Thứ Ba, 19 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên). Tỉnh Bình Định - Tỉnh Phú Yên

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Cổ tích
Tháp cổ Chiêm Thành
Có 8 tòa tháp ở thôn Vân Tường huyện Tuy Viến, một tòa tháp Đồng ở thôn Thủ Hương, một tòa tháp Tiên Vũ (tục gọi là tháp Cánh Tiên) ở thôn An Nam, một tòa tháp đổ ở thôn Hưng Thịnh huyện Tuy Phước, một tòa tháp Thanh Trúc ở thôn Bình Lâm, một tòa tháp Long Triều ở thôn Xuân Mĩ, một tháp Thị Thiện ở trên núi đất chỗ giáp giới của 4 thôn Đại Lộc, Hoàng Kim, Vạn Bảo và Phong Niên, một tháp thôn Phước Lộc ở trên núi đất chỗ giáp giới của 2 thôn Phú Thành và Châu Thành huyện Phù Cát.
Phế thành Đồ Bàn
Thành nằm trên địa phận ba thôn Nam Định, Bắc Thuận, Bả Canh thuộc phía bắc huyện Tuy Viễn, vốn là Kinh đô nước Chiêm Thành, chu vi có thể tới 30 dặm, trong thành có tháp cổ, nghê đá, voi đá đều là đồ vật của người Chiêm. Nguyễn Văn Nhạc nhà Tây Sơn chiếm thành này, nhân di chỉ cũ xây lên bằng đá ong, tiếm xưng là thành Hoàng Đế. Năm Đinh mùi hồi đầu Trung hưng ta thu phục lại thành này, đổi tên là thành Bình Định. Năm Nhâm thìn đổi thành trấn, dời trị sở đến chỗ hiện nay, thành trở nên hoang phế. Di chỉ nay vẫn còn. Trong thành có đền Chiêu Trung thờ Hoài Quốc công Võ Tánh và Ninh Hòa Quận công Ngô Tòng Chu.
Phế thành An Thành
Tục gọi là Bắc Thành, ở thôn An Thành phía đông huyện Tuy An, do người Chiêm Thành xây dựng, nay đã đổ nát, hiện còn di chỉ.
Phế thành Phú Phong
Tục gọi là thành Bách Bích, ở trên núi thôn Tây Phú Phong, phía đông huyện Tuy Viễn. Thành nay đã đổ nát, hiện còn di chỉ. Thành còn có tên là thành Úy Trì, là một trong những lũy cổ của Ôn Công ngày trước.
Núi
Núi Kì Sơn
Núi ở phía đông huyện Tuy Phước. Trên sườn núi có một chỗ lõm vào. Lại có một đỉnh, ở phía tây có hồ Quang, tục gọi là ngọn Quang Hồ. Mé tây bắc ở đỉnh cao nhất có mỏm đá dài hình như chim phượng, tục gọi là Phượng Sơn, thôn ở đây cũng mang tên là thôn Phượng Sơn. Cách vài bộ dưới chân núi có hố đất, địa thế bằng phẳng, rộng chừng vài mẫu, rìa hố nổi lên một khối đá lớn hình con rùa, tục gọi là hố Rùa. Từ đây đi xuống phía dưới có hang đá, cạnh hang có hai tảng đá, trẻ chăn trâu thường tới gõ chơi, nên có gọi là núi Tiếng Trống. Phía bắc núi Phượng Sơn lại nổi lên một ngọn núi uốn cong như hình bán nguyệt, tục gọi là gò Nguyệt. Nhìn về phía đông, hơi chếch xuống các xóm thôn bên dưới có núi Ngư Cốt (Xương cá), tương truyền vị cao tăng đời Lí là Không Lộ ăn cá chất xương cá thành núi, nên đặt tên núi như vậy. Năm Nhâm tuất vào thời kì đầu dựng nước, Nguyễn Văn Thành sai Nguyễn Đức Xuyên đánh đồn giặc ở núi Kì Sơn, giặc bị giết rất nhiều. Tướng giặc là Trần Quang Diệu dẫn quân từ phía sau núi đột kích ra bao vây, Tiền quân Phó tướng Nguyễn Huệ bị tử trận, Nguyễn Đức Xuyên phải lui quân về cố thủ. Về sau Nguyễn Văn Thành lại đem quân lên núi này phá được giặc, rồi sai quân dựng đồn cố thủ đề phòng hậu hoạn. Giặc phải bỏ thành chạy trốn.
Núi Bà
Núi ở huyện Phù Cát, còn gọi là núi Phô Chiêng. Núi cao hùng vĩ, trên đỉnh có khối đá lớn thẳng thắn ngay ngắn như cái mâm. Chân núi có đá dựng thẳng đứng giống hình người. Dân địa phương lập đền ở đây để thờ, đến cầu mưa luôn được ứng nghiệm. Ở phía tây có núi Thạch Quán, nơi con đường dịch lộ đi ngang qua. Phía đông có núi Đạm Thủy, núi Tố Mộ, phía tây bắc có núi Lang Sơn, phía nam có núi Thạch Đà, phía đông nam có núi Lại Sơn, Thế Sơn.
Núi Càn Dương
Núi ở phía đông nam huyện Phù Cát. Ở chân núi ngày xưa có kho Càn Dương, Nguyễn Văn Huệ nhà Tây Sơn lấy làm phủ mới, tục gọi là Phủ Mới, hiện vẫn còn lại di chỉ của ao chuôm, lũy cổ ngày trước ở thôn Trường Thịnh, tạo thế ỷ giốc với thành Qui Nhơn. Năm Quí tị đầu thời Trung hưng, quân ta tấn công lên, bọn chúng cậy mạnh lại chiếm vị trí trên cao, cho rằng quân ta không thể lên được. Bấy giờ có Trần Công Hiến người Quảng Ngãi tình nguyện xin vào trại giặc làm nội ứng. Quân ta bên ngoài khua trống hò reo xông lên, từ bên trong Công Hiến cũng tả xung hữu đột, bọn chúng tán loạn bỏ chạy ra bốn phía. Đồn ấy bị ta san phẳng chính là tại nơi này. Phía bắc núi có đỉnh Càn Dương. Từ trên đỉnh này có đường đi thông tới núi Thế Sơn, Đàn Lâm, Khưu Sơn. Phía nam đỉnh Càn Dương có núi Đồn, núi Linh Phong Tự, núi Sơn Cốc, phía tây có núi Lương Quán.
Đá Vọng phu
Ở phía đông nam huyện Phù Cát, phía bắc núi Càn Dương. Trên núi có tảng đá hình người đàn bà đang bồng một đứa trẻ con, bên trái lại dắt một đứa bé nữa, lưng dựa vào núi cao, mặt hướng ra biển Nam Hải. Tương truyền ngày xưa có người đàn bà ở thôn Chính Uy sinh ra được hai người con một trai một gái, đều còn nhỏ tuổi. Một hôm nhà phơi thóc, đàn gà xúm vào ăn. Mẹ bảo đứa bé trai đuổi chúng đi, cậu bé cầm ngay viên đá ném, chăng may trúng ngay vào đầu em gái. Bà mẹ tức giận đuổi cậu bé đi. Cậu bé sợ hãi bỏ đi biệt xứ hơn hai mươi năm, khi trở về thì mẹ già đã qua đời, em gái cũng lưu lạc nơi nào, dò tìm mãi không có tin tức. Người con trai đành ở lại thôn Chính Uy làm ăn sinh sống. Sau lấy người con gái thôn Chính Mính làm vợ, sinh được một con trai và một con gái. Một hôm rỗi rãi vợ chồng ngồi bắt chấy cho nhau. Chồng phát hiện đầu vợ có vết sẹo, hỏi ra mới biết mình đã lấy nhầm phải em ruột. Vì quá xấu hổ, chàng lẳng lặng lên thuyền bỏ đi xa không quay trở về nữa. Người vợ nhớ thương chồng dắt hai con lên núi ngóng trông, vì quá bi thương mà cùng hóa thành đá.
Đền miếu
Đền Chiêu Trung
Đền ở thôn Nam Định huyện Tuy Viễn. Hồi đầu Trung hưng triều ta, Hoài Quốc công Võ Tánh và Ninh Hòa Quận công Ngô Tòng Chu lưu giữ thành Bình Định bị tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng hợp sức vây đánh. Suốt hơn một năm hai ông bám thành cố thủ, lại bí mật dâng biểu khuyên vua thừa dịp này mà đánh lấy thành Phú Xuân. Vua nghe theo kế ấy. Đến khi trong thành hết sạch lương ăn, Ngô Tòng Chu uống thuốc độc tự vẫn, còn Võ Tánh thì tự thiêu ở lầu Bát giác. Sau khi quân ta đã thu phục được Kinh thành Phú Xuân, quay lại cứu viện thì hai ông đều đã tuẫn tiết. Bèn lập một ngôi đền ở ngay tại chỗ ngôi lầu để thờ phụng hai ông, gọi là đền Lầu Bát Giác. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) đổi thành tên gọi ngày nay là đền Chiêu Trung. Phía sau đền còn có mộ của bà Võ Thị Cơ và của một viên Đội trưởng không rõ tên cùng chết theo với hai ông.
Đền Bao Trung
Đền ở thôn Hưng Thịnh huyện Tuy Phước. Vào khoảng năm Canh thân, Tân dậu thời kì đầu dựng nước triều ta, khi vương sư tấn công thành Qui Nhơn, Nghi Giang Quận công Vũ Di Nguy bị tử trận ở cửa biển Thi Nại, Bình Giang Quận công Chu Viết Phúc tử trận ở sông Tân Khai. Sau ngày đại định đất nước, hai ông được lập đền thờ, gọi là Miếu Công thần núi Hưng Thịnh. Năm Tự Đức thứ 4 (1853) đổi thành tên gọi ngày nay là đền Bao Trung.
Đền Uy Minh vương
Đền ở huyện Tuy Phước, còn có tên là đền Sơn thần núi Tam Tháp tại cửa biển Thi Nại. Thần họ Lí, tên là Nhật Quang, là con trai thứ 8 của vua Lí Thái Tổ, được phong là Uy Minh vương, cai quản phủ Nghệ An có nhiều chính sách ơn huệ với dân, được cả quan và dân thương yêu kính phục. Bấy giờ có bộ lạc Chiên Thành làm phản, chúa Chiêm xin cầu viện. Quân của Vương đóng ở chân núi Tam Tòa, chúa Chiêm ra nghênh yết. Bộ lạc kia hay tin đều đến trước cửa quân vái lạy, xin từ nay nghe theo lệnh của chúa Chiêm, không dám ăn ở hai lòng nữa. Vương đưa quân về. Người Chiêm cảm ơn ân đức của Vương lập đền thờ tại chân núi Tam Tòa. Đến thời vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, quân di đến cửa biển Thi Nại cầu thần phù hộ được ứng nghiệm, sau khi hạ thành Đồ Bàn, phong cho Vương là thần núi Tam Tòa.
Đền thần Thịnh Xuân
Đền ở phường Thịnh Xuân huyện Bồng Sơn, thờ 3 vị thần, là Tứ Dương Thành Phủ quân, Dương Long Phủ quân và Thế Nhạc Phủ quân. Tương truyền ba vị lúc sinh thời tử tiết, sau khi mất hiển linh. Đền thờ nằm bên cửa biển An Dụ, bến cát ở hai bên thường hay bị bồi tắc. Tàu thuyền qua lại gặp khó khăn , nếu cầu khấn thần phù hộ thì luôn tìm được luồng nước sâu và rộng mà đi. Mùa vận chuyển năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) gặp phải kì nước biển xuống nông, quan địa phương tới đền cầu đảo, hôm sau ra đã thấy ở chỗ cửa biển mới khai thông tàu thuyền đi về rất thuận lợi. Được vài ngày lại trở về như cũ. Sự việc tâu lên, triều đình xuống chiếu sai biện lễ vật đem tới đền lễ tạ.
Đền Tráng Bang hầu
Đền ở thôn Chính Hòa huyện Phù Cát. Thần là người bản thôn, họ Chu, húy Tá An, thi đỗ Hương cống vào hồi đầu dựng nước triều ta, làm quan giữ chức Khám lí, tước Tráng Bang hầu. Thần có công bình định người man, mở mang đất đai. Sau khi mất được dân bản thôn lập đền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Thạch Cốc
Chùa ở núi Hắc Thạch (tục gọi là xứ Đá Đen) thôn Hội Khánh huyện Phù Cát. Chu vi 19 trượng có lẻ. Từ tiền đường ra đến cổng chính và vào trong nội từ đều dài hơn 3 thước. Cửa chùa rộng 5 thước, cao hơn 4 thước. Chùa có 12 cái bàn vuông, bên trong đặt 3 cái, bên phải 5 cái, bên trái 4 cái. Hai bên cửa đều có thềm với bậc đá lên xuống. Bên trên chùa có khe ngách thông tới lưng núi đằng sau, phía dưới chùa cũng có ngách thông ra các hộ phía bắc. Chùa hướng ra núi La Hơi ở phía nam. Tương truyền vào năm hạn hán, nếu nghe thấy trên núi có tiếng rào rào như xay lúa thì ắt sẽ có mưa, còn năm nào mưa nhiều mà nghe thấy tiếng ấy thì sẽ tạnh.
Chùa Vân Phong
Chùa ở núi Ỷ Cao thôn Phương Phỉ huyện Phù Cát. Chùa mặt hướng ra đầm phá ngoài biển, có suối nước chảy quanh, phong cảnh rất đẹp. Tương truyền đây là chùa Dũng Tuyền ngày trước, do nhà sư Lê Ban (tục gọi là Ông Núi) xây dựng vào năm Nhâm ngọ, tức năm thứ 11 thời Hiển Tông Hoàng đế triều ta (tương truyền là năm Chính Hòa thứ 13) . Năm thứ 8 Quí sửu đời Túc Tông (tức năm Long Đức thứ 2 (1733), sắc phong cho nhà sư là Tịnh Giác Thiện Trì Thiên Lão Ông Thiền sư và ban cho biển ngạch đề tên chùa là "Linh Phong thiền tự" cùng với một đôi câu đối, hiện vẫn còn. Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) ban cho tiền để trùng tu.
Chùa Thập Tháp
Chùa ở thôn Thuận Chính huyện Tuy Viễn. Sau chùa có 10 tòa tháp cổ , nên gọi là chùa Thập Tháp. Tháp nay đã bị đổ. Chùa do nhà sư người Đường  là Hoán Bích Hòa thượng xây dựng vào năm thứ 21, Quí hợi đời Thái Tông triều ta (tức năm Chính Hòa thứ 4 (1683). Năm thứ 10, Tân tị đời Hiển Tông (tức năm Chính Hòa thứ 12) , sắc ban biển ngạch tên chùa là Thập Tháp Di Đà tự cùng câu đối. Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) chùa được nhà sư chùa Thiên Mụ là Mật Hoằng Hòa thượng tiến hành trùng tu. Chùa này cùng với chùa Vân Phong đều nổi tiếng là nơi danh thắng
Chùa Nhạn Sơn
Chùa ở thôn Nhạn Tháp huyện Tuy Viễn, nằm ở phía nam thành Đồ Bàn. Trong chùa có hai hòn đá đặt đứng trên tảng đá tròn hướng mặt vào nhau, thân đá cao hơn 6 thước, vòng lưng hơn 5 thước, một tảng sơn màu đỏ, một tảng sơn màu đen. Sư chùa cho may khăn đao áo mũ mặc lên đá rồi vẽ hình rống mây trang trí như người thật. Tương truyền đây vốn là tượng Phật của người Chiêm Thành.

TỈNH PHÚ YÊN
Cổ tích
Phế thành An Nghiệp
Thành ở bờ bắc sông Đà Diễn thuộc xã An Nghiệp, phía tây huyện Tuy Hòa, chu vi 1400 trượng, tương truyền do người Chiêm Thành xây dựng, tục gọi là thành Hồ. Vào năm Mậu dần thời Thái Tổ triều ta, Quận công Lương Văn Chính tiến công san phẳng thành này. Hiện vẫn còn di chỉ.
Tháp cổ Chiêm Thành
Tháp ở trên núi thuộc xã Bảo Tháp, phía đông huyện Tuy Hòa, tương truyền là nơi an táng của Vương hậu nước Chiêm Thành. Phía dưới tháp có miếu Chùa Sắt.
Núi
Núi Đại Lĩnh
Núi ở phía đông nam huyện Tuy Hòa, chỗ giáp ranh giữa Phú Yên và Khánh Hòa, nơi đặt trạm Phú Hòa. Núi từ phía tây Ngọc Sơn đổ về chạy theo hướng đông ra sát bờ biển. Mé nam có dòng suối lớn. Năm Ất mão hồi đầu Trung hưng, đại quân của ta đi cứu viện Diên Khánh, sai Tống Viết Phúc thủ giữ đồn Đại Lĩnh, đó chính là nơi này. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826) hình núi này được lấy để khắc vào Tuyên đỉnh. Xét: Chương Hoàn Vương truyện trong sách Tân Đường thư chép rằng, ở Nam Đại Phố châu Bôn Đà Rằng nước Lâm Ấp có núi Ngũ Đồng Trụ, chếch phía tây toàn núi đá trùng trùng, phía đông núi đá chạy ra tới biển. Cột đồng là do Mã Viện trồng. Xem thế thì núi Ngũ Đồng Trụ ngờ rằng chính là núi Đại Lĩnh. Nhưng nghiên cứu truyện về Mã Viện thì ông ta chưa từng đi đến vùng này.
Núi Thạch bi
Núi ở phía đông huyện Tuy Hòa. Vào năm thứ 6 Tân mão thời Duệ Tông triều ta có sét đánh, đá trên núi đang từ màu đen trở nên trắng toát, nhìn từ xa nom như tấm bia đá lớn dựng sừng sững, sắc trắng như vôi, Triều đình đã cử quan đến làm lễ cầu đảo. Trên núi có nhiều ác thú, hiếm có dấu chân người lên đây. Sách Thủy lục trình kí của Trần Công Hiến chép rằng, núi này có một nhánh ăn ra tới ngoài biển thì tách ra làm đôi, cây cối thảo mộc cũng chia ra hai loại. Có một mỏn đá đầu nghiêng về hướng đông giống hình người. Ngày xưa vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành qua đây cảm kích mà nói rằng: Trời đất mở ra đã phân chia lãnh thổ, thế mà bọn giặc kia dám nghịch mệnh trời tất sẽ bị trời giáng tai họa. Nhân đó đem lời ấy khắc lên vách đá. Sách Dư địa chí của Lê Quang Định chép: Vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, mở mang lãnh thổ ở phương nam, khi đi đến đây mài đá ở vách núi dựng đứng lập thành bia để phân định rõ ranh giới với Chiêm Thành. Vì vậy núi mang tên là Thạch Bi. Ngày nay nét chữ khắc đã bị vỡ không nhận ra được nữa, nhưng bia miệng thì vẫn còn truyền tụng câu nói: "Chiêm Thành vượt qua đây thì quân bại nước mất; An Nam vượt qua đây thì tướng chết lính toi".
Đền miếu
Đền Biểu Trung
Đền ở cửa tấn Cù Mông thuộc thôn Vĩnh Cửu, phía bắc huyện Đồng Xuân, thờ hơn 500 tướng sĩ bị chết trận và chết bệnh vào hồi đầu Trung hưng triều ta.
Đền thần Định Phú
Đền ở phía đông núi Tượng Sơn xã Định Phú, tục gọi là đền Sư Loan. Tương truyền sư Loan là viên Đội trưởng dưới trướng chỉ huy của Quận công Lương Văn Chính, ông mất chôn cất ở đây, sau đó hiển linh. Có một viên quan Điều khiển  dẫn quân đánh giặc qua đây thì dừng lại nghỉ chân. Đêm ấy mộng thấy một cụ già chống gậy trúc tới chỉ bảo cho thế trận đánh giặc. Vái hỏi tên hiệu, cụ già tự xưng là sư Loan. Quan Điều khiển tỉnh giấc, ghi nhớ lời thần dạy. Khi gặp giặc bày trận đúng theo những điều được nghe trong mộng, quả nhiên thắng to. Khải hoàn trở về, ông lập ngôi đền để thờ phụng thần.
Chàu quán
Chùa Từ Quang
Chùa ở xã Xuân Đài, phía bắc huyện Đồng Xuân. Vào đầu triều Gia Long, Diệu Lệ Hòa thượng đã xây dựng chùa và trụ trì tại đây.











Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét