Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục/ VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên)- Tỉnh Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng

TỈNH HƯNG YÊN
Cổ tích
Đầm Nhất Dạ
Đầm ở huyện Đông Yên, gần với bãi Tự Nhiên ở huyện Thượng Phúc tỉnh Hà Nội. Tương truyền vua Hùng vương đem quân đi hỏi tội Tiên Dung, vì cách sông không kịp tiến quân nên đóng lại ở bãi Tự Nhiên. Nửa đêm hôm ấy bỗng nhiên trời nổi mưa to gió lớn, nơi ở của Chử Đồng Tử và Tiên Dung cả nhà cửa, người và gà chó trong chốc lát đều bốc cả lên trời, chỗ cũ hõm sâu biến thành đầm lớn. Người đời sau lập đền thờ phụng, gọi đầm ấy là đầm Nhất Dạ.
Dinh cổ Hiến Nam
Ở xã Nhân Dục huyện Kim Động, lị sở của trấn Sơn Nam thời Lê. Các nhà buôn người nước ngoài đều tụ tập cả về đây, gọi là vạn Lai Triều, cảnh vật hoa lệ, mái ngói nối tiếp nhau. Ở Bắc kì chỉ có Thăng Long với nơi này được coi là chốn đô hội mà thôi.
Lũy cổ nhà Mạc
Lũy ở mạn đông bắc huyện Diên Hà, đoạn trên bắt đầu từ xã Nông Canh nối tiếp đến đoạn dưới là xã Đông Quýnh. Tương truyền ngày xưa nhà Mạc bị nhà Lê truy bức phải đắp thành này để kháng cự, chỉ sau một đêm đã đắp xong.
Đền Tiền, Hậu Ngô vương
Đền ở xứ Kê Lạc huyện Tiên Lữ, thờ Tiền Ngô vương, Hậu Ngô vương và Thiên Sách vương, còn gọi là đền Kê Lạc. Mộ tổ của Ngô vương đặt tại đây, nay vẫn còn ở phía trước đền.
Đền Phạm Sứ quân
Đền ở huyện Kim Động. Thần họ Phạm, tự là Phòng Át, một trong mười hai sứ quân, chiếm giữ Nham Châu, bị thua ra hàng Đinh Tiên Hoàng, được cử làm Thân vệ Tướng quân. Sau khi mất được dân lập đền thờ.
Đền Nguyễn Sứ quân
Đền ở huyện Đông Yên. Thần họ Nguyễn, tên là Siêu, một trong mười hai sứ quân, chiếm giữ Tây Phù Liệt, đi đánh giặc bị thua, một kiếm một ngựa chạy về hóa tại địa phận sông Bái Xuyên, trải 3 tháng thi thể vẫn không nát, sắc mặt tươi tỉnh như khi còn sống. Dân chúng cho là người thần, đem an táng ngoài bãi cát rồi lập đền thờ phụng.
Đền Lí Thái úy
Đền ở huyện Kim Động. Thần họ Lí, tự Thường Kiệt. Sự tích xem ở phần tỉnh Hà Nội.
Đền Khuông Tín hầu họ Nguyễn
Đền ở huyện Đông Yên. Thần tên là Nguyễn Lang, Khai quốc Công thần nhà Lí, kiêm chức Hành dinh Tổng quản đạo Bắc Giang, tước Khuông Tín hầu, sau được tặng Quận công. Triều Lê phong là Thương đẳng thần và ban tặng 4 chữ "Thiết khoán như tại"
Đền Tiết độ sứ họ Lưu
Đền ở huyện Hưng Nhân. Thần họ Lưu, tự Khánh Đàm, người thôn Yên Lãng đến ở tại đây. Ông là công thần nhà Lí. Sau khi mất được dân lập đền thờ, có bia ghi chép.
Đền Tống Trạng nguyên
Đền ở huyện Phù Cừ. Tương truyền thần họ Tống, tên Trân, người xã này, không rõ sống vào thời nào. Sinh ra đã thông minh sáng láng, mới 5, 6 tuổi đã làu thông Thi, Thư và lục nghệ, 8 tuổi thi đỗ Trạng nguyên. Vâng mệnh đi sứ bị giữ lại hơn 10 năm mới được trở về. Sau khi mất được phong làm phúc thần. Trải các triều đều được tặng phong. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) được phong là Tuấn lương Lượng trực chi thần.
Đền Trạng nguyên họ Phạm
Đền ở huyện Hưng Nhân. Thần họ Phạm, húy Đôn Lễ, đỗ Trạng nguyên đời Hồng Đức, trải ba kì thi Hương, thi Hội, thi Đình đều đứng đầu, làm quan đến chức Thị lang. Hồi vâng mệnh đi sứ, ông thấy người phương bắc dệt chiếu, bèn học lấy nghề ấy mang về dạy lại cho dân trong xã, tổng, giúp dân có nghề sinh sống. Sau khi ông mất, dân tưởng nhớ ân đức của ông lập đền thờ. Triều ta nhiều lần ban sắc gia phong.
Đền Dương phi nhà Tống
Đền ở thôn Hương Dương huyện Kim Động, thờ Quí phi họ Dương nhà Tống. Các triều đều đã nhiều lần ban sắc gia phong.
Đền Lê Thánh Tông Hoàng hậu
Đền ở huyện Phù Cừ. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương.
Lăng mộ
Mộ Tổ nhà Trần
Ở xã Đại Đường huyện Hưng Nhân. Ngày xưa có bia ghi chép, đến nay bia ấy đã mất, chỉ còn lại bệ rùa mà thôi.
Lăng Tương Dực đế nhà Lê
Ở xã Bùi Xá huyện Hưng Nhân. Lăng được tu sửa và dựng bia vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1841).
Lăng Cung đế nhà Lê
Ở xã Phù Xá huyện Hưng Nhân. Lăng được tu sửa và dựng bia vào năm Minh Mệnh thứ 21 (18241).

TỈNH HẢI DƯƠNG
Cổ tích
Lũy cổ An Nhân
Lũy cổ ở xã An Nhân huyện Đường Hào, do Đoàn Thượng đắp nên khi chiếm cứ Hồng Châu vào hồi cuối đời Lí. Di chỉ nay vẫn còn.
Điện cổ Lạc Thị
Ở tổng Lạc Thị huyện Gia Lộc. Hành điện được dựng ở đây vào niên hiệu Thống Nguyên nhà Lê.
Thành cổ Phao Sơn
Ở xã Phao Sơn huyện Chí Linh. Thành được đắp vào năm Vĩnh Lạc nhà Minh, về sau nhà Mạc tu bổ mở rộng thêm. Di chỉ nay vẫn còn.
Vườn cổ Dược Sơn
Tại xã Dược Sơn huyện Chí Linh, là nơi ở ngày xưa của Hưng Đạo vương nhà Trần. Di chỉ nay vẫn còn.
Nhà cổ Tiều Ẩn
Ở sườn núi Phượng Hoàng xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh, là nơi ở ngày xưa của Chu Văn Trinh, hiệu là Tiều Ẩn. Nơi ấy nay xây dựng thành đền.
Lớp dạy học cổ của Trạng nguyên
Ở xã Linh Khê huyện Chí Linh, là nơi đặt lớp dạy học ngày xưa của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Ngày nay người trong huyện đã dựng đền thờ ở đấy.
Quán cổ Trung Tân
Ở xã Trung Am huyện Vĩnh Bảo. Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm khi về hưu đã dựng ngôi quán tại bến sông Tuyết Giang. Có bia đá và văn khắc.
Điện cổ Lũng Động
Ở xã Lũng Động huyện Chí Linh. Tổ tiên nhà Mạc vốn là người Lũng Động. Con cháu họ về sau di cư đến làng Cổ Trai. Sau khi tiếm ngôi lấy được nước quay về quê cũ ở Lũng Động xây điện Sùng Đức để thờ phụng tổ tiên.
Núi
Núi Côn Sơn
Núi ở huyện Chí Linh, trên có động Thanh Hư, dưới có ao gọi là Giếng Mắt Rồng. Trước mặt núi là dòng suối chảy quanh, có cầu Lạt vương, am Bạch Vân, đỉnh núi có chùa Tư Phúc, nơi vua Trần Thái Tông thường lên thăm viếng.
Núi Phượng Hoàng
Núi ở phía bắc huyện Chí Linh. Chân núi này có một cái giếng, trong giếng có chứa bùn đỏ, đem phơi khô bùn biến thành son, vì thế gọi là giếng Son.
Đền miếu
Miếu Lí Thần Tông
Miếu ở xã Hàm Hi huyện Tứ Kì. Nhiều địa phương ở các tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Miếu Trần Nhân Tông
Miếu ở xã Diên Lão huyện Tiên Minh. Nhiều địa phương ở các tỉnh hạt trong nam ngoài bắc đều có lập đền thờ.
Miếu Trần Trùng Quang đế
Miếu ở xã An Lão huyện Thanh Hà. Nhiều địa phương ở các tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Miếu Trần Huệ Vũ đế
Miếu ở xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh. Ông là người tôn thất nhà Trần, tự là Quốc Chẩn, dưới triều Trần Minh Tông làm quan đến chức Nhập nội Hành Khiển. Sau bị gian thần Trần Khắc Chung gièm pha hãm hại mà chết. Dân làng địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Hoàng thân nhà Trần
Đền trên đỉnh núi Yên Phụ huyện Giáp Sơn. Thần tên húy là Liễu Đô, khi đi đánh giặc miền đông qua đời trên núi này, được phong là Thượng đẳng thần.
Đền Tôn thất nhà Trần
Đền ở xã Hà Châu huyện Tiên Minh. Thần tên tự là Quốc Thành, từng theo Hưng Đạo Đại vương phá quân Nguyên ở bến đò Chương Dương, cửa quan Hàm Tử. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Trần Nhân Huệ vương
Đền ở xã Linh Giang huyện Chí Linh. Vương là tôn thất nhà Trần, tên tự là Khánh Dư, từng bị khiển trách tịch thu hết gia cư. Đến đời Trần Minh Tông lại được đắc dụng. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền thần Cao Sơn
Đền ở xã Lương Giản huyện Chí Linh. Tương truyền thần vốn giỏi nghề y, thường hóa thành người thường đi chữa bệnh. Một người có con mắc bệnh đậu gặp được một ông già nói rằng có thể chữa được bệnh ấy, liền rước về nhà, cho uống thuốc quả nhiên khỏi. Hỏi tính danh quê quán thì người ấy nói: Ta tên là Cao Sơn, quê ở xứ Đầu Hồ xã Lương Giản. Người ấy y theo lời tìm đến tạ thì thấy nơi ấy có ngôi đền cao sừng sững, cây cối mọc um tùm, bèn vào đền bái lễ rồi về. Từ đó lan truyền việc thần chữa bệnh. Nay đền vẫn còn. Nhiều địa phương ở các tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Đền thần Bắc phương Trấn Vũ
Đền ở xã An Cư huyện Gia Lộc. Sự tích xem ở phần tỉnh Bắc Ninh. Nhiều địa phương ở các tỉnh hạt Bắc kì đều có lập đền thờ.
Đền thần Đế Thích
Đền ở xã Liêu Hạ huyện Đường Hào. Người đời truyền rằng, vào năm Long Thụy thứ 2 (1055) đời Lí, có người làng Liêu Hạ tên là Trương Ba ba đời tu dưỡng làm điều thiện, lại đánh cờ rất giỏi, trong nước không có ai là đối thủ. Tìm sang Bắc quốc, gặp một ông lão tên là Kị Như cũng nổi tiếng giỏi cờ, bèn kết làm bạn. Một hôm hai người bảo nhau rằng, nghe đồn trên Thượng giới có Đế Thích là cao cờ nhất. Bao giờ gặp được sẽ cùng đấu trí với ông ta một phen. Dứt lời thì thấy có một ông lão mặc phanh áo, đội nón chống gậy đi đến xin cùng chơi một ván cờ. Thế rồi bày cờ ra đánh dăm ba ván ông lão đều thắng. Trương Ba kinh ngạc xin hỏi tính danh. Ông lão đáp: Ta là Tam thập tam thiên Đế Thích, nhà ta ở trên thượng giới. Hai người vội vàng quì xuống thềm vái lễ. Thần bèn lấy từ trong tay áo ra ba nén hương "trầm đàn giáng chân" đưa cho và dặn: Sau này gặp nạn thì đốt hương ta sẽ đến cứu. Nói xong bay lên trời đi mất. Hai người nhận hương đem cất kĩ, lâu ngày rồi cũng quên đi. Mãi về sau mắc bệnh mà chết, người nhà quét dọn mới tìm thấy mấy nén hương còn sót lại, đem ra đốt, thần bèn giáng trần, thấy hai người đều đã chết bèn triệu Công đồng Tam phủ tới hoàn hồn cho họ. Hai người lại được hồi sinh, bèn lập đền thờ thần. Ở đền có bia. Ngày nay nhiều địa phương ở các tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Đền thần Cao Vương

Đền ở xã Minh Loan huyện Đường An. Tương truyền thần là người Bắc quốc, họ Cao, tên Hiển, đỗ Tiến sĩ triều nhà Tống. Thời Khánh Lịch làm quan đến chức Thừa tướng. Khi người di ở phía đông làm phản, ông được sai đi hỏi tội, được phong làm Đại Thừa tướng, sau khi mất được tặng Đại vương, thiên triều lệnh cho các nước chư hầu lập đền thờ phụng. Lại có thuyết khác nói thần là Cao Biền đời Đường, được phong làm Bột Hải Quận vương, từng sang nước ta làm Tiết Độ sứ. Có thể hồi đó các tướng của Cao Biền có lập ra ngôi đền, về sau dân địa phương cũng nhân theo đó mà thờ. Ngày nay nhiều địa phương các tỉnh hạt trong nước đều có lập đền thờ.
Đền Phò mã nhà Trần
Đền ở xã Kim Độ huyện Thanh Lâm. Thần họ Kim, người xã này. Thời Lê Đại Hành, ông nhờ có tài văn học nên may mắn được chọn làm Phò mã lấy hai nàng Công chúa thứ 7 và thứ 8. Đến khi nhà Lí lên thay nhà Lê, ông lui về làng quê, triều đình nhiều lần đến vời nhưng không chịu ra, đến khi bị ép trao ấn thụ thì uống thuốc độc rồi chết. Hai nàng Công chúa cũng tự vẫn đi theo. Dân kính trọng nghĩa tiết cao cả của ông lập đền thờ ông làm Phúc thần.
Đền Triều nghị họ Đỗ
Đền ở xã Liêu Xuyên huyện Đường Hào. Thần họ Đỗ, trúng Tiến sĩ vào năm Trinh Phù đời vua Lí Cao Tông, làm quan đến chức Triều nghị Đại phu. Nhà ở của ông nay trở thành chùa, mé bên phải là đền thờ, trước đền có bia đá nhưng chữ khắc đã mờ mòn nhiều, nay vẫn còn.
Đền Thống lĩnh họ Ngô
Đền ở xã Cẩm Khê huyện Tiên Minh. Thần họ Ngô, tên là Lí Tín, là Thượng tướng quân dưới triều Lí Cao Tông, được thăng là Đốc tướng. Đi đánh Ai Lao được thăng Thái phó, dẫn đoàn thuyền theo đường biển trở về đến đây thì qua đời. Dân làng lập đền thờ phụng.
Đền thần Đông Hải
Đền được lập ở các xã Cẩm Giàng, Bái Dương, Đông Am tổng An Nhân huyện Đường Hào. Thần họ Đoàn, húy Thượng, người Thung Độ huyện Gia Lộc. Vào thời kì nhà Lí suy yếu bị họ Trần lấn bức, ông trước sau không theo nhà Trần, dựng đồn lũy ở An Nhân thuộc Hồng Châu, liên tiếp chiến đấu cầm cự lại quân nhà Trần, vừa đánh vừa lui. Vừa lúc gặp một bà lão đến bảo rằng, Thượng Đế đã hiểu rõ tấm lòng trung nghĩa của khanh. Ở xã này có một gò đất rồng, đó chính là địa cục được hưởng huyết thực muôn đời, Thượng Đế ban cho khanh đó. Đoàn Thượng cầm giáo nằm ngay xuống đó. Chỉ thoáng chốc hàng trăm nghìn con mối tha đất đến lấp kín. Về sau dân làng dựng ngôi đền ngay tại chỗ đó để thờ ông.
Đền Kinh lược sứ họ Nguyễn
Đền ở xã Vụ Bản huyện Giáp Sơn. Thần là Nguyễn Thung, Kinh lược sứ triều Trần, có công theo Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên. Sau khi ông mất, vua Trần Nhân Tông thương xót cho lập đền thờ phụng.
Đền thần Yết Kiêu
Đền ở xã Hạ Bì huyện Gia Lộc. Thần tên Yết Kiêu, là tướng của Hưng Đạo vương nhà Trần, lập được nhiều công tích trong chiến đấu đánh tan giặc Nguyên của Toa Đô, Ô Mã Nhi. Sau khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ phụng.
Đền Chu Văn Trinh
Đền ở xã Kiệt Đặc huyện Chí Linh thờ thần là Chu Văn Trinh. Quan Án sát sứ triều Lê là Lê Đản Bích đến đền làm bài văn bia khắc vào đá, nay vẫn còn.
Đền Nguyễn công
Đền ở xã Phạm Xá huyện Tứ Kì. Thần họ Nguyễn, tự Minh Biện, lám quan Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Thự vệ sự triều Lê. Thân phụ họ Trịnh của Hoàng hậu triều Nguyễn vì có quan hệ họ hàng bên ngoại với ông nên cho lập đền thờ ở quê hương. Đền được trùng tu vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), thần được phong là Trung đẳng thần.
Đền Minh Không Thiền sư
Đền ở xã Hán Lí huyện Vĩnh Lại. Thiền sư họ Nguyễn, tự Chí Thành. Thời trẻ cùng Từ Đạo Hạnh lên trụ trì chùa Vân Mộng, sau về làm cao tăng trong triều Lí, được vua Lí Thần Tông tôn làm Quốc sư. Tương truyền Thiền sư siêu hóa ở núi Tam Viên xã Hán Lí. Di tích nay vẫn còn.
Đền Hoàng Thái hậu nhà Lí
Do dân hai xã Cẩm Cầu và Cẩm Đới huyện Gia Lộc thờ phụng. Bà là Phu nhân Ỷ Lan, Hoàng hậu của vua Lí Thánh Tông, sinh ra Thái tử Càn Đức, về sau trở thành vị vua thịnh trị nhất triều Lí. Phu nhân được tôn là Hoàng Thái hậu. Sau khi bà mất dân hai xã lập đền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Bao Sơn
Chùa ở xã Phù Ủng huyện Đường Hào, do Phạm Ngũ Lão triều Trần xây dựng. Con gái của Phạm Ngũ Lão là Thuận phi của Trần Anh Tông, hiệu Tĩnh Huệ, một hôm lên thăm chùa, cảm thán nói rằng: Chùa này do tiên quân ta xây dựng nên. Thế rồi tiến hành trùng tu lại chùa, ở phía đông dựng tòa từ đường thờ tổ tiên. Vua Minh Tông đến thăm chùa cảm kích tấm lòng hiếu kính của bà, ban cho một tấm biển.
Chùa Minh Khánh
Chùa ở xã Hương Đại huyện Thanh Hà, xây dựng từ triều nhà Lí, trùng tu vào niên hiệu Hồng Đức nhà Lê. Trong chùa thờ vua Trần Nhân Tông.
Chùa Lệ Kì
Chùa ở núi Phượng Hoàng phía bắc huyện Chí Linh, Ở đây còn có cung Tử Cực, điện Lưu Quang là di tích đời Trần, nay vẫn còn.
Chùa Dương Nham
Chùa trong động trên núi thuộc xã Dương Nham huyện Giáp Sơn. Ở giữa thờ Phật, bên trái thờ tượng Thiền sư Không Lộ, Đạo Hạnh và Huyền Quang, bên phải thờ tượng vua Trần Anh Tông. Phong cảnh trong động đẹp đẽ, tịch mịch, có thơ của Thuần Hoàng đế đời Lê  khắc trên vách đá, nay vẫn còn.
Chùa Hưng Long
Chùa ở xã Hán Lí huyện Vĩnh Lại, do Không Lộ Thiền sư xây dựng, dân trong thôn tạc tượng Thiền sư để thờ.
Chùa Quang Minh
Chùa ở xã Hậu Bổng huyện Gia Lộc. Ngày trước, nhà sư Huyền Chân trụ trì ở chùa, mộng thấy Phật Di Đà tới bảo: Ngươi từ lâu đã có công với Phật giáo, tấm lòng thiện ấy đã thấu lên cõi huyền vi, kiếp sau cho được làm vua ở Bắc quốc. Tỉnh giấc, dặn lại các  đồ đệ rằng, sau khi siêu thoát, hãy lấy bút son ghi lên vai ông 10 chữ "An Nam quốc Quang Minh tự Sa Việt Tỳ khưu". Thế rồi ông hóa. Các sư làm y lời dặn và đưa hỏa táng, lưu giữ xá lị vào trong tháp đá. Đến năm Hoằng Định đời Lê, Nguyễn Tự Cường được sai đi sứ Bắc quốc. Vua Minh Thế Tông vời vào hỏi: Khanh có biết chùa Quang Minh ở nước khanh ở đâu không? Tự Cường đáp không biết. Vua minh lại nói: Khi trẫm mới sinh ra, trên vai đã có vết chàm hình nét bút son, theo ý chữ ghi thì rõ ràng kiếp trước trẫm là sư ở chùa ấy. Nay muốn tẩy xóa vết chữ ấy đi thì làm thế nào? Tự Cường đáp: Thần nghe nói nhà Phật có phương pháp lấy nước công đức để tẩy trần. Nếu quả Hoàng thượng là kiếp sau của nhà sư thì hãy lấy nước giếng của chùa ấy mà tẩy rửa. Vua bảo: Khanh về nước hãy gắng tìm lấy nước đó dâng lên. Tự Cường trở về, đem sự việc tâu triều đình, cho tìm kiếm khắp các châu huyện, mãi mới tìm được nước giếng chùa này. Lần đi sứ sau đem dâng, vua Minh dùng nước rửa nét chữ quả nhiên biến mất, tấm tắc khen là kì lạ, rồi xuống dụ ban tặng cho 300 lạng vàng mang về trùng tu chùa để tôn vinh sự linh thiêng kì dị của nước Nam.

HẢI PHÒNG
Cổ tích
Tháp cổ Đồ Sơn
Tháp ở xã Đồ Sơn huyện Nghi Xuân, cao hàng trăm thước, dựng từ niên hiệu Long Thụy Thái Bình đời nhà Lí. Năm Gia Long thứ 3 (1804) tháp bị phá hủy để lấy gạch xây thành tỉnh Hải Dương.
Lũy cổ Ngọa Vân
Lũy trên đỉnh núi Thiếp Tử xã Nam Mẫu huyện Đông Triều. Khi vua Trần Nhân Tông băng hà, thi thể quàn trong một khối đá lớn gọi là đá Niết bàn rồi đưa vào hỏa đàn thiêu hóa, một nửa xá lị được đưa đi cất ở Đức lăng, còn một nửa cất ở tháp này. Đến đời Chính Hòa triều Lê tiến hành xây thành chùa, nhưng về sau chùa bị đổ chỉ còn lại tháp.
Kinh cổ Nghi Dương
Ở xã Cổ Trai huyện Nghi Dương. Họ Mạc tiếm ngôi đặt ra Dương Kinh. Khi nhà Lê Trung hưng đã cho lấp mộ, chặt bia, đốn cây cối ở xung quanh.
Lũy cổ Tiên Hội
Di chỉ lũy cổ ở trên đỉnh núi Tượng Sơn xã Tiên Hội huyện An Lão, do nhà Mạc đắp nên. Trên đồi núi Diễm Khê huyện Thủy Đường cũng có ngôi thành cổ của nhà Mạc.
Làng Thiên Lôi
Ở hai xã An Dương và Vĩnh Niệm huyện An Dương. Ngày xưa có người làng Vĩnh Niệm tên là Phạm Tử Nghi có sức khỏe như thần. Tục kể rằng Tử Nghi từng đắp đoạn đê dài ước 3 dặm, trên mặt đê ở hai đầu đắp ụ đất cao 5 thước. Tử Nghi cầm gậy đi đến ụ đất gạt một cái, ụ đất bay hết sạch. Đê ấy nay vẫn còn.
Núi
Núi Yên Tử
Núi ở mạn đông bắc huyện Đông Triều, nổi tiếng được các vua Trần lấy làm nơi dựng am tham thiền. Phía nam núi có am Tử Tiêu. Viện Thạch Thất do vua Trần Nhân Tông xây dựng. Trên núi có chùa Giải Oan, chùa Thanh Thạch (Đá Xanh). Quả núi ở bên phải gọi là núi Hạ Kiệu, vua Trần Anh Tông đi đến đây thì lên xe nên có tên như thế. Ở giữa có 3 tòa am. Còn có chùa Hoa Yên, chùa Vân Tiêu và chùa Đồng do nội nhân họ Trịnh xây dựng, mái lợp toàn bằng ngói đồng, đúc tượng đồng. Đến thời Cảnh Hưng nhà Lê di chỉ chùa vẫn còn. Phía dưới chùa có bàn cờ, quân cờ toàn bằng đá xanh, tạc khắc đường nét chữ rất tinh xảo, không biết có từ thời nào.
Núi Thiên Kì
Núi ở huyện Đông Triều. Các vua Trần thường xa giá đến thăm dừng chân ở lại. Phong cảnh rất đẹp.
Núi Dương Nham
Núi ở phía bắc huyện Giáp Sơn. Núi vươn cao nhất, có bài thơ đề vịnh của Phạm Sư Mạnh đời Trần khắc trên vách đá, nay vẫn còn. Trong núi này có 3 hang đá và miếu thờ Lí Thần Tông.
Đền miếu
Miếu Trần Minh Tông
Miếu ở xã An Sinh huyện Đông Triều. Nhiều nơi ở các tỉnh phía bắc đều có đền thờ.
Miếu Trần Hoàng tôn
Miếu ở xã Tràng Kênh huyện Thủy Đường. Thần là cháu thứ của vua Trần, tự Quốc Bảo, đem quân đi đánh giặc Phạm Bá Linh ở sông Bạch Đằng từng trú quân ở xã này. Sau khi ông mất, dân địa phương ở chân núi Phỉ Sơn lập đền thờ phụng.
Đền Thủy thần Đồ Sơn
Đền ở chân núi xã Đồ Sơn huyện Nghi Dương, thờ Thủy thần.
Đền Phạm Quận công
Đền ở huyện Giáp Sơn. Thần người huyện này, thi đỗ Tiến sĩ vào niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê, có tài văn võ, đánh dẹp giặc Đông Hải, được thăng chức Thượng thư, tước Quận công, sau khi mất được tặng tước Vương, lập đền thờ phụng.
Đền thần Hiển Linh
Đền ở xã Chung Linh huyện Thủy Đường. Thần là con trai thứ 5 của Hưng Đạo vương, tên là Hưng Trí, theo cha đi đánh giặc Nguyên, lập chiến công. Trở về xã này chiêu tập dân lưu tán làm ăn. Sau khi mất được dân bản xã lập đền thờ.
Đền Phạm Thượng thư
Tại các xã An Lão, Khinh Dao, Thanh Liễu huyện Giáp Sơn đều có đền thờ ông. Thần là Phạm Ngũ Lão, tài năng hơn người, từng phò nhà Trấn đi chinh phạt Ai Lao, đánh dẹp Chiên Thành, lập nhiều chiến công, trở thành viên tướng nổi tiếng, làm quan Chưởng ngũ phủ Thượng tướng quân. Ông là người sống giữ gìn phẩm hạnh, ham thích đọc sách, ngâm thơ. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ.
Đền Phạm Tướng quân
Đền ở xã Ngư Uyên huyện Giáp Sơn. Thần tên là Phạm Luân, khi giặc Minh sang xâm lược, ông cúng với các em 6 người cùng theo Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, có nhiều công trạng, được tặng Đại tướng quân, tước Vương. Về sau đánh nhau với giặc ở Kì Sơn, quân ta thế yếu không chống cự nổi giặc, 6 anh em nhà ông cùng tuẫn tiết. Về sau, Lê Thái Tổ thương xót công lao của ông sai lập đền thờ phụng.
Đền Phạm Tử Nghi
Đền ở hai xã An Dương và Vĩnh Niệm huyện An Lạc. Ông làm quan Thái úy triều Mạc, tước Tứ Âm hầu. Về sau ra chiếm cứ Quảng Yên, rồi thâm nhập vào đất người Minh, quân đội tung hoành khắp vùng Quảng Đông, Quảng Tây, người Minh không sao kiềm chế nổi. Sau khi mất được dân bản thôn lập đền thờ. Năm Chính Hòa đời Lê đền được dựng bia. Nhiều địa phương ở phía bắc cũng có đền thờ ông.
Chùa quán
Chùa Tường Vân
Chùa cổ trên núi Yên Phụ, phía bắc huyện Giáp Sơn. Vào năm Hoằng Định đời Lê phát tiền trong công khố ủy cho Nam Nhạc Thiền sư tiến hành trùng tu chùa. Nay vẫn còn di chỉ.
Chùa Quang Khánh
Chùa ở xã Dưỡng Mông huyện Kim Thành. Cao tăng đời Trần là Ông Ái từng trụ trì tại chùa này, được vua Trần Minh Tông phong làm Từ Giác Quốc sư, lại cấp tiền để tu sửa mở mang nhà chùa, gọi là Quang Khánh tự. Đời Hồng Đức, Thuần Hoàng đế đã đề bài thơ khắc vào đá ở chùa, nay vẫn còn.
Chùa Quỳnh Lâm
Chùa ở núi Quỳnh Lâm xã Hà Lôi huyện Đông Triều, do Thiền sư Nguyễn Minh Không đời Lí xây dựng, tạc tượng đồng đặt thờ trong chùa. Vua Thái Tông, Nhân Tông nhà Trần thường lui tới thăm viếng. Trước chùa có viện Quỳnh Lâm và am Bích Động.
















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét