Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) Tỉnh Nam Định- Thái Bình

TỈNH NAM ĐỊNH
Cổ tích
Cố cung triều Trần
Cung tại xã Tức Mặc huyện Mĩ Lộc. Sử kí chép: Năm thứ 5 đời Trần Thánh Tông (1262) đổi hành cung Tức Mặc thành cung Trùng Quang. Các vua Trần kế nối nhau đều ở tại đây. Cung này ngày nay đã bị phế bỏ.
Đỉnh cổ Phổ Minh
Đỉnh ở chùa Phổ minh thuộc huyện Mĩ Lộc, nặng nghìn cân, tương truyền Thiền sư đời Lí Dương Không Lộ đi học phép thuật sang Bắc quốc tìm kiếm đồng đỏ, đến kho nhặt một túi mang về đúc đỉnh đặt trước cửa chùa. Hồi đầu thời Lê Thái Tổ, tướng Minh Vương Thông sau khi thua trận ở Tốt Động đã huỷ đỉnh lấy đồng đúc súng đạn. Trước chùa có ngọn tháp cao 14 tầng. Năm Cảnh Trị thứ 5 (1667) dựng bia khắc chữ đặt trước tháp. Về sau nhà Tây Sơn đem quân đến phá huỷ tháp, phá đến tầng thứ 3 phát hiện một khám đá, rồi có một vật tựa như dải lụa đỏ từ bên trong bay vọt lên trời biến mất. Bọn họ sợ hãi bèn sai sắp xếp xây đền lại như cũ. Về sau tháp bị nghiêng đổ, vận nhà Tây Sơn  cũng suy.
Thành cổ Cổ Lộng
Thành ở hai xã Thọ Cách và Bình Cách huyện Ý Yên, do người Minh đắp nên. Vua Trần Giản Định phá quân Minh ở Bô Cô, Mộc Thạnh thua chạy về thành Cổ Lộng, tức là thành này. Di chỉ nay vẫn còn.
Núi
Núi Phi Lai
Núi ở xã Tử Mặc, mạn tây bắc huyện Ý Yên. Núi có hai ngọn, rừng cây ở sườn núi âm u rậm rạp. Núi còn có tên gọi là Phi Sơn. Các vua nhà Lí thường lên du ngoạn, dựng chùa gọi là Phi Lai tự, nhân dó gọi tên núi là Phi Lai. Trên núi có tháp đá, cảnh trí cũng đẹp đẽ.
Đền miếu
Miếu Triệu Vũ vương
Ở các xã Thụy Lũng, Kim Khê huyện Chân Định mỗi nơi đều có miéu thờ. Vương họ Triệu, húy Đà, người Chân Định, làm quan Long Xuyên lệnh vào thời cuối nhà Tần, sau giữ chức Nam Hải úy, dấy quân đánh An Dương vương rồi tự lên ngôi. Sau khi mất được dân lập miếu thờ. Các địa phương khác thuộc tỉnh hạt phía bắc cũng có miếu thờ ông.
Miếu Triệu Việt vương
Miếu ở xã Độc Lạc huyện Đại An. Ngoài ra còn 15 xã khác trong tỉnh cũng có miếu thờ ông. Sự tích xem ở phần tỉnh Hà Nội.
Miếu Đinh Tiên Hoàng
Ở các xã Dương Hồi, Phong Doanh, Cát Đằng mỗi nơi đều có miếu thờ
Miếu Lê Đại hành Hoàng đế
Do xã Phú Khê huyện Đại An thờ phụng.
Miếu thờ Mười hai vua nhà Trần
Miếu ở xã Tức Mặc huyện Mĩ Lộc. Đây là quê của các vua. Ngày nay các tỉnh hạt khác đều có miếu thờ các vị.
Miếu Trần Nhân Tông
Miếu ở xã Dưỡng Hối huyện Ý Yên. Vào cuối đời, vua Nhân Tông nhường ngôi để về qui thiền, dựng chùa tại đây. Dân tưởng nhớ lập miếu thờ phụng.
Miếu Trần Anh Tông
Miếu do dân xã Tu Cổ huyện Ý Yên thờ phụng.
Đền Bố Cái Đại vương
Tại các huyện Đại An, Ý Yên, Thư Trì đều có đền thờ. Sự tích xem ở phần tỉnh Sơn Tây.
Đền Trần Minh công
Đền ở hai xã Kì Bố và Bồ Xuyên huyện Vũ Tiên. Thần họ Trần, húy Lãm. Vào cuối đời nhà Ngô, dấy binh chiếm cứ cửa biển Bố Hải, trở thành một trong mười hai Sứ quân. Sau khi ông mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Kiểu Tam Chế
Đền ở các xã Nam Chân, Hợp Luật, Bái Dương. Thần họ Kiểu, húy Công Hãn, người Phong Châu. Cuối đời nhà Ngô dấy binh chiếm cứ Hào Châu và Đằng Xuyên, tự xưng là Tam Chế, trở thành một trong mười hai Sứ quân. Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn thống nhất đất nước, ông thế cùng phải tự tử. Dân địa phương lập đền thờ phụng. Về sau khi vua Lê Đại Hành đánh quân nhà Tống ở phương bắc, thần đã hiển linh phù trợ. Vua lệnh cho trùng tu đền, ghi tên thần vào danh sách điển thờ, lấy hiệu là Long Kiều. Thần được bao phong vào các niên hiệu Thái Ninh đời Lí và Vĩnh Tộ đời Lê. Triều ta cũng ban sắc phong.
Đền Trần Hưng Đạo Đại vương
Đền thờ ông được dựng tại các xã Đông Mặc, Thượng Lôi huyện Mĩ Lộc, xã An Xuyên, A Sào, Vạn Đường, Hưng Nhượng, An Hiệp, Nam Lỗ huyện Phụ Dực. Vương họ Trần, là em của Trần Thái Tông, con trai của An Sinh vương Trần Liễu. Lúc mới sinh ra, có thày tướng trông thấy đã nói: Cậu bé này về sau có tài giúp nước cứu đời. Lúc trưởng thành thông minh hơn người, kiêm tài văn võ. Hai lần đánh bại quân Nguyên, bắt sống tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, là bậc công thần bậc nhất trên đời. Sau khi mất được tặng là Hưng Đạo Đại vương. Ông được lập đền thờ khắp các địa phương trong cả nước.
Đền Phạm Tướng quân
Đền ở hai xã Hữu Dụng và Hoàng Lão huyện Vụ Bản. Thần họ Phạm, tên là Ngũ Lão. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.
Đền Nguyễn Trạng nguyên
Đền ở xã Dương An huyện Thượng Nguyên. Thần là Nguyễn Hiền, vào niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình nhà Trần, 12 tuổi thi đỗ Trạng nguyên. Sau khi ông mất được triều đình lập đền, cấp ruộng để thờ phụng.
Đền Lê Bảng nhãn
Đền ở bốn xã Thượng Lao, Xối Tây, Xối Thượng và Xối Trì huyện Nam Chân. Thần họ Lê, húy Hiến Phủ. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.
Đền Lương Trạng nguyên
Đền ở xã Cao Hương huyện Vụ Bản. Thần họ Lương, húy Thế Vinh, là người thông minh sáng suót tuyệt trần, có khí chất đặc biệt, thi đỗ Trạng nguyên năm Quang Thuận, ra làm quan tính tình cương trực, tất cả những công văn giấy tờ bang giao bấy giờ đều do ông soạn thảo. Làm quan giữ chức Hàn lâm viện Thị thư Chưởng viện sự. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Lương Quận công
Đền ở xã Trần Biểu huyện Phong Doanh. Thần họ Bùi (khuyết danh), người xã Quất Động huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Nội, đỗ Tiến sĩ vào cuối đời Trần. Không bao lâu sau thì quân Minh sang xâm lược, ông mai danh ẩn tích chốn núi rừng. Về sau theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa, tham mưu nơi màn trướng. Sau khi quân Minh thua trận phải rút về nước, nhà Lê dâng biểu cầu phong nhưng nhà Minh không cho, chỉ trao cho Quyền thự An Nam quốc sự (tạm giữ quyền trông coi việc nước An Nam). Sang đời Thiệu Bình, vua Thái Tông sai ông làm Tuế cống sứ sang Minh. Người Minh khâm phục tài năng của ông, ban thưởng rất hậu cho về rồi phong cho Thái Tông làm An Nam Quốc vương. Do có công lao đi sứ, ông được ban quốc tính, làm quan đến chức Công bộ Thị lang, sau khi mất được tặng chức Thượng thư, Thái bảo Lương Quận công, được lập đền thờ phụng.
Đền thần Thủy Tế
Đền ở xã Kim Tông huyện Đại An. Khi Đinh Tiên Hoàng dẹp yên mười hai Sứ quân được thần phò giúp, sau đó không biết đi đâu. Vua lấy làm lạ, bèn phong là Thượng đẳng thần, lập đền thờ phụng. Đến thời Trần Nghệ Tông, năm Thiệu Khánh thứ 2 (1371), vua thân chinh đánh Chiêm Thành, thần cũng hiển linh phù hộ. Chiến thắng Chiêm Thành trở về, vua sai dựng miếu thờ và gia phong cho thần.
Đền Thiên Hậu
Đền ở phía tây tỉnh thành, do dân xã Minh Hương thờ phụng. Thần là người Bắc quốc hóa thành tiên, vì thế khắp trong nước, hễ nơi nào có phố chợ người Thanh là đều có lập đền thờ phụng.
Đền Liễu Hạnh Phu nhân
Đền ở hai xã Yên Thái, Vân Cát huyện Vụ Bản. Phu nhân họ Trần, tương truyền là vị tiên trên trời, tức Vân Cát Thần nữ giáng thế, rất linh thiêng. Các triều đại đều phong cho thần là Thượng đẳng thần, các em gái của thần là Đệ nhị Quỳnh cung Duy Tiên Phu nhân và Đệ tam Quảng cung Quế Anh Phu nhân đều được phong là Trung đẳng thần. Nhiều địa phương thuộc các tỉnh hạt ở miền bắc miền nam trong nước đều dựng đền thờ phụng.
Đền Không Lộ Thiền sư
Nhiều xã ở hai huyện Giao Thủy, Phụ Dực đều có đền thờ. Thiền sư họ Dương, tên là Không Lộ, rất giỏi pháp thuật, có thể bay trên trời, lặn dưới nước, có tài hàng long phục hổ. Sau khi ông mất được dân địa phương lập đền thờ phụng. Nhiều nơi khác ở Bắc kì cũng có đền thờ.
Đền Đạo Hạnh Thiền sư
Đền có ở 5 xã thôn Chân Nguyên, Vân Chàng, Kinh Lũng, Cẩm Nang và Gia Cẩm thuộc huyện Nam Chân.Thiền sư họ Từ, tự là Đạo Hạnh. Tuổi trẻ ưa thích du ngoạn, đến xã Chân Nguyên sáng lập ra chùa Đại Bi rồi trụ trì tại đó. Người đời sau thờ ông là Tổ sư, hiện còn di tượng của ông. Nhiều nơi khác ở Bắc kì cũng có đền thờ.
Chùa quán
Chùa Thần Quang
Chùa  ở xã Dũng Nghĩa huyện Giao Thủy. Chùa có qui mô rất lớn. Đây là chùa do Thiền sư Dương Không Lộ từng trụ trì.
Chùa Phổ Minh
Chùa ở xã Tức Mặc huyện Mĩ Lộc. Năm Thiệu Long thứ 5 (1262) đời Trần Thánh Tông xây dựng chùa ở phía tây cung Sùng Quang. Nhưng bài kí trên tấm bia dựng vào niên hiệu Cảnh Trị đời Lê có câu: "Đời Lí mở đầu khai sáng, Đời Trần lại làm cho rạng rỡ", như vậy thì chùa phải được xây dựng từ đời nhà Lí.

TỈNH THÁI BÌNH
Đền miếu
Miếu Tiền Lí Nam đế
Ở xã Hậu Tải huyện Thư Trì và xã Tử Đương huyện Thụy Anh mỗi nơi đều có miếu thờ. Vua tên là Lí Bí, người Thái Bình, Long Hưng. Tổ tiên là người Bắc quốc, cuối đời Tây Hán lánh sang ở lại nước ta trải đá 7 đời. Lí Bí làm quan nhà Lương nhưng bất đắc chí về Thái Bình xưng Đế, đặt quốc hiệu Vạn Xuân, lấy niên hiệu là Thiên Đức. Sau khi mất được dân lập đền thờ.
Đền Đỗ Thượng thư
Đền ở xã Ngoại Lãng huyện Thư Trì. Thần tên là Đỗ Oanh, đỗ Tiến sĩ năm Thụy Khánh  đời Lê, làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư. Về sau không chịu theo nhà Mạc. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ.
Đền Quách Thượng thư
Đền ở hai xã Thiền Quan và Phú Châu huyện Thanh Quan. Thần họ Quách, tự Hữu Nghiêm, đỗ Tiến sĩ niên hiệu Quang Thuận đời Lê, làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ.
Đền Việt Vũ vương Trình hậu
Đền ở xã Đường Sâm huyện Chân Định. Hậu người xã này, là mẹ đẻ của Trọng Thủy. Trong huyện còn đến 10 nơi có đền thờ bà.
Đền Đại Càn Nam Hải Tứ vị Thánh nương

Đền ở hai xã Diêm Hộ và Vạn Xuân huyện Thụy Anh. Sự tích xem ở phần tỉnh Nghệ An.








Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét