Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên)- Tỉnh Sơn Tây- Tỉnh Hưng Hóa - Tỉnh Tuyên Quang

TỈNH SƠN TÂY
Cổ tích
Phế thành An Dương vương
Tại thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc hiện có một gò đất, đó là di chỉ của thành này.
Phế lũy Trưng Vương
Ở xã Cư An huyện Yên Lãng. Có hai lũy nằm cách nhau không xa. Di chỉ nay vẫn còn.
Phế thành Kiểu Sứ quân
Ở xã Phù Lập huyện Bạch Hạc, thành do Sứ quân Kiểu Công Hãn đắp nên, tục vẫn gọi là thành nội, thành ngoại, đó chính là thành này.
Vịnh Nguyễn Gia
Đó là một đầm nước sâu ở chân núi Biện Sơn xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc, tương truyền Sứ quân Nguyễn Khoan chiếm cứ vùng Tam Đới, chính là nơi đây.
Phế thành Đa Bang
Thành ở hai xã Vân Hội và Cổ Pháp huyện Tiên Phong, tục gọi là thành Cựu. Nhằm chống lại quân Minh sang xâm lược, Hồ Quí Li sai Hoàng Hối Khanh đắp thành Đa Bang . Thành bao quát rất rộng để chống giặc.
Phế thành Kiểu công
Thành ở xã Trương Xá huyện Cẩm Khê, do Sứ quân Kiểu Thuận đắp. Di chỉ hiện vẫn còn.
Phế thành Văn Phú
Thành ở xã Văn Phú huyện Hạ Hòa. Thành xây bằng gạch đất, nay vẫn còn. Tương truyền là do quan Trấn thủ Tuyên Quang Vũ Văn Mật xây đắp vào thời Lê Trung hưng, tục gọi là thành Chúa Bầu.
Phế thành Tang Lâm
Tục gọi là thành Bầu, ở xã Phú Thọ huyện Sơn Vi. Di chỉ nay vẫn còn. Tương truyền là do quan Trấn thủ Tuyên Quang Vũ Văn Mật xây đắp vào thời Lê Trung hưng.
Phế thành Dục Mĩ
Di chỉ thành cũ nay vẫn còn ở xã Dục Mĩ huyện Sơn Vi, Không rõ được đắp từ thời nào.
Phế thành Câu Lậu
Thành cổ ở huyện Thạch Thất, không rõ được đắp từ thời nào.
Phế thành Bình Đạo
Ở huyện Yên Lãng. Tương truyền do An Dương vương đắp nên để ở, hoặc cũng có người nói đó là thành cổ Phong Khê.
Phế thành Tam Đới
Thành cổ ở bờ bắc sông Phú Lương, không rõ được đắp từ thời nào.
Núi
Núi Tản Viên
Núi nằm ở địa giới hai huyện Tòng Thiện và Bất Bạt. Mạch núi bắt đầu từ Mường Thanh châu Ninh Biên trập trùng tầng lớp đổ về, từng dải kéo dài, nổi lên ba ngọn hình dáng tựa như cái dù, dàn ngang đến khoảng giữa hai dòng sông ở Lâm Thao, cảnh sắc thanh tú, khí thế trang nghiêm, là ngọn núi trấn giữ cho cả nước. Hai chỗ cao nhất của núi có hai ngôi đền thờ Thượng đẳng linh thần. Tại đỉnh núi, sườn núi và chân núi cũng có các đền Thượng, đền Trung và đền Hạ, hình dáng đẹp đẽ linh thiêng không thể kể xiết.
Núi Tùng Sơn
Núi ở huyện Tiên Phong. Ngày xưa Đinh Tiên Hoàng đi đánh dẹp Sứ quân Nguyễn Khoan thường nghỉ chân tại núi này.
Núi Sài Sơn
Còn gọi là núi Phật Tích, ở phía bắc huyện Yên Sơn. Trên núi có chùa Thiên Phúc, đằng sau là chùa Bối Am, chùa Tư Phúc, am Cực Lạc. Trên đỉnh núi có hang đá, trong hang còn lưu lại dấu chân người khổng lồ. Vào đời Cảnh Thống dựng bia ghi chép, nay vẫn còn.
Núi Tam Đảo
Núi ở phía bắc huyện Tam Dương. Có ba đỉnh núi vươn cao, giữa là Thạch Bàn, phía bên trái Thạch Bàn là Thiên Thị, bên phải là Phù Nghĩa, vì vậy có tên Tam Đảo. Trên ngọn Thạch Bàn có di tích bàn cờ tiên, xung quanh hơn nửa mẫu, bên dưới có suối nước lượn vòng 11 khúc. Lưng chừng núi có chùa Tây Thiên, tre xanh thông biếc, phong cảnh thanh cao khoáng đạt. Trên đỉnh có chùa Cổ Động. Từ chùa theo suối Giải Oan vượt núi đến Liên Hồ (hồ Sen). Bên ngoài hồ, hai bên có suối. Dòng bắt nguồn từ sườn núi chảy xuống gọi là Ngân tuyền, dòng chảy ra từ khe đá đầu núi gọi là Kim tuyền. Từ chùa bên phải đến chùa đá cách hơn trượng, nhà toàn bằng vách đá, hai cánh cửa đóng kín bằng khóa sắt. Đá ở phía trên có khắc dòng chữ triện "Địa ngục tự", không rõ có từ thời nào. Hai dòng suối hợp lại ở trước Liên Hồ rồi lại quanh co chảy xuống hợp với suối Giải Oan. Từ hồ trở xuống tương đối bằng phẳng, có tường thành đá sừng sững, bên trong là ba nền đất, có dựng 8 phiến đá vuông như như hình bát bộ Kim cương. Có một tấm bia có khắc chữ "La Thành bất loạn", bên cạnh khắc dòng chữ "Minh Thượng thư Hoàng Phúc cẩn đề". Từ đây đi lên tới chùa Đồng, toàn đúc bằng đồng, bên trong có tượng Phật, không rõ đúc từ thời nào.
Núi Nga Sơn
Núi ở xã Bồ Lí huyện Tam Dương. Trên núi có miếu thờ bảy vị thần núi Lỗ Đinh Sơn. Sau miếu có một khóm tre, tương truyền rằng bảy vị thần tướng triều Trần đem quân đi dánh giặc Mông Cổ đến núi này thì dừng chân nghỉ hút thuốc lào, hút xong cắm ống điếu xuống đất. Về sau ống điếu nảy măng non mà thành bụi tre. Người ở đây không ai dám đốn chặt.
Đền miếu
Miếu Hậu Lí Nam đế
Miếu ở xã Hương Nha huyện An Lạc. Vua họ Lí, nguyên là tướng trong dòng họ vua Tiền Lí Nam đế, dấy binh diệt Triệu Quang Phục, kế tiếp lấy hiệu là Nam đế, dời đô tới Phong Châu. Sau khi mất được dân địa phương lập miếu thờ phụng.
Miếu Tiền Ngô Vương
Miếu ở xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ. Vương người bản xã, họ Ngô. Lúc sinh ra có ánh sáng lạ tỏa khắp nhà. Lớn lên tinh thông thao lược, thời Ngũ Đại làm Nha tướng cho Dương Đình Nghệ cai quản vùng Ái Châu. Dương Đình Nghệ bị Kiểu Công Tiễn sát hại, ông cử binh giết chết Kiểu Công Tiễn. Vua Nam Hán sai con là Hoằng Tháo sang cứu Công Tiễn, ông lại giết chết Hoằng Tháo, rồi tự lập lên làm vua. Sau khi ông mất, con trai là Ngô Xương Văn dựng miếu thờ ở quê cho dân làng thờ phụng. Năm Quang Thái thứ 3 (1390) dân dựng bia ở miếu, nay vẫn còn.
Miếu Lê Đại Hành Hoàng đế
Miếu ở xã Mộ Chu huyện Bạch Hạc.
Đền Hai Bà Trưng
Đền ở xã Hát Môn huyện Phú Thọ. Hai Bà người Lộc Lãnh, Phong Châu, nay là huyện Yên Lãng, vốn mang họ Hùng. Chị tên là Trắc, hận Tô Định giết hại chồng mình, bà cùng em gái là Nhị dấy binh vây hãm trị sở của châu, bình định 65 thành trì ở vùng Lĩnh Nam, tự lên ngôi vua, đổi thành họ Trưng. Về sau bị Mã Viện đánh bại. Sau khi mất, nhân dân tưởng nhớ Hai Bà, dựng đền thờ ở cửa sông Hát Môn. Ngày nay nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì đều có đền thờ Hai Bà.
Đền Bố Cái Đại vương họ Phùng
Đền ở xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ. Vương người bản xã, họ Phùng, sinh ra trong một gia đình giàu sang quyền thế, lại có sức khỏe, có thể can trâu hăng, vật hổ dữ. Vào năm Trinh Nguyên nhà Đường, quan Đô họ là Cao Chính Bình thi hành chính sách cai trị thuế má nặng nề, hình phạt hà khắc, dân chúng không sao sống nổi, bèn suy tôn ông làm vua rồi đánh bắt Cao Chính Bình, thống nhất cai trị đất nước trong 11 năm. Sau khi ông mất, con trai lên nối ngôi, suy tôn ông là Bố Cái Đại vương. Sau được dân địa phương lập đền thờ phụng. Năm Hồng Đức đời Lê trùng tu đền, dựng bia, hiện vẫn còn. Ngày nay nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì đều có đền thờ phụng.
Đền Thiên Sách vương họ Ngô
Đền ở hai xã Ngọc Canh và Hương Canh . Ông là con trưởng của Tiền Ngô Vương. Khi em trai là Xương Văn lên ngôi, ông cùng em trông coi việc nước, xưng là Thiên Sách vương.
Đền Nguyễn Sứ quân
Đền ở hai xã Vĩnh Mỗ, Tiên Mỗ huyện Yên Lạc. Thần người huyện Yên Lạc, họ Nguyễn, là một trong 12 Sứ quân, tự xưng là Nguyễn Thái Bình, đem quân chiếm cứ Nguyễn Gia Loan ở Tam Đới. Sau khi mất được dân địa phương lập miếu thờ phụng.
Đền Sơn thần núi Tản Viên
Đền ở sách Thủ Pháp huyện Bất Bạt. Có ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ. Tương truyền có ba vị thần là Nguyễn Hương, Nguyễn Tuấn và Nguyễn Lang. Có thuyết nói thần tên là Hương, là con của Lạc Long Quân, sống vào thời Đường Nghiêu, có phép tiên, có thể diệt trừ thủy tai. Về sau lại đánh quân Thục, rồi đi du ngoạn các danh thắng trong nước, đến núi Tản Viên dựng cung điện ở lại. Về sau được dân địa phương lập miếu thờ phụng. Sơn thần rất linh thiêng, ở đền thường có hạc múa voi quì, rồng cuộn hổ ngồi. Cao Biền muốn yểm nhưng không được. Thời vua Ý Tông đời nhà Đường ban cho tiền vàng để sửa chữa đền. Nay vẫn còn. Tương truyền con gái vua Hùng là Mị Nương kén chồng, có hai chàng trai, một chàng tự xưng là Sơn Tinh, một chàng là Thủy Tinh đến xin cầu hôn. Hùng vương hẹn rằng ai đưa sính lễ đến trước thì sẽ gả con gái cho. Hôm sau, Sơn Tinh biện lễ vật đem đến trước, được đón Mị Nương về núi Tản Viên. Thủy Tinh đến lỡ, bèn dẫn các loài thủy tộc đuổi theo, nhưng vì Sơn Tinh có phép thần biến hóa nên Thủy Tinh không làm gì được. Tương truyền Sơn Tinh chính là Nguyễn Tuấn. Theo sách Địa Dư chí của Nguyễn Trãi đời Lê, vua Lí Nhân Tông sai dựng đền thờ ở đỉnh ngọn núi thứ nhất, có lầu cao 12 tầng, nay vẫn còn. Ngoài nơi này ra, nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì cũng đều có đền thờ phụng.
Đền Sơn thần núi Tam Đảo
Đền ở xã Sơn Đình huyện Tam Dương, không rõ có từ thời nào. Nay vẫn còn tượng đồng thờ ở trong đền. Tương truyền đền thờ Sơn thần núi này. Vào triều Lê, quân triều đình đi đánh giặc Ngọc Bội, được thần hiển linh phù hộ. Thắng trận trở về phong cho thần là Thượng đẳng thần.
Đền thần Tam Giang
Còn gọi là quán Thông Thánh ở xã Bạch Hạc huyện Bạch Hạc. Vào niên hiệu Vĩnh Huy nhà Đường, Đô đốc Phong Châu là Nguyễn Thường Minh xây dựng quán Thông Thánh ở bờ sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh để thờ.
Đền thần Sanh Uyên
Đền ở thôn Cát xã An Nhiên huyện Bạch Hạc. Vực Sanh rộng 12 mẫu, sâu không nhìn thấy đáy, bên dưới có loài cây sanh, nên đặt tên là vực Sanh. Tương truyền ngày trước ở tây nam thôn này có một ngôi miếu cổ, thờ hai vị thần là vua Lí Nam đế và Thông phán Dương Đường. Xung quanh có nhiều hoa thơm cỏ lạ tạo thành rừng. Phía tây khu rừng là chợ. Mé đông của chợ có chùa. Thế rồi một hôm bỗng dưng đất bị nứt ra, trong chốc lát chỗ đó lõm xuống như miệng giếng, cả chợ và chùa biến thành cái vực sâu. Rồi lại có một tượng đá nhô lên, trên có đề chữ "Linh uyên", các loài thủy tộc bỏ cả ra biển, Long vương khi ấy mới tới bệ của đền thì chợt biến mất. Về sau dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Cao Vương
Đền ở xã Khê Xuyên huyện Yên Lãng, thờ thần họ Cao. Sự tích xem ở phần tỉnh Hải Dương. Nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì đều có đền thờ phụng.
Đền Tử Chàng Đế quân
Đền ở xã Hoàng Xá huyện Yên Sơn. Thần họ Trương, sống vào thời nhà Tấn, sau chuyển tới Tử Chàng thuộc Thục quận sinh sống. Tuổi trẻ thi đỗ, là một danh sư thời nhà Thục, có công phát triển Nho giáo. Sau khi ông mất, các học trò dựng đền thờ, đề biển "Văn Xương quân từ". Vua Đường Minh Hoàng tấn phong cho hiệu Vương, đời sau lại gia phong hiệu Đế. Vào đời Hồng Đức nhà Lê, quan Thượng thư Nguyễn Địch Tâm đi sứ Bắc quốc xin được tượng của ông ruớc về nam rồi dựng đền tại xã Hoàng Xá để thờ.
Đền Lí Thiếu úy
Đền ở xã Yên Sở huyện Đan Phượng. Thần người xã này, thời trẻ có tài năng hơn người, thờ vua Lí Nam đế có nhiều công lao lớn, nổi tiếng là trung liệt, được phong làm Tướng quân, cai quản hai xã Đỗ Động, Đường Lâm, giặc man di bặt tăm, dân chúng được sống yên ổn. Lại cất quân đánh bại Lâm Ấp. Vua Nam đế khen ngợi công lao bình định giặc man, nên ban cho tên là Phục Man, được mang họ Lí, thăng chức làm Thiếu úy. Về sau đi trấn Lâm Ấp, bị người Chiêm đánh lại, thua trận phải tự vẫn. Thi hài mang về an táng tại bến Hồ Mã ở bờ sông của xã Cổ Sở. Về sau, vua Lí Thái Tổ khi đi thăm các địa phương đến bến Cổ Sở, đang đêm mộng thấy thần hiện ra, tự xưng là Lí Phục Man đến trước mặt vái lễ và ngâm bải thơ. Vua bèn sai dựng đền, tạc tượng thờ phụng quanh năm. Vào niên hiệu Cảnh Trị đời Lê, Nguyễn Tuấn Ngạn soạn bài văn bia của đền, nay vẫn còn.
Đền thần Đô Thống
Đền ở xã Đồng Bảng huyện Tòng Thiện. Tương truyền thần là người xã này, thân cao một trượng, sức khỏe có thể nâng vật nặng trăm cân. Vào đời nhà Trần có giặc phương bắc tới xâm lược, quân lính đóng đồn ở dọc bờ sông Bạch Hạc và Sơn Vi. Thần cầm gậy sắt đánh cho giặc thua tan tành. Vua Trần ban cho 8 chữ: "Nam thiên tráng khí, Bắc khấu hàn tâm". Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ phụng, gọi là đền Đô Thống.
Đền Thượng thư họ Nguyễn
Đền ở xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch. Thần thi đỗ Tiến sĩ đời Hồng Đức, làm quan đến chức Hộ bộ Thượng thư, đã về hưu trí. Bấy giờ nhà Mạc tiếm ngôi. Con trưởng của ông là Nguyên đi theo nhà Mạc, ông bèn phế bỏ, lập con thứ làm người thừa tự, rồi hướng về phía Lam Sơn khóc mà tự vẫn. Đến đời Lê Trung hưng, ông được triều đình ban khen là tiết nghĩa, lập đền tế lễ, thờ phụng.
Đền Thượng thư họ Phùng
Đền ở xã Phùng Xá huyện Thạch Thất. Ông thời trẻ nổi tiếng về tài văn học, không chịu ra ứng thí khoa thi của nhà Mạc. Đến năm Quang Hưng thứ 2 (1579) thi đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, làm quan giữ chức Công bộ Tả Thị lang, sung vào đoàn sứ bộ đi sứ Bắc quốc, được vua Thanh khen ngợi tài năng và ban thưởng. Trở về ông được thăng làm Hộ bộ Thượng thư, tấn thăng Thái phó, tước Quốc công. Sau khi mất được tặng Thái tể. Năm Gia Long nguyên niên (1802) được liệt vào danh sách Trung hưng Công thần, cho hậu duệ của ông được tập ấm để trông coi việc thờ tự.
Đền Tham chính họ Nguyễn
Đền ở xã Lí Hải huyện Yên Lãng. Thần thi đỗ Tỉến sĩ vào niên hiệu Đoan Khánh, nhưng không nhận, đến niên hiệu Hồng Thuận lại thi đỗ, ra làm quan giữ chức Tham chính. Gặp khi nhà Mạc cưỡng đoạt ngôi nhà Lê, ông chỉ huy hương binh chống lại, đánh nhau bị thua, phải tự vẫn. Đến thời Trung hưng, ông được ban khen ghi nhận là tiết nghĩa, phong là Phúc thần.
Đền Thị lang họ Lê
Đền ở huyện Thiên Lộc . Thần là Tiến sĩ đời Hồng Đức, làm quan đến chức Lễ bộ Hữu Thị lang. Khi nhà Mạc tiếm ngôi, ông theo vua Lê Chiêu Tông về Thanh Hóa, bị giặc bắt, tự vẫn mà chết. Sau khi Trung hưng nhà Lê, ông được ban khen ghi nhận là tiết nghĩa, phong là Phúc thần.
Lăng mộ
Mộ Bố Cái Đại vương họ Phùng
Mộ ở xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ.
Mộ Tiền Ngô Vương
Mộ ở xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ.
Mộ Lí Phục Man
Mộ ở xã Yên Sở huyện Đan phượng .
Chùa quán
Chùa Thiên Phúc
Chùa ở chân núi Sài Sơn  huyện Yên Sơn, ngày xưa gọi là am Hương Hải, hoặc còn có tên là viện Bổ Đà. Chùa bên trái thờ tượng Thiền sư Từ [Đạo Hạnh], bên phải thờ tượng vua Lí Thần Tông, ở giữa thờ Phật. Thiền sư họ Từ, tên Lộ, tự Đạo Hạnh, người Hà Nội, là vị cao tăng nổi tiếng ở đời, lên tu hành tại chùa này. Phía trước chùa có 70 mẫu ruộng, tương truyền là ruộng của nhà sư, nay là ruộng tự điền của dân thôn sở tại. Thời ấy, vua Lí Nhân Tông tuổi cao mà chưa có con trai kế vị, bèn nói với Đạo Hạnh xin cầu tự. Đạo Hạnh hẹn với vua rằng, khi nào Phu nhân sắp sinh hãy đến báo trước cho mình. Nhân Tông theo hẹn đến báo, Đạo Hạnh liền thay quần áo bước vào khám trút xác mà hóa. Phu nhân liền sinh ra Thần Tông. Đến đời Quang Thuận, Trường Lạc Hoàng hậu cũng đến đây cầu tự, bỗng nhiên có một hòn đá từ trong hang bay ra. Hoàng Hậu mang về tạc thành tượng Phật để thờ, sau đó bà sinh ra vua [Lê] Hiến Tông. Đến năm Cảnh Thống, vua sắc cho dựng bia am Hiển Thụy, nay vẫn còn .
Chùa Hoa Long
Chùa ở bờ sông thôn Việt Trì huyện Bạch Hạc, không rõ có từ thời nào. Bên cạnh chùa có một bàn đá trượt rơi xuống bến sông, trên có dấu chân người khổng lồ.
Chùa Tây Thiên
Chùa nằm trên núi Tam Đảo thuộc địa phận xã Sơn Đình huyện Tam Dương, không rõ có từ thời nào, lần lượt được trùng tu vào các niên hiệu Long Đức, Chính Hòa, Bảo Thái. Các tấm bia ghi chép hiện vẫn còn.
Chùa Quảng Nham
Chùa trên núi xã Tiên Lữ huyện Yên Sơn. Ngày trước có một người ở Quảng Oai họ Nguyễn, tự Bình An trụ trì ở chùa này, tương truyền là vị chân nhân đắc đạo. Từ đời Trần trở về sau sắc phong cho ông là Đại Từ Bi Bồ tát. Triều ta cũng gia phong cho là Xung tịnh Trạm không Mặc linh Đoan túc chi thần.

TỈNH HƯNG HÓA
Cổ tích
Cựu trấn Hưng Hóa
Tại xã Phương Giao huyện Thanh Sơn có tòa thành cổ, từ niên hiệu Quang Thái đời Trần trở về sau là trị sở của trấn Thiên Hưng. Từ thời Hồng Đức nhà Lê mới đặt ra Tam ti, trị sở của trấn đặt nhờ ở xã Cổ Pháp huyện Tiên Phong; hai ti Thừa, Hiến đặt nhờ ở Trình Xá huyện Sơn Vi Sơn Tây. Từ Lê Trung hưng về sau, trị sở Tam ti hợp lại ở Cổ Pháp. Sau đó bỏ hai ti Thừa, Hiến, còn Trấn ti dời trị sở đến động Bách Liêm huyện Trấn Yên, rồi lại đặt nhờ ở xã Trúc Phê huyện Tam Nông.
Bia cổ Hoài An
Bia trên núi đá ở thượng lưu sông Phá Giang, Lai Châu. Năm Thuận Thiên thứ 4 (1431), vua Lê Thái Tổ thân chinh Đèo Cát Hãn qua đây làm bài văn bia và lời Tự khắc vào đá, nay vẫn còn.
Bia cổ Hào Trang
Bia trên núi Thác Pha huyện Đà Bắc. Trên sườn núi có tảng đá lớn có khắc một bài thơ của vua Lê Thái Tổ kèm lời tiểu dẫn. Bia ấy nay vẫn còn.
Lũy cổ Ngọc Uyển
Lũy ở châu Thủy Vĩ, tương truyền ba cha con Gia Quốc công Vũ Văn Mật dựng lũy ở xứ Ngọc Uyển Trung Đô cầm cự đánh nhau với quân Mạc trong hơn 20 năm. Nay vẫn còn sót lại một vài đoạn đá xếp. Ở đây còn có 3 ngôi đền do dân địa phương thờ phụng rất linh thiêng.
Thành Thủy Vĩ
Giáp giới với Vân Nam, ti Tuyên Úy Lão Qua, từ Thủy Vĩ đến thành ti Lão Qua cách nhau 567 dặm. Năm Tuyên Đức thứ 2 triều Minh, cánh quân của Mộc Thạnh theo đường Vân Nam tiến đến Trại Cao châu Thủy Vĩ. Quân ta chính tại thành này chống trả cả hai cánh thủy bộ của chúng.
Thành Biều Gia
Thành ở xã Phan huyện Trấn Yên, không rõ đắp từ thời nào. Di chỉ cũ hiện còn, gồm thành nội, thành ngoại xây bằng gạch đất. Cũng có một tấm bia nhưng chữ đã mờ mòn hết.
Núi sông
Núi Động Đình
Núi ở phía tây châu Yên. Đây là ngọn núi cao nhất, đỉnh núi trập trùng, xung quanh suối khe quanh co, là quả núi nổi tiếng của tỉnh.
Núi Điềm Thiệt
Núi ở phía nam huyện Thanh Thủy, chiều ngang rộng hơn trăm dặm. Trên đỉnh có một gò và một hồ vuông, nước rất trong. Trong hồ có loài cá lạ, dài hơn 4 thước, có bốn chân như chân vịt, lưng đỏ, bụng có dải màu đỏ.
Núi Ngải Sơn
Núi ở châu Đà Bắc, phía trước ăn ra đến sông lớn, đá nhọn dựng đứng, rất ít có dấu chân người qua lại. Tương truyền trên núi có giống cây ngải tiên, mùa xuâm đơm hoa. Sau trận mưa, nước cuốn theo lá, loài cá ăn vào thì có thể vượt long môn mà hóa thành rồng.
Núi Cổ Thành
Núi ở châu Ninh Biên. Núi hình tròn, rộng, cỏ cây mọc xanh um tùm. Dòng sông lớn chảy dưới chân núi, tiếp giáp với biên giới nước Nam Chưởng. Trên núi có thành cổ Tam Vạn. Bên trái châu Ninh Biên là châu Chiêu Tấn, thông với Mường Lự, bên phải là thành Tam Vạn, thông với Ai Lao, có sông Hắc Long Giang có thể thông với nước Hàm Cẩu và Mường Cân.
Sông Kim Tử
Sông ở phía tây châu Chiêu Tấn, nước từ núi Lương Thiện chảy ra, theo hướng nam đổ vào thượng lưu sông Đà Giang. Nước sông mỗi ngày ba lần đổi màu.
Suối nước nóng Ôn Tuyền
Suối ở xã Ngọc Tiễn châu Quỳnh Nhai, vào mùa xuân và mùa hạ nước hơi ấm, sang mùa thu mùa đông trở nên nóng rát như nước sôi, thả cá vào là chết ngay.
Đền miếu
Đền Liễu Hạnh Công chúa
Đền ở phố Minh Hương. Sự tích xem ở phần tỉnh Nam Định.
Đền thần núi Tản Viên
Ở 3 xã Hùng Nhị, Phù Yên và Quang Huy huyện Thanh Sơn đều có đền thờ. Sự tích xem ở phần tỉnh Sơn Tây.
Đền Đại Tướng quân họ Đinh
Đền ở xã Phù Khoán huyện Thanh Thủy. Thần là người bản huyện, có công theo phò vua Thái Tổ, được phong Đại Tướng quân Vũ Quận công, cai quản việc binh dân bản xứ. Sau khi mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền thần Linh Ý
Đền ở xã Phương Giao huyện Thanh Sơn. Tương truyền thần là người bản xã sống vào đầu thời nhà Đinh. Bấy giờ có người đàn bà là vợ của nhà họ Đỗ. Một hôm đi làm ruộng, gặp phải mưa gió sấm sét, bà phải náu lại trên núi. Ban đêm có một dải sáng từ trên trời phóng xuống quấn quanh thân mình, bà cảm động mà mang thai. Rồi sinh ra một người con gái nhan sắc kiều diễm, tính tình đoan trang, người làng goi là người tiên. Về sau chết ở trên núi, chưa kịp chôn cất mối đã đùn lên thành nấm mộ. Từ đó mỗi khi trời đổ mưa gió khắp nơi, riêng chỗ này tạnh ráo. Hoặc đang trong đêm tối mà chỗ này lại sáng rực. Dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Trần Đại tướng
Đền ở xã Vân Lung huyện Thanh Sơn. Tương truyền thần là Đại tướng thời Trần đem quân đi đánh giặc rồi tử tiết ở đây, được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Cổ Thành
Chùa ở trị sở phủ Điện Biên, tương truyền là do người man Ai Lao xây dựng.
Chùa Thiền Viện
Chùa ở xã Mộc Thượng Mộc Châu. Trong chùa có tượng đồng, gồm 1 pho tượng lớn, 4 pho tượng khá lớn, 8 pho tượng vừa và 56 pho tượng nhỏ. Còn có 2 pho tượng bằng thiếc và 1 pho tượng bằng ngà.
Chùa Đà Môn
Chùa ở xã Mộc Thượng Mộc Châu. Trên núi ở đây mở ra một cửa động, ở sâu trong động là chùa. Chùa có 1 pho tượng đá, 5 pho tượng gỗ, rất linh thiêng.
Chùa cổ Hắc Viên
Chùa ở động Túc Mục Mộc Châu. Trong chùa có pho tượng đồng đen, rất linh thiêng. Người đến cầu xin, nếu trai giới sạch sẽ, lại phải là người thật thà, thấy của rơi không nhặt thì sẽ được ứng nghiệm. Trước cửa chùa có một chiếc chiêng cổ bề ngang to đến 4, 5 thước.

TỈNH TUYÊN QUANG
Cổ tích
Phế thành Nghị Lang
Ở xã Lương Sơn châu Lục Yên. Đầu niên hiệu Nguyên Hòa đời Lê, Vũ Văn Uyên chiếm đóng ở đây chống lại nhà Mạc, còn gọi là phủ Bô, hay thành Bầu, di chỉ hiện còn. Vào những đêm thanh vắng, dân địa phương thường nghe thấy từ trong thành vẳng ra tiếng chuông trống và lập lòe ánh lửa. Tương truyền Vũ Văn Uyên ở đất Giao Cương, chính là nơi này.
Phế thành Cát Tường
Thành ở xã Khánh Vân huyện Hàm Yên, tương truyền do quan Trấn thủ Tuyên Quang Vũ Văn Mật xây dựng. Xung quanh thành cây cối rậm rạp, khoảng giữa bằng phẳng thoáng rộng. Còn gọi là Bô Thành, di chỉ hiện vẫn còn.
Phế thành Bình Ca
Thành ở xã Bình Ca huyện Hàm Yên , được xếp chồng bằng gạch đất, trong có một ngôi miếu cổ và hai pho tượng đá.
Phế thành Việt Tĩnh
Thành ở xã Diên Gia, Thu Châu, trước mặt là sông. Di chỉ hiện còn.
Đình bia Đổ Chú
Bia ở sông Đổ Chú huyện Vĩnh Tuy. Bia khắc chỉ giới châu Vị Xuyên trấn Tuyên Quang nước An Nam, lấy mốc là sông Đổ Chú. Năm Bảo Thái thứ 9 (1728), triều đình phái Lại bộ Tả Thị lang Nguyễn Huy Nhuận, Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Công Thái hợp cùng quan Tri phủ phủ Quan Hóa nhà Thanh là Ngô Sĩ Hiện vâng chỉ dựng nhà bia địa giới. Trải lâu ngày đã bị đổ. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) mệnh cho tỉnh thần tu sửa lại, nay vẫn còn.
Núi sông
Núi Lão Quân
Ngọn núi cao nhất ở phía đông bắc huyện Vĩnh Tuy, phía tây sông Lô, nối liên tiếp với các núi khác ở Tụ Long. Núi có nhiều cây thông già cổ thụ, lớn đến 10 vòng tay ôm. Ngày xưa có một cụ già có tài yểm trừ ma quỉ sống ở đây, vì thế có tên là núi Lão Quân.
Núi Tụ Long
Núi ở phía đông huyện Vĩnh Tuy. Đỉnh núi trập trùng nối tiếp nhau như những con rồng, nên mới có tên như thế. Núi có đá nam châm và đồng đỏ, cũng có cát lẫn bạc, nên còn gọi là Xưởng Đồng hay Xưởng Bạc. Từ xưa đã lập những hộ khai thác để thu thuế.
Núi Thiên Tạo
Núi ở phía đông huyện Vĩnh Tuy, ngọn núi cao đứng trơ vơ, đường nét như quỉ khắc thần tạc được trời dựng nên ở đây, nên mới có tên núi Thiên Tạo.
Núi Ngọc Nữ
Núi nằm ở chỗ tiếp giáp giữa huyện Vĩnh Điện với châu Bạch Thông của tỉnh Thái Nguyên. Núi đá cao chọc trời, xung quanh các núi khác trực hầu nhiều không kể xiết. Huyện Trấn Yên của nước Thanh ở cách xa đến 5 ngày đi đường mà từ đây vẫn nom thấy. Tương truyền trên núi có cái hồ sen, các tiên nữ thường hay xuống chơi nên có tên là Ngọc Nữ. Trèo lên núi chưa tới nửa chừng, gió đã cuốn theo sương mù thổi vào mặt, mây giăng mù mịt không nhận ra đường mà leo. Chân núi trở xuống nối tiếp với những núi khác của huyện Đương Đạo, nổi lên ba hòn đảo, còn các nhánh núi chia ra nhiều không kể hết.
Núi Vân Trung
Núi ở phía tây huyện Để Định, đỉnh núi trập trùng uốn lượn nhấp nhô như ngọn sóng, mịt mù lam khí dày đặc nhất vào mùa thu đông. Người chỉ đứng cách một trượng cũng không trông thấy nhau, cứ như ở trong đám mây, nên mới có tên là núi Trong Mây.
Núi Ngọc Mạo
Núi ở phía tây huyện Để Định, xa trông bằng phẳng thoáng rộng đến 2 nghìn mẫu. Ở giữa một ngọn nhô cao hình dáng giống chiếc mũ, nên mới đặt tên như vậy. Phía trước núi có hồ nước gọi là hồ Ngọc Mạo, nước trong vắt, cảnh sắc rất đẹp.
Sông An Long
Sông ở huyện Vĩnh Tuy, bắt nguồn từ phái đông tỉnh Hưng Hóa chảy vào huyện Vĩnh Tuy, đến xã An Long thì nhập vào sông Lô. Nước vào mùa xuân, hạ rât nông có thể lội qua, đến mùa thu, đông nước dâng lên đến châu Lục Yên hợp với nước sông Lô đổ về xuôi. Tương truyền ở sông An Long và các dòng suối ở đây có cát vàng, dân địa phương đi đãi mỗi ngày kiếm được đến 2, 3 mạch. Nhà nào nuôi ngan vịt mổ ra trong bụng cũng lấy được 1, 2 quan, chí ít cũng được 3, 4 mạch.
Á tuyền (Suối Câm)
Suối ở phía đông bắc huyện Để Định, nước từ huyện Vĩnh Điện tách dòng chảy ra hợp với sông Ngô Giang, màu nước đen như mực. Uống phải nước này lòng dạ trở nên mê lú, không nói được, râu tóc rụng hết. Dân địa phương phải dựng tấm bảng cảnh báo cho người đi đường, đề là "suối Câm"
Đền miếu
Đền Phương Dung Công chúa
Đền trên bờ phải sông Lô thuộc huyện Vĩnh Tuy. Tương truyền ngày xưa có hai nàng Công chúa là Ngọc Lân và Phương Dung theo xa giá nhà vua đi chơi, đậu thuyền ở bờ sông Lô. Đến đêm chợt mưa to gió lớn nổi lên, cả hai nàng cùng bay lên trời. Dân địa phương cho là chuyện kì lạ, bèn dựng đền thờ phụng. Đến triều ta, Lê Văn Đức vâng mệnh đi đánh giặc Vân, qua đền vào cầu đảo. Thắng trận trở về đem sự việc tâu lên. Triều đình ban sắc mệnh gia phong là Hiệp thuận chi thần. Văn bia ở đền nay vẫn còn.
Đền Ngọc Lân Công chúa
Đền trên bờ trái sông Lô thuộc huyện Vĩnh Tuy. Lê Văn Đức triều ta vâng mệnh đi đánh giặc Vân, qua đền vào cầu đảo. Thắng trận trở về đem sự việc tâu lên. Triều đình ban sắc mệnh gia phong là Quang thuận Hiệp linh chi thần.
Đền thần Quảng Tế
Đền ở xã Đồng Yên huyện Hàm Yên. Tương truyền thổ dân sống ven sông này thường bị thủy quái rồng rắn quấy nhiễu gây hại, bèn cùng hợp sức xây ngôi đền thờ Quảng Lợi vương, gọi là đền thần Quảng Tế. Các triều đại đều ban sắc gia phong.
Đền Cao Sơn
Đền trên núi Biền Sơn thuộc xã Vũ Linh châu Thu.
Đền Đạt Công chúa
Đền ở bờ sông xã Đạo Ngạn châu Thu, được ban sắc phong vào năm Tự Đức thứ 7 (1854).
Đền Gia Quốc công
Đền ở xã Đại Đồng châu Thu. Vào đầu thời kì Trung hưng nhà Lê, quan Trấn thủ Tuyên Quang Vũ Văn Mật do có công đánh nhà Mạc nên được phong là Gia Quốc công, cho được thế tập chức Trấn thủ trấn Tuyên Quang. Dân địa phương cảm nhớ ân đức của ông dựng đền thờ phụng.
Miếu Lịch Sơn
Miếu ở huyện Sơn Dương. Trên đỉnh núi có bàn đá phẳng gọi là bàn cờ tiên. Bên sườn núi có tảng đá hình cái thuyền, gọi là Túc xác (vỏ trấu). Đỉnh núi có đền thờ vua Thuấn rất thiêng. Phía trên đền vua Thuấn là đền vua Nghiêu. Dân xã An Lịch đặt ruộng tự điền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Hương Nham

Chùa ở xã Đông Thủy huyện Hàm Yên. Ở đây có một động đá rất rộng, trong có tảng đá giống hình người. Người đời trước nhân nơi đây mở ra thành chùa gọi là Hương Nham tự. Năm Đại Chính thứ 8 (1537) nhà Mạc, quan Án sát sứ Tuyên Quang là Ngô Mật Trinh soạn bài văn bia chùa, nay vẫn còn.

















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét