Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục/ VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ- (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) Tỉnh Hà Nội



TỈNH HÀ NỘI
Cổ tích
Phế thành Long Biên
Tương truyền là trị sở của quận Đông Hán phủ Giao Châu. Thời Hán trị sở quận tại Luy Lâu, thời Hậu Hán đặt tại Long Biên. Năm Hoàng Vũ thứ 6 nhà Tôn Ngô, Giao Châu cũng theo sự cai trị từ Phiên Ngung. Các đời Tấn, Tống sau đó cũng theo như thế. Theo sách Thủy kinh chú, năm Kiến An thứ 23 nhà Hán, khi bắt đầu xây thành có giao long cuộn vây nằm ở hai bờ nam và bắc, nhân đó đổi Bàn Uyên thành Long Biên.
Phế thành Ô Diên
Thành ở huyện Từ Liêm. Hồi xưa khi Hậu Lí Nam đế giảng hòa với Triệu Việt vương đã dời về đây ở. Về sau Triệu vương Quang Phục kề thừa ngôi báu cũng đóng đô ở đất ấy. Năm Vũ Đức thứ 4 đời nhà Đường nhân theo tên cũ mà đặt ra huyện Ô Diên, ngày nay là địa phận xã Hạ Mỗ, ở đó vẫn còn đền thờ Nhã Lang.
Phế thành Đỗ Sứ quân, Thành Đấu đong quân Ngô
Thành ở nơi giáp ranh hai xã Bảo Đà và Ninh Dương huyện Thanh Oai, rộng chừng hơn 7 mẫu. Sách Dư địa chí chép: Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc chiếm cứ vùng Đỗ Động, đắp đất làm thành. Đến cuối đời Hồ, giặc Minh sang xâm lược, mắc bệnh dịch chết rất nhiều, phải đắp đất tạo ngôi thành làm cái đấu đong đếm số lượng binh lính. Căn cứ vào ghi chép đó thì có hai ngôi thành, mà nay chỉ thấy có một di chỉ còn sót lại. Phải chăng là thành này do Sứ quân đắp nên, quân Minh nhân lấy thành đó dùng để đong quân, sự thật cũng khó mà biết được.
Lũy cổ Mi Dương
Lũy ở xã Mi Dương huyện Thanh Oai, gọi là Lỗi Dương. Đất ở đây giáp bờ sông, trên bờ có bãi thoáng rộng, tương truyền lũy do nhà Mạc xây dựng, nay vẫn còn. Quãng từ Mi Dương đến Nga Mi cỏ lác rậm rạp nhưng cây cối thưa thớt, đó chính là chỗ lũy xưa vậy.
Đàn Nam Giao cổ đời Lí
Đàn ở huyện Thọ Xương, phía nam tỉnh thành, được xây dựng từ thời nhà Lí để dùng làm nơi tế tự. Di chỉ nay vẫn còn.
Đàn Xã Tắc cổ đời Lí
Đàn ở huyện Vĩnh Thuận, phía nam tỉnh thành, xây dựng từ năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 5 (1048), các triều đại sau đó đều nhân đó sử dụng. Di chỉ nay vẫn còn ở thôn Thịnh Hào.
Đàn Tiên Nông, đài Quan Canh (xem cày ruộng) đời Lê
Đàn ở huyện Thanh Trì, Thuần Hoàng đế nhà Lê xây dựng, nay thuộc địa phận xã Bạch Mai huyện Thọ Xương vẫn còn di chỉ.
Xứ Diễn võ
Ở phía tây nam huyện Đông Quan bên ngoài thành Giao Châu, chu vi khoảng 12 dặm, bên trong có đàn Tướng. Phía bắc đàn là đình Diễn Võ, gồm 3 gian. Bên ngoài đình cách độ hơn 10 trượng có tòa thành đất dài khoảng 50 dặm, bên trong có 12 dinh Tổng binh, mỗi dinh đều mở 4 cửa thông ra bên ngoài. Các dinh đều do Trương Phụ dựng ra. Nơi ấy nay là trại Giảng Võ thuộc huyện Vĩnh Thuận .
Kho cổ Đặng Xá
Kho ở huyện Kim Bảng. Vào thời Lê, ở xã Đặng Xá có người đàn bà tên là Thị Đình, nhà giàu có, cung tiến cho triều đình hàng nghìn mẫu ruộng. Vua Lê sai lập hẳn một cài kho để thu tô về cất trữ tại đó. Dân gọi là kho Thị Đình. Di chỉ nay vẫn còn.
Lớp học cổ Hoàng Cung
Tại huyện Thanh Trì, nơi nhà Nho vĩ đại thời Trần Chu Văn Trinh xây nhà mở lớp dạy học. Dân bản huyện nhân lấy di chỉ cũ lập thành đền thờ ông. Gò đất lớn hiện ở xã Hoàng Cung chính là chỗ ấy.
Bến cổ Chương Dương
Bến ở huyện Thượng Phúc, nguyên là thực ấp của Dương Tam Kha được Ngô Xương Văn ban cho, nằm đối diện với xã Đông Hàm Tử của tỉnh Hưng Yên. Đây là nơi Trần Nhật Duật đại phá quân của Nguyên soái Toa Đô nhà Nguyên.
Bãi Quân Thần
Bãi thuộc huyện Từ Liêm, nơi ngày xưa Hậu Lí Nam đế giảng hòa phân chia địa giới với Triệu Quang Phục, nay là đất hai xã Thượng Cát và Hạ Cát.
Ninh Kiều
Ngày trước khi Vương Thông nhà Minh đánh sang, bị các viên tướng của Lê Lợi là Lê Triện, Lê Bí bố trí quân mai phục ở Ninh Kiều đánh cho đại bại. Nơi ấy nay là Bùi Giang huyện Chương Đức.
Thành nhà Hồ
Thành ở hai xã Kiện Khê và Vũ Xá huyện Thanh Liêm. Nơi đây bốn bề là núi vách đá dựng đứng, khoảng trống bằng phẳng ở giữa rộng khoảng 70, 80 mẫu. Ở đây có một nền đất tương truyền là di chỉ thành cổ của nhà Hồ.
Núi
Núi Hương Tích
Núi ở phía nam huyện Hoài An, trên có chùa Thiên Trù. Cửa chùa có động, trước động có hai cây cầu ở hai bên. Trống chuông đồng treo ngay ở trên vách đá cửa động. Có 5 chữ đại tự "Thiên Nam đệ nhất động" được khắc vào thời nhà Lê.
Núi Tuyết Sơn
Núi ở phía nam huyện Hoài An. Hồi trước vào đời Lê, nhà vua thường lên núi du ngoạn, khắc lên đá 3 chữ đại tự "Bạch Tuyết môn", nay vẫn còn. Cạnh núi có hành cung, gọi là di chỉ Bảo Đài. Bên trên là động có khắc 3 chữ đại tự "Ngọc Long động".
Núi Long Đọi
Núi ở huyện Duy Tiên, nơi vua Lê Đại Hành cày ruộng tịch điền hồi trước. Vua Lí Thái Tông cho xây chùa và tháp Diên Linh, có tấm bia ghi chép lại sự việc, mặt sau bia khắc bài thơ ngự chế của vua Lê Thánh Tông. Bia nay vẫn còn.
Đền miếu
Miếu Đinh Tiên Hoàng
Tại hai xã Ninh Thái, Ứng Liêm huyện Thanh Liêm và xã Thường Vệ huyện Hoài An đều có miếu thờ ông.
Miếu Lê Đại Hành Hoàng đế
Tại hai xã Ninh Thái, Ứng Liêm huyện Thanh Liêm và xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai đều có miếu thờ ông.
Miếu Lí Thánh Tông Hoàng đế
Miếu ở thôn Chuyết Lưu xã Đông Lỗ huyện Sơn Minh.
Miếu Triệu Việt vương
Miếu ở xã An Trạch huyện Nam Xương. Vương họ Triệu, hiệu là Quang Phục, người Chu Diên, là Tả tướng quân cho Tiền Lí Nam đế. Khi quân nhà Lương sang xâm lược, vua sai Vương đi đánh giặc. Vương dẫn quân vào trong đầm, chém chết tướng giặc Dương Sàn, dẹp được giặc Lương, tự lập lên ngôi, xưng là Nam Việt vương. Hồi đầu đóng đô ở Long Biên, sau dời đến Vũ Ninh. Các triều đại về sau đều ban sắc phong tặng.
Đền Phùng Vương
Đền ở phường Thịnh Quang huyện Vĩnh Thuận . Vương họ Phùng, tên Hưng, người Đường Lâm. Sự tích xem ở phần tỉnh Sơn Tây.
Đền Lí Ông Trọng
Đền ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm. Thần là người xã này, làm quan Tư lệ nhà Tần. Vua Tần Thủy Hoàng sai ông đem quân ra trấn giữ Lâm Thao, uy danh của ông chấn động cả giặc Hung Nô. Tuổi già về hưu vui cảnh điền viên rồi mất. Tần Thủy Hoàng cho ông thuộc hàng dị nhân, đúc pho tượng ông bằng đồng đem đặt tại cổng Tư Mã ở Hàm Dương. Quân Hung Nô ngỡ ngài Hiệu úy vẫn còn sống nên không dám mon men vào xâm phạm. Vào đời Đường, Triệu Cao làm Đô hộ Giao Châu, ban đêm thường nằm mộng được cùng ông đàm đạo về kinh Xuân Thu, Tả truyện, bèn nhân nhà ở của ông lập thành đền để tế lễ phụng thờ. Đến thời Cao Biền đi đánh Nam Chiếu, thường được ông hiển linh trợ giúp thắng trận. Cao Biền trùng tu lại đền, khắc gỗ tạc tượng ông, gọi là đền Lí Hiệu úy. Các triều trước và triều ta đã nhiều lần ban sắc gia phong.
Đền Sóc Thiên vương
Đền ở xã Minh Tảo huyện Từ Liêm. Thần hiệu là Tì Sa Thiên vương. Vào niên hiệu Thiên Phúc nhà [Tiền] Lê, Thái sư Khuông Việt từng nằm mộng thấy thần, bèn khắc tượng của ngài, dựng đền ở núi Vệ linh thuộc hương Bình Lỗ để thờ. Đến hồi quân Tống sang xâm lăng, vua Lê sai người tới miếu cầu đảo, chốc lát chợt thấy một người rũ tóc trợn mắt từ dưới sóng nước hiện lên, khiến quân Tống sợ hãi mà tự tan vỡ. Vua bèn sai lập thêm đền thờ thần. Đến thời Lí phong cho thần là Thượng đẳng thần. Các triều sau đó cũng nhiều lần ban sắc phong tặng.
Đền Uy Linh Thủy thần
Đền ở phường Yên Phụ huyện Vĩnh Thuận. Tương truyền thần và các đệ tử của mình phân chia nhau làm các thần cai quản các địa phương Nhật Chiêu, Quảng Bố, Tây Hồ, Yên Phụ, nhờ vậy chấm dứt được mọi tai nạn về đường nước trên sông Nhị Hà và vùng Hổ Tây, trong đó ân huệ của thần là cao nhất. Từ đó hàng năm đền được cấp 30 quan tiền dùng cho việc tế tự.
Đền Sơn thần Đồng Cổ
Đền trên bên sông Tô Lịch, thuộc địa phận thôn Yên Thái Đông huyện Vĩnh Thuận. Sự tích xem ở phần tỉnh Thanh Hóa.
Đền thần Chiêu Ứng
Đền ở phường Yên Thái huyện Vĩnh Thuận. Tương truyền vua Lí Nhân Tông mắc bệnh đau mắt. Vời nhà sư đến bói, nói rằng đó là bởi "thủy Kiền tuất" bắn vào La Thành gây nên. Bấy giờ có người tên là Vũ Phục cùng với vợ, hai người đều tỉnh nguyện xả thân nhảy xuống chỗ hợp lưu của hai con sông Tô Lịch và Thiên Phù để yểm thủy hoạn. Vua liền khỏi bệnh, bèn lập đền thờ, phong là Chiêu Ứng Tôn thần.
Đền thần Linh Lang
Đền ở trại Thủ Lệ huyện Vĩnh Thuận. Tương truyền thần là con trai của vua Lí Thái Tông, hiển linh hóa thành rồng ở đây. Người đời sau dựng đền thờ phụng.
Đền Bạch Mã
Đền ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương. Tương truyền vào niên hiệu Hàm Thông nhà Đường, Cao Biên đắp thành Đại La. Một hôm đang đi chơi ở Cửa Đông bất chợt có mây mù kéo tới đen trời, rồi thấy có một dị nhân mặc áo màu, tay cầm thẻ vàng, cưỡi trên con rồng nhỏ màu đỏ đang đi tiêu dao trong mây. Cao Biền kinh hãi, định yểm. Đêm đó mộng thấy thần về bảo rằng: Ta là thần Long Đỗ, hay tin ông đang đắp thành nên đền thăm, cớ sao lại ghét ta? Cao Biền bèn lập ngôi đền ngay tại chỗ ấy để thờ thần, phong là thần Long Đỗ. Về sau Lí Thái Tổ phong cho là thần Thành Hoàng của thành Thăng Long. Các triều về sau cũng theo như thế mà phong là Quảng Lợi Bạch Mã Tối linh Thượng đẳng thần.
Đền Cao Sơn
Đền ở phường Kim Liên huyện Thọ Xương. Thần là một trong 50 người con của Lạc Long Quân đi theo mẹ lên núi, chính là vị thần núi thứ hai bên tả thờ tại đền Tản Viên. Thời Lê, vua Tương Dực đem quân đi đánh giặc thắng trận trở về lập đàn ở Thăng Long để lễ tạ, rồi nhân chỗ ấy dựng thành đền thờ phụng. Đền có bia đá khắc bài văn bia, nay vẫn còn.
Đền Quí Minh
Đền ở phường Đông Hà huyện Thọ Xương. Thần là một trong 50 người con của Lạc Long Quân đi theo mẹ lên núi, là vị thần núi thứ ba bên hữu thờ tại đền Tản Viên.
Đền Phạm Thái úy
Đền ở thôn Ngự Sử huyện Thọ Xương. Thần là Phạm Cự Lạng, làm quan Thái úy dưới triều vua Lê Đại Hành. Vào thời Lí Thái Tông, phủ Đô hộ tồn đọng nhiều nghi án, các quan không giải quyết nổi. Đang đêm vua mộng thấy một sứ giả áo đỏ đến báo Thượng đế có sắc chỉ ban cho Phạm Cự Lạng làm Ngục chủ phủ Đô hộ An Nam. Tỉnh giấc, vua liền cho lập đền ở phía tây Kinh thành, phong cho thần làm Ngục chủ.
Đền Trung Liệt
Đền ở thôn Cổ Tân huyện Thọ Xương, được xây dựng từ thời Chính Hòa nhà Lê, thờ Quan Thánh Đế quân, phối thờ Quan Bình và Chu Thương, và các vị Công thần hi sinh vì nước vào thời kì đầu triều Lê.
Đền Ngọc Sơn
Đền nằm trên đảo đất trong hồ Tả [Vọng] huyện Thọ Xương. Đền có hai tòa, tòa phía sau thờ Quan Thánh Đế quân, tòa phía trước thờ Văn Xương Đế quân. Có bia ghi chép.
Đền Hỏa Thần
Đền ở thôn Yên Nội huyện Thọ Xương, do tỉnh thần tấu xin xây dựng vào niên hiệu Minh Mệnh, thờ thần vị Ngũ Hiển Hoa Quang Tôn thần. Đền được trùng tu vào năm Thiệu Trị nguyên niên (1841).
Đền thần Hữu Vĩnh
Đền ở xã Hữu Vĩnh huyện Hoài An. Tương truyền thần húy Quảng Xung, là con trai của Kinh Dương vương, được triều Lê phong làm An Nam Thượng đẳng thần.
Đền Chu Văn Trinh
Đền ở xã Cung Hoàng huyện Thanh Trì. Ông tên là Chu Văn An, tính cương trực, sống thanh bạch, không theo đòi lợi danh, tinh thông kinh sách, dạy dỗ nhiều người được thành đạt. Vua Trần Minh Tông vời vào triều giữ chức Quốc Tử giám Tư nghiệp, dạy Thái tử học tập kinh sách. Đến thời vua Dụ Tông lơ là chính sự, quần thần nhiều kẻ vi phạm phép nước. Ông viết tờ sớ xin chém đầu 7 kẻ nịnh thần. Sớ dâng lên rồi nhưng không thấy hồi âm, ông liền treo mũ từ quan về làng. Sau khi ông mất được ban thụy là Văn Trinh, được lập đền thờ phụng.
Đền Trưng Vương
Đền ở xã Hương Viên huyện Thọ Xương. Tương truyền Trưng Vương tự vẫn ở sông Nhị Hà, sau hóa thành hai pho tượng ngồi ở giữa dòng nước phát ra ánh lửa hào quang. Năm Đại Định thứ 2 (1141) đời Lí Anh Tông xây dựng ngôi đền ở bờ sông để thờ phụng.
Đền thần núi Tản Viên
Đền ở xã Phúc Am huyện Thanh Trì. Sự tích xem ở phần tỉnh Sơn Tây.
Đền thần Bồ Đầu
Đền ở xã Bộ Đầu huyện Thượng Phúc. Thần người xã Bộ Đầu, Tương truyền mẹ của thần bị giao long làm bị thương, thần liền lấy chân đạp chết giao long, rồi tự nhiên biến mất. Dân trong làng dựng đền thờ. Đền thời Lê sơ, đền được trùng tu, tạc tương thần để thờ phụng.
Đền thần Đông Hải họ Nguyễn
Đền ở xã Mộc Phàm huyện Phú Xuyên. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.
Đền Sĩ Vương
Đền ở xã Giá Cầu huyện Phú Xuyên. Sự tích xem ở phần tỉnh Bắc Ninh.
Đền Lê Văn Trinh
Đền ở xã Mộc Phàm huyện Phú Xuyên. Thần họ Lê, tên là Trọng Thứ, đỗ Tiến sĩ triều Lê, làm quan giữ chức Hình bộ Thượng thư. Hôm về hưu đi qua xã Mộc Phàm, thì có người dân xã kể rằng, vào đêm hôm trước được báo mộng rằng sẽ có vị thần bản thổ đi đến bờ sông của làng. Dân xã liền bày nghi lễ sẵn rước ông vào đền của làng đón tiếp. Sau khi ông mất được dân làng lập đền thờ phụng.
Đền thần Trung Thành
Đền ở xã Đa Chất huyện Phú Xuyên. Tương truyền thần là thủy thần ở ngã ba sông Bạch Hạc. Vua Lí Thái Tông sắc phong cho hai chữ "Trung Thành". Ngày nay dân các xã Bất Náo, Đường Xuyên, Lương Xá, Thần Qui, Yên Khoái, Văn Trai huyện Phú Xuyên và xã Đông Lỗ, Thanh Hội huyện Sơn Minh đều có đền thờ thần.
Đền thần Quảng Bác
Đền ở xã Thịnh Đức huyện Phú Xuyên. Tương truyền thần là thủy thần ở ngã ba sông Sa Giang. Vua Lê Thần Tông sai quan đem quân đi đánh giặc, được thần hiển linh phù trợ. Thắng trận trở về dựng đền thờ phụng. Các triều đều tặng sắc gia phong.
Đền Nguyệt Nga Thần nữ
Đền ở xã Hương Lâm huyện Phú Xuyên. Người đời truyền nhau rằng, thần là tiên trên trời hiển linh ở bến sông Ngã ba Tam Giang, nhân đó lập đền thờ phụng. Vua Lê Thánh Tông đi tuần qua đây bất chợt gặp gió to sóng lớn. Vua cầu đảo thần, sóng gió bèn lặng. Vua phong cho là Thượng đẳng thần. Các triều đều tặng sắc gia phong.
Đền Mị Ê Phu nhân
Đền ở hai xã Lị Nhân và Lam Cầu huyện Nam Xương. Phu nhân là cung phi của chúa nước Chiêm Thành Xạ Đẩu. Vua Lí Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, giết chết Xạ Đẩu. Phu nhân thủ tiết nhảy xuống biển tự vẫn. Vua Lí phong cho là Hiệp chính Hựu thiện Phu nhân. Về sau, dân lập đền trên bờ thờ phụng. Các triều đại đều ban tặng sắc gia phong.
Miếu Tiền Lí Nam đế
Miếu ở xã Kim Thìa huyện Đan Phượng. Vua họ Lí, người Long Hưng phủ Thái Bình. Sự tích xem ở phần tỉnh Nam Định.
Lăng mộ
Lăng Lê Chiêu Tông
Lăng ở xã Quỳnh Đô huyện Thanh Trì, được trùng tu và dựng bia vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840).
Mộ tổ Lê Đại Hành
Mộ ở bên cạnh miếu tại xã Ninh Thái huyện Thanh Liêm.
Mộ Lí Ông Trọng
Mộ ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm.
Chùa quán
Lầu Tĩnh Bắc
Lầu ở bên trong cửa Bắc Kinh thành. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) khi nhà vua xa giá bắc tuần đã sai xây ngôi lầu bằng gạch ngói. Tầng trên lầu giữa thờ Huyền Thiên Chân Vũ Đại đế, bên trái thờ Phật Già Lam, bên phải thờ Ngô Đạo Tử, đặt tên là lầu Tĩnh Bắc.
Chùa Hoằng Ân
Chùa ở phường Quảng Bố huyện Vĩnh Thuận, do Công chúa Ngọc Tú xây dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628). Nguyên tên chùa là Long Ân tự, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi thành Sùng Ân tự, đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) mới đổi lại thành tên gọi ngày nay.
Chùa Trấn Bắc
Nguyên tên chùa là Trấn Quốc, ở phường Yên Phụ phía đông hồ Tây, được xây dựng từ niên hiệu Hoằng Định triều Lê, qui mô rất rộng rãi. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính có soạn bài kí khắc bia, nay vẫn còn. Vào năm Thiệu Trị được ban biển ngạch đổi tên thành Trấn Bắc tự.
Chùa Nhất Trụ (Một Cột)
Chùa ở thôn Thanh Bảo. Đất chùa có một cái hồ vuông, trong hồ xây một cột trụ bằng đá cao khoảng 1 trượng, vòng thân tròn cỡ 9 thước, đỉnh cột dựng tòa Phật tự lợp ngói, trông như hình bông hoa sen từ dưới nước ngoi lên. Sử chép rằng, vua Lí Thái Tông nằm mộng được gặp Phật Quan Âm dắt lên đài hoa sen. Tỉnh giấc kể lại với quần thần, cho là điềm tốt lành. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng cây cột đá, bên trên xây đài sen của Phật Quan Âm giống như đã thấy trong giấc mộng, rồi vời các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài tuổi thọ. Vì thế đặt tên chùa là Diên Hựu tự. Năm Long Phù Nguyên Hóa thứ 5 (1105) đời Lí Nhân Tông trùng tu chùa, xây tháp Bạch Manh (chỏm trắng), đào ao sen Linh Chiểu, xây hành lang bao quanh bên ngoài. Bên ngoài nữa lại đào ao Bích Trì, bắc cầu để thông vào chùa, phía trước xây bảo tháp. Lại đúc một quả chuông lớn, nhưng đúc xong gõ không kêu, bèn đem để ở ruộng Qui Điền bên cạnh chùa. Đầu thời Lê sơ, tướng Minh Vương Thông chiếm cứ thành Đông Quan, bị vua Lê Thái Tổ vây hãm ở trong thành, khí giới cạn kiệt, đem phá hủy quả chuông ấy làm đạn pháo.
Chùa Địa Linh
Chùa được xây dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ 4 (1622) ở Hồ Tây.
Chùa Chiêu Thiền
Chùa ở trại Yên Lãng , là nơi tu luyện của nhà sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa có thờ tượng Từ Đạo Hạnh và vua Lí Thần Tông. Chùa có một cái hòm gỗ chứa những lá đồng có viết chữ Phạn, đó là di tích của nhà sư.
Chùa Dục Khánh
Chùa ở thôn Huy Văn huyện Thọ Xương. Tương truyền Quang Thục Hoàng hậu nhà Lê đã sinh ra vua Thánh Tông tại đây. Về sau nhân chỗ ấy dựng thành chùa. Bên phải chùa có điện Huy Văn thờ Quang Thục Hoàng hậu. Năm Tự Đức thứ 18 (1865) quan tỉnh Hà Nội trùng tu. Bên ngoài là 3 gian điện thánh, mái hiên nhiều tầng xếp chồng lên nhau. Bên trong là tòa thờ Phật, bao quanh bởi hành lang, mỗi chiều 5 gian. Chùa có bia ghi chép.
Chùa Khán Sơn
Chùa trên núi Khán Sơn, tu sửa vào thời Hồng Đức nhà Lê. Ở gian chính điện thờ chân dung vua Lê Thánh Tông. Thời Tây Sơn dỡ bỏ chùa này. Sư chùa dời đi xây lại ở chùa Chúc Khánh. Vào niên hiệu Tự Đức, quan tỉnh là Lê Hữu Thanh tiến hành trùng tu.
Chùa Báo Thiên
Chùa do Lí Thánh Tông xây dựng ở thôn Tiên Thị, ngày xưa gọi là phường Báo Thiên, lại cho xây tòa bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên cao vài chục trượng, qui mô 12 tầng, phát kho 1 vạn 2 nghìn cân đồng đúc thành quả chuông lớn. Trải hai thời kì loạn lạc thời Nhuận Hồ và Tây Sơn nên ngày nay chùa đã bị đổ nát hủy hoại hết.
Chùa Phúc Tiên
Chùa ở thôn Thanh Miến, tên cũ là Ngọc Hồ tự. Tương truyền vua Lê Thánh Tông du ngoạn đến chùa gặp người đẹp ở gác chuông, cùng lên lầu xướng họa, xong mệnh cho đi theo hầu xa giá về cung. Trở về đến cổng Đại Hưng, người đẹp bỗng bay lên trên không đi mất. Vua biết là tiên, bèn dựng tòa lầu ở bên ngoài cổng điện ngóng theo, gọi là lầu Vọng Tiên. Về sau trở thành chùa Tiên Phúc.
Chùa Quán Sứ
Chùa ở thôn Yên Tập. Hồi đầu triều Lê, sứ giả các nước chư hầu như Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Chưởng sang nộp cống đều lưu trú tại đây. Vì những nước này đều chuộng đạo Phật nên dựng thành chùa để cho họ ở lại, vì thế có tên gọi là chùa Quán Sứ.
Chùa Liên Trì
Chùa ở thôn Cựu Lâu, nơi đặt lầu Ngũ Long triều Lê ngày xưa. Từ cổng Tuyên Vũ của Đô phủ đi cắt ngang hồ Thủy Quân có xây cầu đá để qua lại, về sau bị quân Tây Sơn phá hoại. Đến năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai dựng lại chùa, gồm 36 tòa lớn nhỏ, cộng 180 gian, chùa rất hoành tráng mĩ lệ, khắp nơi trồng đầy hoa sen, nên có tên Liên Trì tự. Ngày nay trở thành trụ sở của quí quan [Pháp], các gian chùa đều bị dỡ bỏ.
Chùa Hương Tích
Chùa ở núi Hương Tích huyện Hoài An. Tương truyền Quan Thế Âm Bồ tát bay tới phương nam đã trụ trì tại đây. Trong chùa tượng Phật trang nghiêm, đèn nhang không dứt. Chùa nhờ có núi nên rất đẹp, thuộc hàng đệ nhất của Hà Thành.
Chùa Tuyết Sơn
Chùa ở trên núi Tuyết Sơn phía nam huyện Hoài An. Chùa có tượng Phật bằng đá, trống đồng, chuông đồng, vị trí vẫn y nguyên ngày xưa. Cây cổ thụ um tùm, đỉnh núi nhấp nhô, thấp thoáng bóng thuyền qua lại ở dưới khe suối, văng vẳng tiếng hát thuyền chài mang lại cho du khách cảm giác về một vùng mịt mờ sương khói.
Chùa Thắng Lãm núi Vân Mộng
Chùa ở trên núi Bát Cảnh Sơn thuộc huyện Kim Bảng. Nay thuộc về tỉnh Hà Nam.
Chùa Bồ Tát
Chùa ở xã Quang Trác huyện Hoài An. Tục gọi là Chùa Ông. Ông cụ là người Bối Khê đã xây dựng nên chùa này. Dân địa phương thường đến chùa cầu tự, rất linh nghiệm. Vào triều Lê vua đã lên chùa ban cho biển ngạch, đề chữ "Bảo Ngã Tử Tôn" (nghĩa là: Hãy che chở cho con cháu ta), nay vẫn còn.
Chùa Pháp Vân
Chùa ở xã Châu Cầu, chùa có cây cột bằng gỗ quế vân hoa, đóng mộng rất kiên cố. Phía trước chùa có đầm nước, tương truyền loài thủy tộc dâng nước lên định lấy cây gỗ quế vân hoa nhưng không được mới tạo thành đầm. Chùa cầu đảo rất linh nghiệm.
Chùa Cao Sơn
Chùa ở xã Vĩnh Lãng huyện Chương Đức. Ở đây có một quả núi cao chót vót, chỗ lưng chừng núi uốn cong như hình cái ghế tựa, chùa dựng ở trong chỗ ấy, rất đông người đến cầu cúng.
Chùa Y Đới (Dải Áo)
Chùa ở xã Đăng Ngạn huyện Chương Đức. Tương truyền chùa rất thiêng, người đến cầu tự đều được ứng nghiệm. Dân Bắc kì xưa có phong tục mặc vận bắt chéo cổ áo. Khi đi cầu tự thì cắt một dải áo treo vào cổng chùa. Nếu mặc áo cổ tròn thì cắt một dải giấy kim tuyến đính treo vào đấy.
Chùa Đại Bi
Chùa ở hai xã Bối Khê và Thanh Khê huyện Thanh Oai, thờ vị Bồ tát Chân nhân. Tương truyền Chân nhân họ Nguyễn, hiệu là Bình An, người xã Bối Khê, từ nhỏ đã xuất gia trụ trì làng. Khi trưởng thành đi trụ trì chùa Quảng Nghiêm ở Sơn Tây, rồi lại trở về xây dựng chùa Đại Bi. Sau khi ông mất được dân hai xã tô tượng thờ phụng.
Chùa Long Hưng
Chùa ở các xã Đông Phù Liệt, Đông Trạch huyện Thanh Trì. Tương truyền thời Lí có hai vị Công chúa tới qui y ở chùa này. Vua Lí tức giận đốt cháy chùa, hai Công chúa bỏ trốn đến chùa Hưng Phúc ở xã Động Trúc cùng tổng. Vua biết hai người thật lòng qui theo đạo Phật, bèn cho dựng lại ngôi chùa cũ cho họ về ở, ban cấp cho 300 mẫu ruộng hương hỏa và 1 mẫu ruộng để xây phần mộ. Đến tháng 3 năm Hội Phong thứ 4 (1095), hai Công chúa cùng hai tỳ nữ cùng vào trong hầm mộ mà qua đời. Về sau hàng năm cứ vào ngày tháng ấy thường có mây từ phía đông kéo tới, gió to sấm sét nổi lên. Đến lúc tạnh thấy trên mộ có dấu vết lưu lại trên đám cỏ như hình rồng. Dân chúng tưởng nhớ hai vị liền tô tượng thờ phụng.
Chùa Phật Tích
Chùa ở núi Cẩm Long xã Động Châu huyện Thanh Liêm, xây dựng vào niên hiệu Chính Hòa triều Lê. Cột chùa đều là cột vuông. Vì đá trên đỉnh núi có hình dáng giống Phật nên đặt tên chùa là Phật Tích. Nay đổi sang thuộc tỉnh Hà Nam.
Chùa Đôi Hồi
Chùa ở xã Thu Quế huyện Đan Phượng. Bên trong thờ Phật, bên ngoài thờ thần Tam phủ. Tương truyền vua Trần đi tuần thăm các địa phương đã dừng xa giá nghỉ lại ở đây, nên tục gọi là chùa Đình Giá. Trên trán các tấm bia ở chùa đều khắc những chữ ghi "Đôi Hồi tự" với "Đình Giá xứ". Chùa trùng tu vào niên hiệu Chính Hòa triều Lê. Những tấm bia nay vẫn còn.
Quán Chân Vũ
Quán ở phường Thụy Chương huyện Vĩnh Thuận, thờ Trấn Thiên Chân Vũ Đại đế. Quán được dựng vào niên hiệu Vĩnh Trị, đến thời Chính Hòa trùng tu gác chuông, đúc tượng đồng cao 8 thước 2 tấc, chu vi 8 thước 7 tấc, nặng 6600 cân, tay phải cầm kiếm chống lên mai rùa, có rắn cuốn ở trên lưng. Thần rất linh thiêng. Đặng Công Chất soạn bài kí khắc vào bia. Quán nguyên có tên là Trấn Vũ quán. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) triều ta vua ngự giá bắc tuần ban cho 52 lạng bạc. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) đổi thành tên gọi ngày nay là quán Chân Vũ, sai quan đến tàm lễ tế, ban cho thần một chiếc áo lụa tơ màu vàng, lại ban cho một tấm biển đồng khắc bài thơ ngự chế, một đôi câu đối thêu trên gấm. Tương truyền vào thời vua An Dương vương có con yêu tinh gà trắng cùng với ma quỉ thường ẩn hiện ở núi Thất Diệu. Thần liền hiển linh trên núi Xuân Lôi diệt trừ hết loài yêu quái. An Dương vương lập đền thờ ngài ở Cửa Bắc Kinh thành. Vào niên hiệu Vĩnh Lạc đời vua Minh Thành Tổ có giặc Hoàng Mao làm phản, đánh quân nhà Minh thua chạy tan tác. Bất chợt từ trên không xuất hiện thần nhân tay khua kiếm huy động gió bão sấm sét đánh giết giặc Hoàng Mao. Vua Thành Tổ biện lễ tế thần. Trương Thiên Sư bảo đó là thần Bắc Phương Chân Vũ. Bèn dựng điện đàn tạc tượng thờ phụng. Vào đời Thành Thái, quan Đại thần Kinh lược Bắc Kì họ Hoàng  (nay là Vũ Hiển Quận công) cải tạo lại quán, qui mô mười phần to đẹp, có bia ghi chép lại.
Quán Huyền Thiên
Quán ở phường Đồng Xuân huyện Thọ Xương, thờ Huyền Thiên Đế quân, được trùng tu vào năm Thiệu Bình thứ 7 (1440), có bia đá ghi lại, nay vẫn còn.
Hội quán Việt Đông
Ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương, do các hộ khách Minh Hương  quyên góp tiền của xây dựng vào năm Gia Long thứ 2 (1803), thờ Thọ Đình hầu Quan Thánh Đế quân đời Hán.
Quán Lâm Dương
Quán ở xã Đa Sĩ huyện Thanh Oai. Tương truyền hồi trước Bắc triều đô hộ lập ra 4 quán, một là Hội quán Việt Đông, hai là quán Trấn Vũ, ba là quán Tự Tháp, bốn là quán Lâm Dương. Quán này gồm một tòa 3 gian, tiền đường 5 gian, có thờ tượng Phật. Trước sân dựng một cây cột đá cao hơn 1 trượng, trên có khắc 3 chữ đại tự "Lâm Dương quán".
Quán Linh Tiên
Quán ở xã Cao Xá huyện Đan Phượng. Biển ngạch đề 4 chữ đại tự "Ngọc Kinh Sơn Thượng". Văn bia ở đây kể rằng, khi Lữ Gia đi đến làng này thì thấy có tiên đang đánh cờ. Lữ Gia vội tới bái yết thì các vị tiên bất chợt cùng bay lên trời. Nhân đó gọi tên là quán Linh Tiên. Bấy giờ lại có rồng thần hiện ra rắc đan sa, rất linh thiêng kì lạ. Có vị pháp sư là Lí Bùi tu đạo ở đây thường trồng rau hẹ để ăn, hàng ngày tụng kinh Ngọc Hoàng bản hạnh. Về sau cây hẹ già hòa thành cát bồ đá. Pháp sư thấy sự lạ cố ý ăn vào, từ đó có thể bay lên không trung giữa ban ngày. Thời ấy nhân đó đặt ra huyện Đan Sơn. Tấm bia ở quán khắc vào niên hiệu Hoằng Định, nay vẫn còn.

















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét