Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên), tỉnh Quảng Nam- Tỉnh Quảng Ngãi

TỈNH QUẢNG NAM
Cổ tích
Thành cổ Hoàn Vương
Thành ở xã Thăng Bình huyện Diên Phước, tục gọi là thành Vệ. Tương truyền Cổ Lũy vương đã đặt đô tại đây. Ba mặt phía trước và hai bên phải trái của thành đều đã bị nước sông xói mòn hết, chỉ còn lại một góc thành phía tây bắc. Lại còn một thành nữa của người Chiêm ở xã Trà Kiều huyện Than Xuyên, xung quanh xây bằng gạch đá, nay vẫn còn.
Tháp cổ Chiêm Thành
Ở xã Đông Phan huyện Diên Phước. Hai tòa tháp Đông và Tây đều đã bị sụp đổ, trong đó một tòa tháp đổ xuống tạo thành gò đống rộng đến hơn một mẫu. Vào những năm hạn hán đến cầu đảo đều được ừng nghiệm. Một tòa tháp ở xã Câu An hiện vẫn còn, tại đây còn có đền thờ Dương Phu nhân. Tại huyện Hà Đông có hai tòa, một ở xã Chiên Đàn đã bị đổ, chỉ còn lại di tích, một tòa ở xã Khương Mĩ, 3 tháp nằm liên tiếp nhau cao 80 thước, phía trên tháp có lỗ thông thiên, trong tháp bày tượng đá. Tương truyền đây là chỗ an táng Vương hậu nước Chiêm Thành.
Núi Ngũ Hành Sơn
Múi ở hai xã Hóa Khuê, Quán Cái phía đông bắc huyện Diên Phước. Giữa vùng cát nổi lên 6 ngọn núi, đỉnh núi la liệt toàn đá, phía tây có dòng sông chảy qua, mé đông bắc là biển cả. Dáng núi vươn cao thanh tú, ngày đẹp trời nhìn từ xa nom như bức gấm mây, rất ngoạn mục (tục gọi là hòn Non Nước. Đỉnh núi ở phía đông bắc có hình Tam thai, người xưa gọi là núi Tam Thai hay còn có tên là Ngũ Chỉ Sơn (núi Năm Ngón). Trên núi Tam Thai xưa có tòa tháp, trên vách đá động Hoa Nham có chữ khắc đánh dấu. Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) nhà vua nam tuần lên núi Tam Thai ngắm cảnh đã ban tên cho các hang động ở núi này đem khắc lên đá, gọi là động Huyền Không, động Linh Nham, động Lăng Không, động Vân Thông, động Tàng Chân, hang Vân Nguyệt, hang Thiên Long. Xét, Lời chú của nhà vua đại lược nói: "Động Huyền Không như ngôi nhà không có dầm xà, phía trên có 5 lỗ lớn nhỏ, có thể nhìn thấy cả mặt trời mặt trăng. Các hang động phần nhiều đều tối tăm u ám, riêng động này cao rộng, có ánh mặt trời chiếu xuống, nên vào trong động hòa khí thông thoáng như mùa xuân, thực rất hiếm thấy". Lại nói rằng: "Đỉnh núi ở động này cao chót vót không có đường lên, vì thế từ xưa chưa có người leo tới. Trẫm lần này lên đây phải nằm bò người xuống mà leo lên, rồi từ trên động thả dây mà đo được đến 7 trượng 7 thước. Đường đi xuống động lại rất bằng phẳng. Bên ngoài cửa động là cát, còn trong động là đất, rất trong sạch không có bụi bặm, dẫu ở nhà có người chăm chỉ quét dọn lau chúi cũng không sạch sẽ bằng". Động Lăng Không ở phía trên động Linh Nham, nằm ở khoảng lưng chừng núi. Vách đá cheo leo, ngửa mặt trông tưởng như chỉ gần trong gang tấc nhưng không có bậc mà lên. Tìm cách leo được lên đỉnh núi thì động lại ở phía dưới, rốt cuộc chẳng có cách nào mà vào động. Hang Vân Nguyệt nằm ở giữa hai quả núi. Từ chùa Tam Thai vào cửa hang phía tây đường đi bằng phẳng, đi vài chục trượng vào cửa hang phía đông rẽ bên trái là đến chùa Ứng Chân. Trên cửa hang phía đông có khắc 4 chữ "Vân căn nguyệt quật", còn trên cửa động phía tây khắc 4 chữ "Động thiên phúc địa". Động Vân Thông ở về bên phải hang Vân Nguyệt. Thoạt vào thì bằng phẳng, đi độ vài trượng thu hẹp dần, phải bám vịn mà leo lên. Nền đất bằng phẳng, bên trên tròn mà dài, cao rộng thoáng đạt như cung điện lâu đài. Phía trên có lỗ thông trông thấy được ánh sáng mặt trời. Vào sâu vài bước nữa thì không đi được nữa. Chốn này còn có một cái động sâu, rộng chừng 27 trượng, dường như không thông với nhau. Chỗ đối diện theo chiều ngang thì trong cao ngoài thấp nên không qua được. Hang Thiên Long ở về phía đông hang Vân Nguyệt. Hang Vân Nguyệt là hang sáng, còn hang này là hang tối, người vào phải bám nối vào nhau như đàn kiến mà đi xuống. Ra đến chùa Ứng Chân đường đi quanh co khúc khuỷu đến hơn 40 trượng. Động Tàng Chân ở phía sau chùa Ứng Chân. Ở đây thờ Tam Thanh và Bát động Thiên Chân nên đặt tên như vậy. Trong động phía bên phải thông với hang Thiên Long. Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) sắc ban tên cho núi Tam Thai là núi Thuỷ Sơn, ba đỉnh ở phía tây nam là Mộc Sơn, Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn, hai đỉnh ở phía tây là Thổ Sơn và Kim Sơn, tên núi đều được khắc vào đá ở từng quả núi. Phía đông có đài Vọng Hải, phía tây có đài Vọng Giang, mỗi nơi đều được dựng một tấm bia. Bên phải chùa Tam Thai là nơi đặt hành cung Động Thiên Phúc Địa. Đây là một danh thắng lớn của Quảng Nam. Núi ở đây có đá thạch anh, đá trắng vân đen, dân đem chế tạo các đồ vật mang hoa văn màu sắc rất đẹp. Lại có loại đá trắng mặt mịn như lát cắt dùng làm bia đá trắng rất tốt. Giữa vách đá động Huyền Không có một chỗ đá lồi ra rủ xuống phía dưới, từ đây có nước nhỏ xuống tí tách không bao giờ dứt, nên đặt tên là Vú Đá. Bên phải Thủy Sơn là chùa Tam Thai. Chùa được trùng tu vào năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), đến năm thứ 20 (1841) cửa sơn môn đổi thành Mai môn, có biển đá đề 4 chữ đại tự "Động Thiên Phúc Địa". Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) đổi tên chùa Hoa Nghiêm thành chùa Trang Nghiêm. Vào năm Đinh sửu hồi đầu Trung hưng triều ta, đại quân tiến công Đà Nẵng, đã sai Nguyễn Công Thái đóng đồn ở núi Tam Thai để tập kích vào sau lưng giặc, đó chính là núi này vậy.
Núi Trà Sơn
Núi ở phía đông huyện Diên Phước. Đỉnh núi cao chọc trời, mịt mờ mây mù che phủ, cây cối rậm rạp, hươu nai tụ tập từng bầy. Phía đông ăn ra tới bờ biển. Mạn đông nam nối liền với một quả núi, xa trông như hình con sư tử, tục gọi là Nghê Sơn (Hòn Nghê). Tương truyền trên núi có ngọc, ban đêm tỏa sáng bờ biển. Phía tây có đảo Diên Chủy (Mỏ Diều), nơi đặt pháo đài phòng vệ bờ biển. Mé bắc là ngọn núi Mã Cảnh (Cổ Ngựa) và đảo Ngự Hải đối diện với cửa biển. Mé tây là vũng Trà Sơn là nơi đậu thuyền bè tránh sóng bão. Trên núi chướng khí dày đặc. Có giếng độc sâu hơn trượng, ngày trước có thuyền buôn vào đây tránh gió bị hại bởi nước độc này. Phía tây nam của huyện còn có một quần thể những ngọn núi nhô cao, đều có tên riêng như núi Bào Nghi, Mĩ An, Tân An, Hữu Trinh, Lập Thạch, Trường An, Nam Phước... nhưng phong cảnh đẹp nhất vẫn là núi Ngũ Hành , thứ đến là núi Trà Sơn.
Núi Trường Định
Núi ở huyện Diên Phước, còn gọi là núi Thạch Phi. Núi có tảng đá lớn mặt trước nhìn ra sông, hình dáng tựa như hình người đang ngồi nhìn, nên mới đặt tên là Thạch Phi (bà Cung phi đá). Trên núi có cái am nhỏ, tương truyền ngày xưa có một đạo sĩ tu luyện ở trong am, có phép thuật sai khiến ma quỉ, thường cưỡi trên chiếc nón mà qua lại trên sông đi cầu cúng cho mọi người, đều rất linh nghiệm. Nay đằng sau am còn khoảng trống rộng vài mẫu, những người kiếm củi cắt cỏ không ai dám lại gần.
Núi Trà Cai
Ở phía tây huyện Hà Đông nổi lên ngọn núi tròn, xung quanh có dân cư sinh sống. Mạn đông chân núi có đền Bà Chúa Cao Các rất thiêng, gặp khi hạn hán đến cầu đảo là có mưa ngay. Mé nam gần với núi Đại Hanh.
Đảo Đại Chiêm
Còn gọi là ngọn Tiêm Bút (ngọn bút) hay núi Bất Lao, tục gọi là Cù Lao Chàm, nằm giữa vùng biển Đông của huyện Diên Phước, có đảo Ngọa Long, là núi trấn ngoài của cửa biển Đại Chiêm. Dân phường Tân Hợp sinh sống ở mé nam của đảo núi, trên núi có ruộng nương có thể trồng trọt. Những người đi biển của nước ta cũng như nước ngoài đều lấy đảo này làm mốc chuẩn, thuyền bè qua lại đều ghé vào tiếp nước uống và rau cỏ. Ở đây có 3 ngôi đền là đền Phục Ba Tướng quân, đền Tứ Dương hầu và đền Bích Sơn. Có thuyết lại nói 3 đền đó là đền thần Cao Các, đền Phục Ba Tướng quân và dền thần Bô Bô. Lại còn đền thờ các thần Ngọc Lân, Thành hoàng, Chúa Lỗi, Bạch Mã, Ngũ Hành. Đằng sau cửa tấn cách khoảng 3 dặm về phía tây là đảo Lỗi; cách 7 dặm về phía nam là đảo Nhĩ, cách 10 dặm về phía bắc là đảo La; 17 dặm về phía bắc là đảo Đại Khô, đảo Trường, đảo Mậu; Trên đảo Nhĩ ở phía nam có động, tục gọi là đảo Yến, chim yến thường làm tổ ở hai bên vách động nên đặt tên như vậy. Dân khai thác yến đến đây lấy tổ yến và nộp thuế. Còn núi Ngọn Bút là nơi Thiền sư Hương Hải từng tới trụ trì.
Lăng tẩm
Lăng Vĩnh Diễn
Lăng trên núi xã Chiêm Sơn, là lăng của Hiếu Văn Hoàng hậu. Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây sửa tường lăng, vòng trong cao 3 thước 5 tấc, chu vi 16 trượng 3 thước, vòng ngoài cao 5 thước 3 tấc, chu vi 40 trượng, xây bằng gạch. Mặt trước mở một cổng.
Lăng Vĩnh Diên
Lăng trên núi xã Chiêm Sơn, là lăng của Hiếu Chiêu Hoàng hậu. Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây sửa tường lăng, vòng trong cao 3 thước 5 tấc, chu vi 14 trượng 9 thước 6 tấc, vòng ngoài cao 6 thước 4 tấc, chu vi 40 trượng, xây bằng gạch. Mặt trước mở một cổng.
Đền miếu
Đền Vân Long
Đền ở phía bắc trạm khe Nam Chân. Tương truyền ngày xưa có con tê núi đến đây gây hại. Có ông quan là Cai đội Vân đánh nhau với con tê, cả hai cùng bị thương. Sau khi ông mất được tiên triều lập đền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Tam Thai
Chùa ở phía tây Thủy Sơn của núi Ngũ Hành. Núi này vốn có rất nhiều di tích cổ, nhưng trải qua chiến tranh đều bị đổ nát. Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) triều đình cử quan đến trùng tu các nơi gồm hành cung Động Thiên Phúc Địa, chùa Tam Thai, chùa Hoa Lệ, miếu Thiên Y, chùa Ứng Chân, chùa Thượng Thanh, chùa Từ Tâm, cổng tam quan Vân Căn Nguyệt Quật, trạm sơn phòng Linh Quan và các cổng nghi môn. Công việc hoàn thành lại làm các biển ngạch, tượng đồng, tượng vẽ, Phật bài, chuông trống và đồ thờ, đồng thời in ấn các bộ kinh Địa tạng, Thủy tạng, Đại Lai cấp phát cho các chùa, giao cho dân hai xã Hóa Khuê, Quán Cái trông giữ bảo vệ.
Chùa Bảo Châu
Chùa ở xã Trà Kiều huyện Duy Xuyên, xây dựng từ năm Đinh mùi thời Thái Tổ triều ta. Nay vẫn còn.
Chùa Long Hưng
Chùa ở xã Cần Húc huyện Duy Xuyên. Triều ta hồi đầu dựng nước đã đặt dinh Quảng Nam tại đây. Tại phía đông của dinh xây chùa Long Hưng. Chùa nay đã phế bỏ.
Chùa Vĩnh An
Chùa ở xã Chiêm Sơn huyện Duy Xuyên, gần kề bên cạnh hai lăng Vĩnh Diễn và Vĩnh Diên. Ở giữa chùa đặt tòa Phật, hai bên đặt bài vị thần ngự. Chùa xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), có binh lính canh gác trông giữ.
Chùa Phúc Hải
Chùa ở xã Hải Châu huyện Hòa Vang, có bia của Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế. Chùa được trùng tu vào năm minh Mệnh thứ 5 (1824), được ban biển ngạch đề "Phúc Hải tự".

TỈNH QUẢNG NGÃI
Cổ tích
Phế thành Chu Sa
Thành ở xã Chu Sa huyện Bình Sơn, tính xung quanh rộng 5 mẫu 5 sào. Có thuyết nói đây là thành Đại La của người Chiêm Thành, lại có người bảo đây là thành bảo vệ Tam ti thời tiền Lê, không biết thuyết nào là đúng.
Thành cổ Xuân Quang
Ở thôn Xuân Quang phía đông huyện Chương Nghĩa. Thành đắp bằng đất cao 5 thước, chiều rộng từ đông sang tây 50 trượng, hiện vẫn còn. Tương truyền là do Quang Chiêu vương dinh Trấn Nam xây dựng. Bên thành có ngôi miếu thờ ông.
Đồn cổ Minh Long
Đồn ở sách Minh Long của người man thuộc huyện Chương Nghĩa, tương truyền do quan Trấn thủ Quảng Nam thời Lê sơ họ Bùi xây dựng. Di chỉ nay hiện còn.
Chùa cổ Phụ Nghiêu
Ở hai xã Diên Phước, Than Hội huyện Bình Sơn. Trên núi có một khu nền đất, phía trước là ao, nước rất trong. Tương truyền chùa do một nhà sư Chiêm Thành xây dựng, nay còn sót lại 35 phiến đá hình vuông.
Chùa cổ Man Tân
Chùa trên núi Man Tân huyện Mộ Đức, tương truyền là di tích chùa của Chiêm Thành. Bên chùa có giếng cổ, nước rất trong lành.
Núi sông
Núi Thiên Ấn
Núi ở phía nam huyện Bình Sơn, trải rộng ngoài trăm dặm, cao hơn trăm trượng. Đỉnh núi bằng phẳng rộng khoảng vài trăm mẫu, bốn mặt vuông vức ngay ngắn, trông như hình cái ấn triện, nên đặt tên là Thiên Ấn. Trên núi có chùa, giếng trước chùa sâu 55 thước, nước trong và ngọt. Tương truyền ngày trước có nhà sư đến đây xây dựng chùa, vì trên núi không có mước nên phải đào giếng này ngay trên đỉnh núi trước chùa, gắng sức ròng rã suốt 20 năm mới đào tới mạch nước, vừa khi nhà sư qua đời. Từ đó về sau các sư khác đến trụ trì đều được ơn nhờ. Mặt trước chùa nhìn xuống sông Trà Khúc. Thắng cảnh đầu tiên trong mười cảnh đẹp của Quảng Ngãi được gọi là "Thiên Ấn niêm hà" (núi Thiên Ấn áp kề dòng sông), đó chính là nơi này. Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) hình núi Thiên Ấn được đem khắc lên đỉnh đồng. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) núi được liệt vào hàng danh sơn, đăng kí vào điển thờ.
Núi Long Đầu
Núi ở phía nam huyện Bình Sơn. Núi này từ núi Tham Hội dọc theo hướng nam chạy tới gối đầu lên sông Trà Khúc. Hình thế quanh co uốn lượn như giao long uống nước, nên có tên Long Đầu. Ở một mặt núi có đền Phu Bồng Tướng quân. Trên sườn núi có 3 con đường, đều sâu thăm thẳm như dưới giếng, tương truyền là nơi Cao Biền cưỡi ngựa giấy đi cắt đứt mạch đất. Trong mười cảnh đẹp của Quảng Ngãi có cảnh được gọi là "Long Đầu hí thủy" (đầu rồng giỡn nước), đó chính là nơi này. Gần đấy có núi Thủy Mẫu. Xét: vào thời nhà Đường đất này vẫn còn thuộc Chiêm Thành, nên Cao Biền chưa chắc đã đến đây. Vì thế thuyết theo tương truyền nói trên là sai, không đáng tin cậy.
Núi Ngũ Chỉ
Núi nằm trên địa phận huyện Bình Sơn, tục gọi là núi Răng Cưa, ở về phía tây bắc của huyện, thuộc vùng người man, nơi là ranh giới giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi. Núi nổi lên 5 ngọn như các ngón của bàn tay, nên có tên Ngũ Chỉ. Trên đỉnh có một khoảng bằng phẳng, tương truyền là vườn của quan Trấn họ Bùi, những cây cam, quýt, bưởi, chuối rất nhiều, người có thể hái ăn thoải mái nhưng không được lấy đem về. Gần đó có núi Bạch Thạch, trên có tảng đá cao vài trượng, vuông vức như cái chiếu, trên rộng dưới hẹp, bên cạnh có những tảng đá như bàn ghế, Dân gọi đó là chùa Bạch Thạch.
Núi Vân Phong
Núi nằm trên vùng người man, ở phía nam huyện Bình Sơn. Đỉnh núi vươn lên cao chót vót, vượt ra khỏi tầng mây, trên ngọn lúc nào cũng có sương mù che phủ, nên mới gọi tên là Vân Phong. Trên đỉnh có một khoảng bằng phẳng, mọc nhiều quýt và bưởi xum xuê xanh tốt trông rất đẹp. Tương truyền đó là vườn của quan Trấn họ Bùi. Trong mười cảnh đẹp của Quảng Ngãi có cảnh được gọi là "Vân Phong túc vũ" (mưa đêm núi Vân Phong), đó chính là nơi này. Phía đông núi này có các ngọn núi Cống Cung, núi Thạch Diêm, núi An Hòa.
Núi Thạch Bích
Núi ở bên ngoài Trường lũy, phía tây huyện Bình Sơn. Núi cao chất ngất, cây cỏ um tùm hoang sơ, chưa hề có tiều phu tới đốn chặt. Dưới ánh nắng chiều chiếu xiên, cả sườn núi toàn vách đá lấp lánh sáng như ánh sao. Con đường dưới chân núi nhỏ hẹp đi về phía tây thông tới các sách người man ở Minh Long, Tử Tuyền, vô cùng chon von hiểm trở. Bọn trộm cướp, thổ phỉ người man thường đi trên con đường ấy qua núi mà xuống xuôi. Đằng sau lũy có hai đỉnh núi Tập Lĩnh và Hoàng Trung. Trong mười cảnh đẹp của Quảng Ngãi có cảnh được gọi là "Thạch Bích tà dương" (nắng tà Thạch Bích), đó chính là nơi này. Xét: Có hai núi cùng tên là Thạch Bích. Các bậc cố lão truyền lại rằng, vào đầu thời Gia Long, Tả quân Lê Văn Duyệt đánh giặc man đi qua một quả núi cũng mang tên Thạch Bích ở phía tây hai sách người man là Minh Long và Tử Tuyền, tiêu diệt được những sách man đó xong, theo hướng tây bắc tử Trường lũy đi ngược lên một ngày đường là tới sào huyệt của bọn ác man. Lại có một núi nữa ở bên ngoài lũy thuộc huyện Mộ Đức, cách khoảng một ngày đường, có điều núi này có phần thấp hơn.
Núi Trấn Công
Núi ở phía bắc huyện Chương Nghĩa, phía dưới ăn sát bến sông. Phía đông có miếu Trấn Công, vì thế mà có tên núi Trấn Công. Núi này có rất nhiều dơi, nên còn gọi là núi Dơi. Chỉ từ sau ngày rước Trấn Công qui về thờ ở miếu Hội Đồng, lũ dơi đột nhiên tản mát đi mất. Mãi đến năm Tự Đức thứ 17 (1864) chúng mới trở về tụ tập như xưa. Trong núi có động, nước chảy thông với đầm Trà Đàm. Có con cá to bằng chiếc thuyền, mỗi lần cá quẫy tiếng ầm vang như sấm dậy. Năm nào gặp hạn hán vào miếu cầu đảo cũng đều được ứng nghiệm.
Núi Man Tân
Núi ở phía tây nam huyện Mộ Đức. Trên đỉnh núi có khu ruộng rộng hơn chục mẫu, có một nền đất, tương truyền là di tích để lại của một nhà sư Chiêm Thành. Bên cạnh có giếng cổ, nước trong sạch. Vào triều trước, quan Cai bạ Quảng Nam Đặng Đại Lược đi kinh lí vùng người man từng trú quân tại đây, được các đầu mục người man ra đón tiếp, vì thế mới gọi tên núi là Man Tân. Gần đó là núi Long Cốt, núi Tam Hoang và núi Dương Thượng.
Núi Sở Thủy Lĩnh
Núi ở vùng người man bên ngoài Trường lũy, mé tây huyện Bình Sơn, phía tây của núi Trà Quân. Theo con đường núi gập ghềnh đi chừng 5 ngày đường thì tới man Hưu Chung. Dân man ở đây kể rằng, từ man này đi tiếp về phía tây 3 ngày đường nữa thì có tộc man có hai đầu, đi lại phải dựa vào nhau. Lại có một man nữa là chỗ ở của tộc man gọi là Linh Xoang Tụy, ở đó có một con vật hình dáng giống như con ngựa. Những người man đi qua nếu bước qua con vật đó thì thôi, nhưng nếu không bước qua được thì bị cả bọn người man xúm lại bắt ăn thịt. Bọn ác man bắt người thường đem mua bán trao đổi tại đây.
Núi Huyện Quan Lĩnh
Núi ở phía tây huyện Mộ Đức, còn gọi là núi Huyện Nho Lĩnh. Ngày xưa nha môn của huyện Mộ Đức đặt ở trên này. Dân trong huyện lui tới thường phải từ đỉnh Tiêm Trúc Lĩnh đi theo lối mòn trên núi gập ghềnh gian nan, rất bất tiện. Bấy giờ có một ông quan Huyện doãn tên là Nho mới cho mở ra con đường sơn lộ này, dân chúng đi lại được dễ dàng hơn nhiều. Vì thế mới có tên núi như thế. Đi xuống chân núi ở phía đông có 11 tảng đá Mẹ và 9 tảng đá Con, to thì bằng quả đạn đại pháo, nhỏ chỉ bằng quả trứng gà, nhưng rất linh thiêng, chẳng ai dám động vào. Cạnh đó có ngôi miếu cổ gọi là miếu Thạch Tướng quân. Phía đông bắc là núi Bồ Kỉ Lĩnh, phía tây có Phác Chi Lĩnh, Độ Tác Lĩnh.
Ngọn Bạch Thạch
Ở phía đông bắc huyện Mộ Đức. Giữa ngọn núi có 3 tảng đá to cao ngất đến vài trượng, giống như cây cột trụ chống trời. Sắc đá đều màu trắng, nên lấy làm tên núi. Mạn đông nam núi này có loài dây lan nên còn gọi là núi Lan. Trên đỉnh núi vẫn còn ngôi miếu Cao Các rất thiêng.
Đảo Lí (Rí)
Đảo ngoài biển ở phía đông huyện Bình Sơn, tục gọi là Cù Lao Rí. Đảo này bốn mặt cao mà ở giữa thấp, rộng vài chục mẫu. Có hai phường dân cư là Vĩnh An và An Hải sinh sống ở đây. Phía đông có động, trong động có ngôi chùa rộng vài gian, có đầy đủ bàn thờ đá, ghế đá. Hai bên chùa đều có giếng, nước rất trong và ngọt. Hễ khi nào có cướp biển mò đến là dân hai phường lại kéo vào đây ẩn tránh. Đảo này sản xuất lạc và ngô, nộp thuế bằng dầu lạc, được miễn phu dịch. Trên đảo cũng có đồn phòng thủ để chống cướp biển.
Đảo Hoàng Sa
Đảo ở phía đông đảo Rí. Từ bờ biển Sa Kì ra khơi đi thuận chiều gió 3 ngày đêm thì tới nơi. Trên đảo có đến 130 ngọn núi giăng la liệt, đều nằm cách xa biển từ 1 ngày đến vài canh giờ đi đường. Giữa đảo có bãi Cát Vàng kéo dài hàng nghin dặm, tục gọi là bãi Vạn Lí Trường Sa, trên có giếng nước ngọt, nước rất trong. Chim biển kéo về tụ tập thành bầy, đông đúc không sao đếm xuể. Thổ sản ở đây có nhiều ốc vằn, hải sâm, đồi mồi, rùa biển. Hàng hóa, đồ vật của những chiếc thuyền gặp nạn bởi gió bão trôi giạt tích tụ cả về đây. Hồi đầu dựng nước của triều ta đã lấy dân người xã An Vĩnh sung vào lập ra đội Hoàng Sa, hàng năm cứ đến tháng 3 vượt biển ra đây thu gom những vật trôi giạt trên biển, đến tháng 8 đem giao nộp ở cửa biển Tư Hiền . Lại lập ra đội Bắc Hải, giao cho đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi đến khắp các hải đảo tìm vớt đồ vật trên biển. Phía đông đảo gần với Hải Nam, phủ Quỳnh Châu của nước Thanh. Vua Gia Long cũng phỏng theo lệ cũ lập đội Hoàng Sa , rồi về sau bãi bỏ. Đầu triều Minh Mệnh thường sai quan thuyền đi đến đảo này thăm dò đường biển . Có một cồn cát trắng tích tụ thành đống, chu vi đến 1070 trượng, cây cối rậm rạp. Trong cồn cát có giếng. Phía tây nam đảo có ngôi miếu cổ không rõ được dựng từ thời nào. Bia của miếu khắc 4 chữ "Vạn lí ba bình" (sóng yên nghìn dặm). Ngày xưa gọi là chùa thờ Phật. Bờ nam của núi toàn là đá san hô nằm dốc nghiêng bao lấy mặt nước. Mạn tây bắc đảo nổi lên một gò, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, ngang bằng với bãi cát, gọi là đá Bàn Than. Năm [Minh Mệnh] thứ 16 (1835) sai quan đi thuyền đến dựng chùa, dựng bia ở mé bên trái chùa để ghi dấu . Lại bắc cầu gỗ ở ba mặt phía sau, bên phải và bên trái. Khi lính và dân phu san sửa nền chùa đã đào được hơn hai nghìn tấm lá bằng đồng và sắt.
Hồ Vưông
Hồ ở thôn Thạch Trụ, phía tây bắc huyện Mộ Đức. Hồ rộng khoảng vài mẫu, nước sâu và trong. Hồ rất thiêng, vào ban đêm yên tĩnh thường nghe thấy ở đó vẳng ra tiếng đàn tiếng sáo.
Trường lũy người Man
Ở cách tỉnh thành 23 dặm về phía tây. Phía bắc lũy giáo huyện Hà Đông tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp huyện Bồng Sơn tỉnh Bình Định. Lũy dài 177 dặm. Xét: Một dải dọc theo ranh giới xung quanh tỉnh thành trước nay thường có bọn ác man Thạch Bích ngang ngạnh hoành hành. Hồi đầu dựng nước đã lập ra 6 đạo binh lính bám sát địa phương để phòng thủ. Năm Gia Long thứ 3 (1804) lập ra 6 Kiên cơ đạo Bình Man. Năm thứ 18 (1819) Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt đắp Trường lũy, trồng hàng rào, đào hào chắn. Bên trong dọc theo lũy thiết lập 115 đồn bảo, mỗi đồn đóng 18 người lính, tổng cộng 1150 người. Lại lấy các xã thôn thượng du của 3 huyện đặt làm 27 lân theo binh lính của 6 Kiên cơ tiến hành phòng thủ. Cơ Nhất có 4 lân: Trung Phấn, Trung Vũ, Trung Uy, Trung Tín; cơ Nhị có 5 lân: Tiền Thái, Tiền Mĩ, Tiền An, Tiền Vân, Tiền Sơn; cơ Tam có 4 lân: Tả Sơn, Tả Thanh, Tả Dũng, Tả Hùng; cơ Tứ có 5 lân: Hữu An, Hữu Trí, Hữu Hội, Hữu Hòa, Hữu Dũng; cơ Ngũ có 4 lân: Hậu Thành, Hậu Nghĩa, Hậu Tường, Hậu Quỳnh; cơ Lục có 5 lân: Nội Phước, Nội Lộc, Nội Thọ, Nội Bảo, Nội Tài. Mỗi lân đặt ra chức Cai lân, Phó lân để cai quản. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi chức Cai lân là Chánh bát phẩm Bá hộ, Phó lân là Chánh cửu phẩm Bá hộ, đổi 6 Kiên cơ thành 6 cơ Tĩnh Man, xây tăng thêm đồn bảo vệ, thành 117 đồn. Năm thứ 17 (1836) trích cơ thứ 6 ra lập thành vệ Nhất Quảng Ngãi, tùy theo tình hình địa bàn mà bổ sung thêm cho 5 cơ còn lại để tiện cho kế hoạch ứng phó. Năm thứ 20 (1839), chuyển giao cho Lãnh binh của tỉnh quản lãnh công việc này. Sang đời Thiệu Trị, cắt giảm số đồn xuống chỉ con 56 đồn, số lính của 5 cơ là 2150 người, mỗi cơ đặt ra 1 viên Chánh Quản cơ và 1 viên Phó Quản cơ, mỗi đồn đặt 1 viên Suất đội, đóng ở các cửa tấn để phòng thủ, tất cả do viên Lãnh binh cai quản chung. Trải lâu năm lũy bị đổ nát, nhiều toán dân man vượt quan lũy đến cướp bóc các làng dưới xuôi. Năm Tự Đức thứ 8 (1855) trùng tu lại Trường lũy, năm thứ 9 (1856) chia đặt ra 80 đồn, bổ sung thêm binh lính thành 8 cơ, chia thành 3 ban, cứ 2 tháng thay phiên nhau một lần. Năm thứ 10 (1857) đặt chức Tuần phủ 1 viên, về sau lại bãi bỏ. Năm thứ 16 (1863) đặt chức Tiễu phủ 1 viên, Phó lãnh binh 1 viên để khi có xảy ra sự việc thì cùng bàn bạc với nhau mà giải quyết. Năm thứ 17 (1864) lại đổi 8 cơ thành 6 cơ, mỗi cơ 10 đội, lại kén tuyển lính chiến thành 1 vệ, vệ có 12 đội, chiêu mộ 5 đội Nghĩa Hùng, 2 đội Tĩnh Man, đặt 3 đồn lớn Tĩnh Man, còn các cơ đồn khác tùy xét mà cắt giảm. Những nơi xung yếu thì do binh lính của cơ đóng giữ, nơi dễ dàng hơn thì do dân của các lân canh giữ. Hiện nay chỉ còn 47 đồn nhỏ và 3 đồn lớn, tổng cộng 50 đồn.
Đền miếu
Đền Bùi Đô đốc
Đền ở xã Thu Phố huyện Chương Nghĩa. Thần họ Bùi, tên là Tá Hán, người Bắc kì, thời vua Lê Anh Tông làm Trấn thủ Quảng Nam, Bắc quân Đô đốc Trấn Quận công. Ở trấn, ông chỉ huy xây dựng đồn, trồng rào tre dọc theo biên giới để đề phòng nạn người man. Người Man vì thế không dám vào xâm phạm, nhân dân được sống yên ổn. Sau khi ông mất được tặng Thái bảo, dân địa phương lập đền thờ, gọi là đền Trấn Công. Con trai của ông là Tứ Dương hầu Bùi Tá Thế cũng được phụ thờ. Mộ của ông ở xã Thu Phố.
Đền Hoàng Đề lãnh
Đền ở huyện Mộ Đức. Thần họ Hoàng, húy Thiệu, người Lộ Bôi. Hồi đầu ông làm quan Đề lãnh, khai khẩn ruộng nương, đào kênh mương mưu lợi cho dân. Về sau ông đi đánh giặc man bị tử trận, được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền Nguyễn Tướng quân
Đền ở huyện Mộ Đức. Thần họ Nguyễn, húy Địch. Hồi đầu dựng nước của triều ta, ông làm quan Cai giám, có công trong việc bình định người man, từng cùng người man phân định ranh giới ở núi Tượng Đầu. Sau khi ông mất được tặng là Phụ quốc Thượng Tướng quân.
Đền thần Lộ Bôi
Đền trên núi xã Lộ Bôi. Tương truyền hồi đầu dựng nước của triều ta, Nguyễn Hữu Kính trên đường đánh giặc Chiêm Thành đi qua xã này, ban đêm nhìn thấy có ngôi sao lớn từ trên trời rơi xuống núi. Ông thầm khấn thần phù hộ. Khi thắng trận trở về bèn dựng một ngôi đền tại chỗ đó để thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Thiên Ấn
Chùa trên núi Thiên Ấn huyện Bình Sơn, từng được vua tiên triều ban tặng biển ngạch đề "Thiên Ấn tự". Chùa nay vẫn còn, vườn chùa cây cối rậm rạp tươi tốt, hương hoa không bao giờ dứt, là một di tích đẹp.
Chùa Kì Hi

Chùa ở huyện Bình Sơn. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) người trong xã đào đất bắt được một pho tượng mình người đầu voi bằng đá trắng và hai hòn đá to bằng quả trứng ngỗng, bèn đem về lập đền thờ.

















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét