Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) Tỉnh Khánh Hòa - Tỉnh Bình Thuận (Hết)


TỈNH KHÁNH HÒA
Cổ tích
Tháp cổ Thiên Y
Ở xã Ngọa Lao huyện Vĩnh Xương. Trên đỉnh núi ở đây có tòa tháp đổ, bên trái cao 6 thước, thờ tượng đá thần Thiên Y A Na Diễn phi; bên phải cao 2 trượng, thờ Bắc Hải Thái tử. Tương truyền Thiên Y là vị tiên nữ, khởi đầu hiển linh giáng trần xuống núi Đại Điền (Cựu An). Bấy giờ có hai ông bà già không có con cái, trồng dưa sinh sống ở trên núi. Đến vụ thu hoạch cứ thấy dưa bị ai hái mất. Ông bà lấy làm quái lạ, ban đêm đi rình thì thấy có một cô gái tuổi chừng mười ba mười bốn từ trong lùm cây rón rén bước ra hái dưa rồi đùa rỡn dưới ánh trăng. Xông lại gần xét hỏi thì đúng là kẻ vẫn thường ra hái dưa của ông bà. Hai người thương cô gái ít tuổi lại xinh xắn bèn dắt về nuôi. Thấy cô gái có phong thái thanh tao nhã nhặn, đúng là người trời nên ông bà rất quí mến thương yêu. Một hôm mưa lũ đổ về mà cô gái vẫn ra ngoài hái hoa, chọn đá xếp ngọn núi giả đùa chơi, bị ông lão tức giận mắng cho một trận. Cô gái lòng buồn bã, rồi nhân thấy có cây gỗ ca nam đang cuốn trôi theo dòng nước lũ bèn thác thân nhập vào thân cây. Cây gỗ theo lũ trôi xuôi mãi rồi giạt vào bờ biển phương bắc. Người Bắc quốc thấy cây gỗ hương rất quí bèn hùa nhau vớt lên, không ngờ gỗ nặng không sao nhấc lên được. Thái tử nước ấy hay tin cũng ra bờ biển xem, rồi bước xuống nước tự tay kéo cây gỗ, cây gỗ ngoan ngoãn nghe theo, được đưa về để ở trong cung điện. Thái tử mới đến tuổi đội mũ, còn chưa lấy vợ, lòng thấy bồi hồi, hễ cứ ôm lấy cây gỗ là lại thấy có ánh trăng ẩn hiện, thoang thoảng bay ra mùi hương thơm dìu dịu như có ai vừa mới đi qua, khiến Thái tử xao xuyến trong lòng. Một đêm Thái tử định thần tỉnh táo trở lại, một mình đến bên cây gỗ để tìm hiểu rõ chuyện. Lại thấy bóng người và hương thơm như hôm trước, Thái tử bèn níu lại truy hỏi, thì ra đó là một mĩ nhân. Cô gái thấy người vội hoảng hốt lẩn trốn, bị Thái tử níu lại hỏi, không đi được nữa đành kể lại đầu đuôi câu chuyện. Thái tử mừng rỡ, đem sự việc tâu lên vua. Vua cũng cho là duyên lạ, bèn cho họ lấy nhau. Sau đó ít lâu, hai người sinh được một con trai đặt tên là Chi, và một con gái đặt tên là Quí. Một hôm người vợ chợt thấy nhớ núi cũ, bèn ôm hai con nhập vào cây gỗ hương vượt biển trôi về phương nam, thẳng tới bở biển Cù Huân lên bờ, tìm về nơi ở cũ trên núi, thì ông bà già đã mất từ lâu. Bà bèn ở lại mở mang vườn tược, dựng ngôi miếu thờ ông bà già. Lại thấy dân cư vùng núi rừng chất phác mông muội, không biết cách làm ăn sinh sống và phòng chống tai họa, bà liền đặt ra phép tắc kỉ cương, dạy dỗ nghề nghiệp sinh nhai. Sau đó lên đỉnh núi Cù Lao khắc đá tạo thành tượng để lại rồi giữa ban ngày bay thẳng về trời. Thái tử Bắc Hải thấy vợ bỏ đi mất, bèn đi thuyền đến tìm. Vì bọn thuyền nhân ấy uy hiếp ngược đãi dân địa phương, lại tỏ ra bất kính đối với tượng thần nên trời nổi gió bão làm chúng bị lật thuyền, tất cả hóa thành một đống đá. Từ đó pho tượng càng thể hiện sự linh thiêng, dân địa phương thờ phụng làm thần, bèn dựng hai tòa tháp ở trên núi, tháp bên trái thờ Tiên chúa, tháp bên phải thờ Thái tử. Đằng sau tháp lập một ngôi đền nhỏ thờ hai người con trai và con gái của bà Chúa, bên trái lập ngôi đền nhỏ thờ ông bà già đã nuôi bà Chúa. Tấm bia chùa ở đằng trước tháp đều ghi bằng kiểu chữ hình con sâu, không đọc hiểu được. Hiện nay vườn tược ở đấy vẫn còn, hoa quả có thể tùy ý hái ăn nhưng không được lấy đem về. Mỗi khi gặp kì lễ tiết, thú rừng cá biển đều về chầu phục. Người Chiêm gọi thần là Thánh Bà Thiên Y A Na Diễn Phi Chúa Ngọc. Vào đầu triều ta phong tặng cho thần là Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng thần, cho dân Ngọa Lao được sung làm từ phu .
Phế lũy Chiêm Thành
Tại xã Phú Thịnh ở phía bắc huyện Vĩnh Xương có một đoạn lũy cổ, tương truyền là đồn ngày xưa của người Chiêm. Di tích hiện vẫn còn.
Núi
Núi Đại Điền
Núi ở phía bắc huyện Phước Điền, tên ngày xưa là Đại An, tục gọi là Núi Chúa. Thế núi hùng vĩ, chu vi hơn trăm dặm, tương truyền là nơi hiển linh của thần Thiên Y A Na Diễn Phi. Núi này cấm tiều phu lên lấy củi, thường có ánh sáng thiêng từ trên chiếu xuống. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) núi được liệt vào hàng đại sơn và liệt ghi vào điển thờ.
Núi Thị Sơn
Núi ở phía tây huyện Đại Điền, chân núi có miếu thờ Thái tử (xem ở phần Cổ tích). Trong miếu có một đôi hài bằng đá, một bàn cờ và những quân cờ bằng đá. Phía nam là đường đi. Phía tây có vụng nước sôi hình vuông rộng khoảng hơn 1 mẫu. Trong vụng có những bụi cây cỏ bốn mùa xanh tốt. Phía tây có hồ sen, nước một nửa trong một nửa đục.
Núi Diễn Sơn
Núi ở huyện Vĩnh Xương. Trên núi có đường đi qua. Năm Đinh tị đầu thời Trung hưng, ở đây xuất hiện nhiều hổ sói, không có bóng dáng khách buôn qua lại. Quan Án trấn là Nguyễn Văn Thành đến cầu đảo Chúa Ngọc Tiên nương, qua vài tháng quả nhiên bắt được hổ dữ, khách buôn nhân đó được ơn nhờ, bèn lập ngôi đền tại đây, gọi là đền Diễn Sơn. Ngoài ra còn có núi Hoàng Ngưu (núi Bò Vàng) ở đông nam huyện Vĩnh Xương, chu vi hơn 10 dặm, phía bắc giáp bờ biển, gần đó có núi Lũy Thạch.
Đền miếu
Đền Tinh Trung
Đền ở núi Hà La thôn Mĩ Thạnh huyện Vĩnh Xương, thờ 350 vị công thần tử trận thời Trung hưng của triều ta.
Đền Quá Quan
Đền ở xã Đắc Lộc huyện Phước Điền, thờ Thiên Y Tiên nương. Phía trước đền là đường cái quan, ngày xưa sứ thần của Thuận Thành, Chân Lạp sang nộp cống đi qua chỗ này thường vào bày lễ bái yết ở đền rồi mới đi tiếp, vì thế mới gọi tên đền là Quá Quan.
Chùa Kim Sơn
Chùa ở thôn Ngọc Toản hyện Vĩnh Xương. Ngày xưa tên là chùa Kim Sơn, về sau Thế Tông Hoàng đế triều ta đổi là "Tôn tự" (chùa Tôn), ban cho biển ngạch, bên phải khắc 8 chữ "Quốc chúa Từ Tế Đạo nhân ngự đề", nay vẫn còn. Năm Thiệu Trị nguyên niên lấy lại tên gọi cũ, làm biển mới cấp cho.
Chùa Linh Sơn
Chùa ở xã Xuân Sơn huyện Vĩnh Xương. Thế Tông Hoàng đế triều ta ngự chế ban cho một đôi câu đối, nay vẫn còn.

TỈNH BÌNH THUẬN
Cổ tích
Thành cổ Chiêm Sơn
Thành ở xã Vĩnh An huyện Hòa Đa, nơi ở của Quốc vương Chiêm Thành. Phía trước có khoảnh ao vôi, di tích nay vẫn còn.
Cựu trấn Thuận Thành
Ở phía tây bắc huyện Hòa Đa, đây là nơi ở của Phiên vương Thuận Thành. Xét: Theo sử nhà Lê, vua Lê Thành Tông sau khi đã bình định được Chiêm Thành, mở mang bờ cõi đến núi Thạch Bi. Con cháu của vua sau đó còn chiếm cả vùng đất phía tây sông Phan Rang mà đem phong. Đến năm Nhâm thân (1692) thời Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế triều ta, bọn Bà Tranh làm phản, chúa sai tướng đi đánh, bình định được toàn bộ đất ấy, chia vẽ cương giới cho bộ lạc của Vương phụ nước ấy ở, đổi tên thành trấn Thuận Thành, phong cho con cháu được thế tập làm Thuận Thành vương, hàng năm nộp cống sản vật, trở thành nước phiên thuộc. Khi nhà Tây Sơn nổi lên, Chưởng cơ Tá (khuyết danh) của Thuận Thành đầu hàng Tây Sơn, đem đất nước của báu truyền đời trao cho họ. Năm Mậu thân, Thế Tổ Cao Hoàng đế thu phục Gia Định, nhiều lần truyền dụ nhưng Tá sợ tội không dám ra. Binh lính của ta qua đây nhiều lần bị hại. Đến năm Giáp dần, đạo quân của viên Tù trưởng Thuận Thành là Nguyễn Văn Hào bắt được Tá đem giết, từ đó bỏ tước hiệu Thuận Thành vương, trao cho Hào làm Chưởng cơ, lãnh chức Chánh trấn trấn Thuận Thành. Nguyễn Văn Chấn cũng được làm Chưởng cơ, lãnh chức Phó trấn, chiêu tập dân chúng trở về làm ăn, hàng năm nộp thuế, lệ thuộc vào dinh Bình Thuận. Hào chết, Trấn thay làm Chánh trấn; Trấn chết trao cho Vĩnh làm Trấn thủ; Vĩnh chết trao cho Thừa làm Phó Trấn thủ. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) Thừa dẫn thổ dân đến tình nguyện xin đổi đất ấy làm dân của nhà nước. Thừa được trao chức Quản cơ theo tỉnh làm công vụ, chuyên đốc thúc thu thuế ở thổ dân các tổng và 130 sách người man Trà Nương. Năm thứ 15 (1834) Thừa câu kết với nghịch Khôi, sự việc bị phát giác, Thừa bị tội chết, dân địa phương cùng dân man ở đất ấy bị chia ra lệ vào các huyện. Dòng dõi của người Chiêm đến đây là dứt.
Tháp cổ Chiêm Thành
Có 5 tòa tháp. Tháp thứ nhất là tháp Đắc Nhơn ở thôn Đắc Nhơn huyện An Phước, do Tiên phiên vương xây dựng; thứ hai là tháp Hậu Sinh ở thôn Hậu Sinh; thứ ba là tháp Bỉnh Nghĩa ở thôn Bỉnh Nghĩa; thứ tư là tháp Tuy Tĩnh ở thôn Tuy TĨnh huyện Tuy Phong, do Tập phiên vương xây dựng; thứ năm là tháp Bảo Sơn ở trên đỉnh núi thôn Bảo Sơn huyện Tuy Lí, không rõ ai xây dựng. Các tháp nay đều vẫn còn.
Phế lũy Cổ Tỉnh
Lũy ở huyện Tuy Lí, dài 645 trượng. Ngày trước khi các toán phỉ người man của Dương Bao Chu , Diệp Mã Lăng gây loạn, quan lưu thủ là Cường Uy hầu (không rõ tên họ ) đã đắp lũy này để đánh dẹp chúng. Di chỉ nay vẫn còn.
Giếng cổ Phiên vương
Giếng ở thôn Tăng Phú huyện Hòa Đa. Tương truyền Phiên vương Bà Tranh thường ra nghỉ ngơi ngắm biển tại đây, cho đào giếng để lấy nước uống chống khát, tục gọi là giếng Vương tỉnh.
Núi
Núi Hương Ấn
Núi ở phía tây huyện Hòa Đa. Thế núi cao chót vót, trên có án đá gồm hai bậc. Bậc thứ nhất thờ Dương thần (tục gọi là Dương Tu), bậc thứ hai thờ Dương Phu nhân. Dưới hai bậc này đá lõm vào in hằn thành ngấn như hình bàn chân người. Tương truyền đó là dấu chân của Dương Phu nhân. Phía trước núi đá xếp hình như sống lưng con cá, bên dưới có đầm nước sâu, lại có các hốc đá, tương truyền là nơi Phu nhân nuôi cá. Bên phải núi có bàn đá cao khoảng 4 trượng, mặt vuông 4 thước, nom như hình cái chuồng voi. Gặp năm hạn hán đến cầu đảo, nghe trong núi có ba tiếng sấm thì chỉ chốc lát trời sẽ mưa. Gần đó có núi Ích Sơn, La Sơn.
Ngọn Vật Thăng
Núi ở phía nam huyện Hòa Đa, nằm ở mé đông con đường dịch lộ. Tương truyền Phiên vương Thuận Thành cứ bảy năm lại lên đây một lần để tịnh dưỡng, rồi ném gạo ở đó để cầu trời cho được kéo dài tuổi thọ.
Tam động
Động ở con đường dịch lộ, phía tây nam huyện Hòa Đa. Động toàn là đá và cát, nhìn rộng ngút tầm mắt. Động thứ nhất cao 12 trượng 5 thước; động thứ hai cao 10 trượng; động thứ ba cao 7 trượng 5 thước. Phía đông có 2 cái hồ và đền thờ thần Chúa Động. Đá xếp chênh vênh, người đi qua lại mà không hề bị lún sụt. Đây cũng là một kì quan.
Bạch hồ
Có hai hồ Thượng và Hạ, ở phía tây Tam động, thuộc phía tây nam huyện Hòa Đa. Hồ Thượng chu vi hơn 8 dặm, hồ Hạ chu vi hơn 12 dặm. Nước hồ trong và ngọt, quanh năm bốn mùa nước không tăng không giảm. Phía đông bắc là động cát, phía tây nam là rừng chân núi. Trên bờ hồ có đền thần Chúa Động. Tương truyền vào năm Tân dậu, có người phu dịch trạm tên là Thư đang đi chuyển công văn thì bị hổ vồ. Qua mấy ngày sau bỗng thấy trong hồ có xác hổ chết đuối, đó chính là con hổ đã giết hại phu trạm Thư bữa trước. Lại có người lái trâu tên là Phú lùa trâu đi qua hồ, lên đền làm điều thất lễ, bỗng nhiên trong đàn trâu có một con bỏ chạy xuống hồ chấp chới rồi chìm nghỉm, hồi lâu mới thấy nổi lên mặt nước. Nhiều chuyện khác cũng linh thiêng kì lạ như thế. Phía nam còn có một cái ao Thạch bàn.
Chùa quán
Đền Thiên Y A Na Diễn phi
Đền ở thôn Vĩnh An huyện Hòa Đa, thờ tượng thần là Nữ Chúa Ngọc Thiên Y A Na Diễn phi. Phía sau đền có 5 phiến đá. Một phiến dài 1 thước 9 tấc, tròn 1 thước 8 tấc; một phiến dài 1 thước 2 tấc, tròn 1 thước 9 tấc; một phiến dài 6 tấc, tròn 1 thước 2 tấc; một phiến dài 6 tấc, tròn 1 thước 8 tấc; một phiến dài 5 tấc, tròn 1 thước 8 tấc. Tương truyền 5 phiến đá này nguyên là những khúc gỗ giáng hương chẳng biết từ đâu bay tới đây. Dân địa phương bao lần muốn lấy mang đi nhưng không sao lấy được. Trải lâu năm gỗ hóa thành đá. Lại có một phiến đá xanh trên có hai chữ "Thiên Y", thổ dân cho là linh thiêng kì lạ bèn lập đền để thờ. Đầu triều Gia Long đặt một viên Tự thừa. Sự việc chép trong Khánh Hòa chí.
Đền Thiên Hậu
Đền ở ngoại quách của tỉnh thành. Đền nhìn ra dòng sông trước mặt. Phía bắc sông là đồi Cát đỏ. Khách buôn người Thanh xây dựng đền này, thờ thần Thiên Hậu. Thần là người Tiêu Điền, họ Lâm, thuộc dòng dõi của Cửu Mục công, con gái thứ hai của Ôn Công, lên 8 tuổi theo học đạo tiên, đến 16 tuổi thì đắc đạo, hô gió gọi mưa đều ứng nghiệm. Vào đời nhà Tống, có một người đi biển gặp bão, thuyền sắp lật. Chợt thấy trên không trung hiện ra một người tự xưng là con gái của Ôn Công giáng trần để cứu nạn. Thoáng chốc quả nhiên trời dứt bão, thuyền ấy may được bình yên vô sự. Sự việc tâu lên, nhà Tống phong cho thần là Phu nhân; Triều Minh phong là Thiên phi; triều Thanh phong là Thiên hậu. Hàng năm cứ vào ngày rằm tháng 7 mở hội, người trảy hội đến xem đông đúc như nêm. Phàm các nước có người Thanh đến mở phố thì đều dựng đền thờ thần.
Đền thần Thiện Mĩ
Đền ở thôn Thiện Mĩ huyện Hòa Đa. Hồi đầu Trung hưng triều ta có người tên là Nhị Lan (không rõ họ) tụ tập dân chúng khởi nghĩa ở núi Trà Na, dùng những đồng tiền kết lại thành áo giáp, mặc vào xung trận, đi đến đâu đối phương chết như ngả rạ đến đấy. Nhưng về sau bị giặc sát hại, hiển linh ở nơi này, được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Đền thần Dương Tu
Đền ở huyện Tuy Lí, tục gọi là đền Dương Tu. Đền có voi đá. Xứ đất này có một trăm con trâu, số lượng không bao giờ tăng giảm, thường qua lại quanh chỗ bến bên bờ biển. Trâu tính thuần, không hung dữ như trâu rừng. Tương truyền đó là đàn trâu của thần, cánh thợ săn không ai dám phạm.
Đền Kha Họa Bát
Đền ở huyện Hòa Đa. Kha Họa Bát là La Uyển đầu mục của người man sống ở Bình Thuận. Năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), quân triều đình tiến đánh, Bát tự ra đầu hàng, dẫn đường cho quan quân bắt chém tên đầu sỏ. Sau khi binh lính rút về, dư đảng là Tuân Lí lại tụ tập dân man lùng bắt Bát, hùng hổ quát nạt dọa dẫm nhưng Bát không chịu phục tùng, còn mắng lại chúng mà nói: Ta đã là thần dân của Thiên vương, lẽ nào lại đi theo bọn nghịch đảng chúng bay hay sao. Đoạn húc trán vào gốc cây thông mà chết. Sự việc tâu về triều, chiếu cho dựng đền thờ, cấp tiền bạc cho gia quyến. Vua làm bài thơ Ngự chế để điếu phúng rồi đem khắc vào bia đá.
Chùa quán
Chùa Bảo Sơn

Chùa trên núi Bảo Sơn thuộc địa phận ba thôn Thiện Chính, An Hải và Xuân Hòa huyện Tuy Lí. Sau chùa có hai tòa tháp cổ, nên tục gọi là chùa Tháp. Đầu thời kì Trung hưng triều ta, Thế Tổ Hoàng đế đã lên thăm chùa, ban cho biển ngạch mang tên hiện nay là chùa Bảo Sơn.










Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét