứt ra thành hang rộng đến 5, 6 thước, dài 2 trượng, được xây thành 2 cửa. Trên vách đá khắc tượng truyền thần của Quan Đế, bên cạnh là Chu Thương và 5 tượng khác ở hai bên. Một đầu tòa khắc hai chữ "Nghiễm nhiên" theo lối chữ triện. Hái phía bức tường có đủ cả người đá, voi đá, ngựa đá. Trên vách núi cao khắc chìm 4 chữ "Thiên cổ vĩ nhân" và một chữ "Thần" khắc nổi, cỡ chữ to đến hơn một thước. Trên vòm đá ở bên trái có lỗ đục, xuyên dây xích sắt qua để treo quả chuông. Chùa do người làng là ông Lê Đình Truyền xây dựng vào năm Hoằng Định thứ 10 (1609), đến cuối đời Cảnh Hưng, quan Trấn thủ Thanh Hóa Nguyễn Trung Nghĩa tiến hành trùng tu, có bài văn khắc trên vách đá, nay vẫn còn.

Chùa Quỉ

Ở phía nam xã Đồng Hòa huyện Ngọc Sơn có một dòng nước, giữa dòng nhô lên một đống đá. Bên sườn một vách đá nổi lên thành bức tượng đá. Dân chúng nhân đó lập thành chùa, gọi là Chùa Quỉ.

Chùa Trạch Lâm

Chùa ở xã Trạch Lâm huyện Tống Sơn, do công chúa Ngọc Tú triều Nguyễn tạo dựng, về sau được Tổng đốc Tôn Thất Tĩnh trùng tu. Lần trùng tu trước là của cựu Tổng đốc Tôn thất Dao, bia chùa rêu phong khiến chữ mòn mờ không nhận rõ năm tháng, chỉ còn lại tượng của Công chúa mà thôi.

Chùa Thanh Thọ

Chùa ở Cửa đông tỉnh thành Thanh Hóa. Bên chùa là miếu thở Quan Công. Chùa được Thự Tổng đốc Tôn Thất Dao trùng tu vào thời Tự Đức.

 

TỈNH NINH BÌNH

Cổ tích

Cố đô thời Đinh - Lê

Ở hai xã Trường An Nội, Trường An Ngoại phía tây huyện Gia Viễn. Kinh đô cổ có thành nội và thành ngoại, có cổng đá, cửa cống đá, và nhiều di chỉ cũ hiện còn những tên gọi cầu Đông, cầu Giền, Tràng Tiền (bãi đúc tiền), chùa Tháp, chùa Nhất Trụ (Một Cột). Sau này khi Lí Thái Tổ dời đô về Thăng Long vẫn dùng lại các tên gọi địa danh đó.

Thành cũ Nhà Hồ

Thành ở xã Quảng Công huyện Yên Mô, là di chỉ cũ của Hồ Quí Li, nay vẫn còn.

Thành Cổ Lộng

Thành ở huyện Gia Viễn, chỗ giáp giới với huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nội, đắp dựng vào đời Vĩnh Lạc nhà Minh. Hồi trước vua Trần Giản Định đế đánh quân Minh ở Bồ Cô, khiến Mộc Thạnh phải bỏ chạy vào thành này. Di chỉ hiện vẫn còn.

Trấn cổ Vân Sàng

Nay ở về phía đông bắc tỉnh lị Ninh Bình, thời Lê là trị sở của Thanh Hóa Ngoại trấn. Có thuyết lại nói trấn cổ ở xã Thiện Trạo. Thiện Trạo vốn là tên gọi đơn vị thủy quân của triều nhà Đinh, vì thế lấy làm tên xã. Thủy đồn đặt tại hai xã Trầm Hương và Bích Đào, Về sau đổi làm trị sở của trấn, rồi lại đổi làm trị sở huyện Yên Khánh.

Sơn doanh Ngọc Lâu

Ở huyện Lạc Yên, do Lê Duy Mật dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741).

Kho cổ núi Dục Thúy

Năm Quí tị niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34 (1773) đời Lê, Kiều Nhạc hầu Nguyễn Lệ giữ chức Trường An Đồn điền sứ, mộ dân phu khai thác đồn điền, chở lương thực xây kho tàng cất trữ ở đây.

Tháp cổ núi Dục Thúy

Tháp ở xã Đại Đăng huyện Yên Khánh, dựng vào niên hiệu Quảng Hựu đời Lí, sau đó bị bỏ hoang phế. Đến khoảng niên hiệu Khai Hựu, Thiệu Phong đời nhà Trần vị sơn tăng là Trí Nhu tiến hành ttrùng tu, đặt tên là tháp Linh Tế. Trương Hán Siêu có viết bài kí khắc vào đá, nay vẫn còn.

Vườn Long Viên

Vườn ở xã Đề Cốc, nhà của người mẹ thân sinh và là nơi ở lúc chưa lên ngôi của Đinh Tiên Hoàng, di chỉ nay vẫn còn. Phía trước vườn là dòng sông, có cầu Ngự Kiều, Phanh Kiều. Bên trái vườn có gò đất bằng phẳng, là nơi vua hồi nhỏ phất cờ bông lau tập trận.

Bến đò Mô

Ở xã Yên Mô huyện Yên Mô. Sử nhà Trần chép vua Giản Định Đế lên ngôi tại bến đò Mô thuộc châu Trường An, chính là chỗ này. Bến cũ nay đã bị cát lấp thành đồng ruộng.

Cảng Lẫm

Tức sông Thần Phù. Hồ Quí Li tránh quân Minh ra ở tại xã Quảng Công phía tây dòng sông, rồi chở đá lấp sông để ngăn chặn thuyền quân Minh. Ngày nay hai bên bờ sông cũng như dưới đáy sông vẫn còn di tích những tảng đá chất đống.

Đền miếu

Miếu Đinh Tiên Hoàng

Miếu ở chân núi Triều Sơn thuộc xã Trường An Thượng huyện Gia Viễn.

Miếu Lê Đại Hành Hoàng đế

Miếu ở chân núi Đại Vân thuộc xã Trường An Hạ huỵện Gia Viễn.

Miếu Trần Văn Tông

Ở hai địa phương là tổng Vũ Lâm huyện Yên Khánh và xã Trường Khê huyện Yên Mô đều có đền thờ.

Miếu Trần Giản Định, Miếu Trần Trùng Quang

Do thôn La Phù xã Bồ Châu huyện Yên Mô thờ phụng. Tương truyền lăng tẩm của hai vị cũng ở tại thôn này.

Miếu Triệu Việt Vương

Các địa phương thuộc huyện Yên Khánh, Tiên Hưng , Yên Mô đều có miếu thờ.

Đền Áp Lãng Chân nhân

Đền ở thôn Nhân Phẩm huyện Yên Mô. Dân cả tổng cùng thờ chung đền này. Thân họ La, tên Viện, tu hành đắc đạo từ khi còn trẻ. Khi vua Hùng Vương đi đánh giặc phương nam đi qua cửa biển gặp sóng gió ngăn trở suốt hơn một tháng ròng. Vua thực hành trai giới rồi sai Viện ngồi thuyền đi phía trước, đi đến đâu sóng yên đến đấy, nhờ vậy thuyền của vua mới đi được thuận lợi. Trở về giữa đường thì Viện qua đời. Vua xuống chiếu phong cho là Áp Lãng Chân nhân, dựng đền thờ ở phía nam cửa biển Thần Phù.

Đền Cao Sơn Đại vương

Đền ở huyện Phụng Hóa. Thần là một trong 50 người con theo mẹ lên núi của Lạc Long Quân. Vào thời Lê, quân triều đình theo đường thượng đạo đi qua chỗ này, thấy địa hình núi gò san sát trải trên một vùng rộng, có một đầm nước gọi là Lâm Uyên nước trong tĩnh lặng, ở đó thấy một ngôi đền, bên trong có một phiến đá khắc đề chữ "Cao Sơn Đại vương". Quan quân vào đền cầu khấn, thế rồi trận ấy quét sạch được quân giặc. Sau khi trở về đem sự việc tâu lên xin lập đền thờ phụng để biểu dương công đức của thần. Năm Hồng Đức thứ 2 (1471) triều đình sai soạn khắc bài văn bia.

Đền Trần Thái sư

Đền ở xã Trà Tu huyện Yên Mô, thờ người con trai thứ 6 của vua Trần Thái Tông tên là Nhật Duật rất giỏi trận mạc, từng mấy lần tham gia đánh bại quân Nguyên, được phong là Tá Thánh Thái sư Chiêu Văn vương.

Đền Trương Hán Siêu

Đền ở thôn Phúc Am huyện Yên Mô. Thần là Trương Hán Siêu, từng phụng sự 4 triều vua Trần là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông, làm quan đến chức Tả Gián nghị Đại phu, Tham tri chính sự. Hồi chúa Chiêm Thành làm phản, ông chỉ huy các đạo quân Thần Sách ra trấn giữ Mục Châu. Sau khi mất được tặng Thái phó.

Đền Lương Quận công

Đền ở xã Đàm Khánh huyện Yên Mô. Thần tên là Nguyễn Thể. Hồi nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê, nghe tin Triệu Tổ Hoàng đế triều ta dấy quân ở Thanh Hóa, ông là người đầu tiên đi theo phục vụ, lập được nhiều công lớn, giữ chức Đô đốc Lương Quận công. Đến hồi Phạm Hãng gây loạn, ông chỉ huy quân dân địa phương đánh dẹp được, trở thành một vị Trung hưng công thần của nhà Lê. Sau khi ông mất được phong làm phúc thần. Dân địa phương lập đền thờ phụng.

Đền thần An Quốc

Đền ở xã Đa giá huyện Gia Viễn, thờ vị thiên thần. Trên ngọn núi nhỏ ở phía sau đền có động, có tượng của thần đứng ở cửa động, tay cầm bảo kiếm, chân đạp lên rùa rắn. Dân cả tổng cùng thờ chung ở đền này.

Đền thần Đại Càn Nam Hải Tứ vị Thánh nương

Đền ở thôn Càn huyện Yên Mô. Sự tích xem ở phần tỉnh Nghệ An.

Đền Liễu Hạnh Công chúa

Đền ở xã Nhân Lí huyện Yên Mô. Sự tích xem ở phần tỉnh Nam Định.

Lăng mộ

Lăng Đinh Tiên Hoàng

Lăng trên đỉnh núi Mã Yên xã Trường [An] Thượng huyện Gia Viễn. Vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1841) triều ta tiến hành xây dựng tu sửa và dựng bia.

Lăng Lê Đại Hành Hoàng đế

Lăng ở chân núi phía bắc núi Hoàn Ỷ xã Trường An Hạ huyện Gia Viễn. Vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1841) triều ta tiến hành xây dựng tu sửa và dựng bia.

Chùa quán

Chùa Động Sơn

Chùa nằm trên chân núi phía tây núi Động Sơn, ở bên trong tỉnh thành. Nhân vách núi mà dựng thành chùa, có tượng Tam thế Phật tạc khắc trên vách chùa.

Chùa cổ Linh Quang

Chùa trên núi Động Sơn. Động ở đây rộng rãi có thể trải chiếu ngồi. Trước chùa có cổng tam quan, bên ngoài lại có cửa bán nguyệt trông xuống dòng sông Tam Kì. Chùa nay đã bị phế bỏ.

Chùa Sơn Thủy

Chùa ở chân núi phía bắc núi Nga Kiều huyện Yên Khánh. Chùa nguyên ở trên núi Hộ Thành, nay đã di chuyển về đây, vẫn lấy tên chùa cũ. Có bia khắc 3 chữ "Sơn Thủy tự". Phía trước có hồ bán nguyệt, gần đó có tòa đình vuông. Giếng đá ở đây nước trong và ngọt. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua xa giá bắc tuần đã mệnh lấy nước đó dâng lên cho vua dùng, vì thế nay gọi là Giếng Ngự. Cảnh sắc thiên nhiên kì diệu, là một thắng cảnh nổi tiếng của địa phương. Quan tỉnh thần là Tôn Thất Tịnh và Ngô Kim Lân kế tục nhau tu bổ sửa sang lại, trở thành 3 chùa Thượng, Trung, Hạ, xây đài Vân Tiêu trên đỉnh núi.

Chùa Cổ Am

Chùa ở phía tây động núi Nghiễm Sơn thuộc xã Địch Lộng huyện Gia Viễn, nhân núi mà làm thành chùa, phong cảnh tự nhiên. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua xa giá bắc tuần có lên thăm chùa. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) được triều đình ban cho 4 pho tượng Phật bằng đồng thếp vàng và 50 lạng bạc.

Chùa Bích Động

Chùa ở núi Bích Động xã Đam Khê huyện Yên Mô. Chùa có 3 ngôi, ở lưng chừng núi có 2 ngôi đều là nhân vách núi mà làm thành chùa. Một ngôi ở chân núi, có dùng nhân công sửa sang thêm, dựng vào thời Lê, nổi tiếng là một thắng cảnh.

Chùa Tam Động

Ở hai xã Phục Cổ và Hiền Quan huyện Yên Hóa. Tam động gồm động Ngọc Cao, động Quang Động và động Bạch Động. Vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) dân địa phương xây 3 ngôi chùa, dựng bia ghi chép. Cũng là một danh lam trong huyện.

 


















 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét