Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục / VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) Tỉnh Quảng Yên - tỉnh Bắc Ninh

TỈNH YÊN QUẢNG
Cổ tích
Thành cổ Mai Phong
Thành ở ngoài biển thuộc phủ Tân An, tức nơi ranh giới của huyện Nghiêu Phong.
Kè đá Kinh Nhiệt
Tại xã Kinh Nhiệt có một kè đá, tương truyền ngày xưa do nhà Trần dựng lên để chặn quân Nguyên.
Ba tòa thành cổ
Một tòa thành ở xã Phù Lạc huyện Yên Hưng, đắp bằng đất; một tòa ở xã Xích Thổ huyện Hoành Bồ, đắp bằng đất và một tòa ở núi Thủ Cung xã Cẩm Phả châu Tiên Yên, xây bằng đá. Có người cho rằng thành do nhà Mạc đắp nên.
Thành cổ An Bang
Thành ở xã Vạn An huyện Hoành Bồ, nay đã đổ nát. Còn có di chỉ một tòa thành đất và Văn miếu, nay vẫn còn.
Núi
Núi Lôi Âm
Núi ở huyện Yên Quảng, ngọn núi cao vút, trên đỉnh vuông vắn rộng rãi, không có cây cỏ, tương truyền là bàn cờ tiên
Núi Võ Tướng
Núi ở xã Động Linh huyện Yên Hưng, trên có thành, trong thành có giếng, tương truyền do nhà Mạc xây dựng. Vào thời Tự Đức, Tổng thống Đại thần Nguyễn Tri Phương khi đi dẹp giặc cũng xây đồn tại đây.
Núi Bàn Cờ
Núi ở xã An Lương châu Tiên Yên. Có con đường ăn thông với động Tư Lặc nước Thanh.
Đảo Truyền Đăng
Đảo nằm trên biển Đông, chỗ cửa biển huyện Hoành Bồ. Ngày xưa vua Lê Thánh Tông đã duyệt binh ở đây, có làm bài thơ và lời tự khắc lên đá.
Đền miếu
Miếu Lê Đại Hành
Miếu ở xã Trí Châu huyện Hoành Bồ.
Miếu Hưng Đạo vương đời Trần
Miếu nằm trên tả ngạn sông Bạch Đằng thuộc xã Yên Hưng huyện Yên Hưng.
Miếu Hoàng Tiết chế
Miếu ở cửa biển Suất Tân, Cẩm Phả, châu Tiên Yên. Tương truyền vào thời Lê có bọn cướp miệng vàng răng trắng chuyên hoành hành cướp bóc dân chúng trong châu. Có người làng Hải Lãng là Hoàng Cần tự chỉ huy thủ hạ đi đánh cướp, tay cầm gậy tre đánh đuổi chúng đến xã Vô Ngại thì cắm ngược cây gậy xuống đất làm ranh giới. Ngày nay những cây tre ở đây đều mọc ngược. Sau khi ông mất được tặng chức Khâm sai Đông đạo Tiết chế, dân địa phương lập đền thờ phụng.
Chùa quán
Chùa Lôi Âm
Chùa trên núi Lôi Âm xã An Cư huyện Yên Hưng. Trong chùa có giếng nước rất trong. Đây cũng là một danh thắng.
Chùa Vạn Triều
Chùa trên núi Vạn Triều phía đông huyện Yên Hưng. Phong cảnh rất đẹp.
Chùa Đá
Chùa ở xã Vạn Yên huyện Hoành Bồ, ở cổng chùa có cột trụ đá, nên đặt tên như thế.

TỈNH BẮC NINH
Cổ tích
Thành cổ Xương Giang
Thành ở xã Thọ Xương, do người Minh đắp. Ngày nay thành đã hoang phế, nhân dân khai phá thành ruộng trồng trọt.
Thành cổ núi Bát Vạn
Thành ở huyện Tiên Du, do Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp đắp nên.
Thành cổ Thị Cầu
Thành ở địa giới huyện Võ Giàng, do người Minh đắp nên.
Thành Cổ Loa
Thành ở xã Cổ Loa huyện Đông Ngàn, do Thục An Dương vương đắp nên. Thành rộng hàng nghìn trượng, uốn thành hình chôn ốc nên gọi là Loa Thành. Thành còn có tên là thành Tư Long, người Đường gọi là thành Côn Luân ý nói thành đắp cao. Thanh nhất thống chí chép kinh đô cũ của An Dương vương là thành Việt Vương. Sử ký chép Tiền Ngô vương Ngô Quyền cũng đóng đô ở đây.
Thành cổ Điêu Diêu
Thành ở địa giới huyện Gia Lâm, do người Minh đắp.
Thành cổ Lũng Khê
Thành ở xã Lũng Khê huyện Siêu Loại, tương truyền là lâu thành của Sĩ vương.
Thành cổ Nam Định
Ở huyện Gia Bình. Tương truyền ngày trước Cao BIền làm Đô hộ từ cửa biển tiến quân vào Nam Định đánh tan người man Phong Châu chính là ở chỗ này.
Cố cung Kim Môn
Cung ở núi Vũ Tuyết xã Thụy Tuyết  huyện Yên Phong, do An Dương vương xây dựng. Nay vẫn còn bi kí.
Cố cung Cổ Bi
Cung ở xã Cổ Bi huyện Gia Lâm, xây dựng vào niên hiệu Bảo Thái đời Lê. Về sau lại đặt phủ Kim Thành , lấy gò Tượng Phục làm án. Di chỉ hiện vẫn còn.
Cố cung Phúc Long
Cung ở núi Thiên Thai huyện Gia Bình, tu tạo vào niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Lê, di chỉ hiện vẫn còn.
Điện cổ Xuân Quan
Điện ở xã Xuân Quan huyện Gia Lâm, do Triệu Vũ đế xây dựng. Nay dân xã ấy nhân lấy chỗ điện xưa làm đền thờ.
Cố cung Bồ Đề
Cung ở bờ tây sông Nhị Hà thuộc thôn Phú Viên xã Lâm Hạ huyện Gia Lâm. Ngày trước khi Lê Thái Tổ đánh nhau với tướng Minh Vương Thông chính tại nơi đây đã đắp núi đất, dựng tầng lầu cao ngang với tháp Báo Thiên, hàng ngày ngồi trên lầu quan sát tình hình giặc ở thành Đông Quan, sai Thừa chỉ Học sĩ Nguyễn Trãi ngồi ở tầng thứ nhất biên thảo thư trát qua lại.
Người đá đọc sách
Tại xã Dĩnh Uyên huyện Phượng Nhãn từ xưa có một gò đất cỏ mọc um tùm, trong có một tảng đá hình giống người. Cổ nhân truyền lại rằng vào đêm khuya từ đó văng vẳng có tiếng người đọc sách. Dân xã ấy bèn nhân chỗ ấy dựng ngôi đền thờ Tiên hiền.
Bia Xạ Trường
Bia đặt tại bãi tập bắn của Hồ Quí Li tại xã Dũng Vi huyện Tiên Du. Bia hiện vẫn còn nhưng nét chữ mờ mòn không thể đọc được.
Bãi lửa Bát Tràng
Ở xã Bát Tràng huyện Gia Lâm. Khoảng năm Vĩnh Thịnh đời Lê, sông nổi lên một bãi cát trên địa phận của xã, trong có một khoảnh cát rất nóng, ném cỏ rơm vào lập tức bốc khói lửa thiêu cháy hết.
Giếng cổ Minh Châu
Tương truyền An Dương vương bị Triệu Đà đánh bại, thua chạy ra đến bờ biển, nghe lời cảnh báo của Thanh Giang Sứ giả chém chết con gái là Mị Châu, máu chảy xuống nước, những con trai ngậm vào biến thành ngọc châu. Trọng Thủy ôm xác Mị Châu về an táng tại thành Cổ Loa, đau đớn khôn xiết cũng nhảy xuống giếng mà chết. Người đời sau lấy được ngọc trai ngoài biển Đông đem về rửa bằng nước giếng ấy thì sắc ngọc càng trở nên rực rỡ. Vì thế đặt tên giếng là giếng Minh Châu (Giếng Ngọc).
Núi sông
Núi Nguyệt Hằng
Còn gọi là núi Bạch Sơn, ở phía đông nam huyện Tiên Du. Tương truyền vua Lí Thánh Tông đã lên đây và ban cho tên núi Nguyệt Hằng . Núi hơi cao, chất đá lẫn đất, thường mọc những cây thông. Chân núi có miếu thờ Sơn thàn.
Núi Lạn Kha
Núi ở phía nam của huyện [Tiên Du], trên núi có thú đá, ao long trì và nhà đá, trên đỉnh có bàn cờ. Tương truyền người tiều phu tên là Vương Chất lên núi gặp hai ông già ngồi đánh cờ ở dưới gốc cây thông, bèn chống rìu ngồi xem, mải mê đến lúc cán rìu mục nát ra. Nhân đó mới có tên là núi Lạn Kha (mục cán rìu). Chân núi có chùa Vạn Phúc, phong cảnh u nhã, tương truyền chùa được dựng từ đời nhà Lí. Cũng theo người xưa kể lại thì đây cũng chính là nơi Triệu Đà bị An Dương vương đánh cho thua trận. Đời Trần lập ra thư viện Lạn Kha, cứ đến ngày trùng dương hàng năm nhà vua lại ngự giá đến thăm viếng. Cách vài dặm về phía tây có chùa Vĩnh Phúc, am Nguyệt Thường. Góc mé bắc núi có chùa Kim Ngưu, là nơi Cao Biền nhìn thấy trâu vàng chạy ra. Đá núi ở đây có sắc như vàng, ban đêm phát ra ánh sáng nên có tên là núi Kim Ngưu.
Núi Tam Sơn
Núi ở xã Tam Sơn phía tây bắc huyện Đông Ngàn. Giữa đồng bằng nổi lên ba ngọn núi như hình hạt ngọc xâu vào nhau. Tại chân núi có một dải sống đá nhô lên những ngọn bút nhọn, uốn quanh co như hình rồng rắn. Đỉnh núi có một chỗ lõm vào, gọi là Long tị (mũi rồng).
Núi Tiêu Sơn
Núi ở phía tây nam huyện Yên Phong, trên có chùa Thiên Tâm, chùa Trường Liêu. Tương truyền ngày xưa thân mẫu của vua Lí Thái Tổ lên núi Tiêu Sơn mộng gặp được thần rồi sinh ra vua.
Núi Thất Diệu
Núi ở phía tây bắc huyện Yên Phong. Những ngọn núi đất nối tiếp nhau, nổi lên núi Thất Diệu. Tương truyền vua Thục An Dương vương xây thành Cổ Loa, cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, có vị thần đến báo rằng hãy đợi sắp có sứ giả từ sông Thanh Giang tới. Hôm sau có một con rùa vàng nổi lên trên mặt sông bơi lại gần nói lên tiếng người, tự xưng là sứ giả Thanh Giang. Vua bèn hỏi thành cớ sao bị đổ, đáp rằng đó là bởi Vương tử đời trước báo thù đó. Nay y ẩn náu ở núi này, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi Sùng Sơn cùng nhau tụ tập gây hại, vì thế mà làm đổ thành. Thế rồi An Dương vương cùng thần Kim qui đi đánh yêu quái, bắt được yêu tinh gà trắng đem giết đi, đào những đồ nhạc khí cổ đem đốt hết, nạn yêu quái từ đấy chấm dứt.
Núi Trâu Sơn
Còn có tên là núi Vũ Ninh, ở huyện Quế Dương. Núi nối liền nhau, trên có giếng Việt Tỉnh. Tương truyền vào thời Hùng Vương, vua nước Ân mang quân sang xâm lược, đến chân núi này bị Đổng Thiên vương đánh tan, Ân Vương chết trên núi này, được dân địa phương dựng miếu thờ. Lâu năm miếu bị đổ nát. Đến đời Tần, Thôi Lượng trùng tu lại miếu. Ân vương biết ơn, sai tiên Ma Cô đến trao cho Thôi Lượng thuốc tiên để chữa bệnh. Bên cạnh núi có đền thờ tiên Ma Cô.
Núi Sóc Sơn
Núi ở xã Vệ Linh huyện Kim Anh, tương truyền là nơi Đổng Thiên vương cưỡi ngựa bay về trời. Hiện có đền thờ. Thế núi quanh co, phía trước có ngọn núi hình lư hương, bờ khe xanh mướt, phong cảnh vắng vẻ thanh tao.
Sông cổ Kim Ngưu
Sông cổ ở phía đông nam huyện Văn Giang. Bắt nguồn từ sông Nhị Hà tách thành dòng nước chảy vào bãi Sơn Hô, qua cống đê Công Luận, chảy qua các xã Kim Ngưu, Đa Ngưu, quanh co dài 29 dặm, chảy vào các tổng Khóa Nhu, Bình Dân, An Cảnh, Đại Quan thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên rồi vòng ra sông Nhị. Đoạn thượng lưu sông này nhỏ hẹp và nông, hạ lưu dòng chảy nay đã bị tắc. Tương truyền ngày xưa có con trâu vàng từ châu Vũ Ninh chạy tới trốn ở đây, Cao Biền nhà Đường sai đào đất lên để trâu mà thành sông.
Đền miếu
Miếu Kinh Dương vương
Miếu ở xã Á Lữ huyện Siêu Loại. Các tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Miếu Lạc Long Thần
Miếu ở các xã Đại Bái, Minh Linh, Nghi Khúc huyện Gia Bình. Thần là cháu của Kinh Dương vương, con trai của Lạc Long quân. Ngày nay nhiều tỉnh hạt phía bắc đều có lập đền thờ.
Miếu Thục An Dương vương
Miếu ở xã Cổ Loa huyện Đông Ngàn. Sự tích xem ở phần tỉnh Nghệ An. Nhiều tỉnh hạt trong cả nước đều có đền thờ.
Miếu Triệu Vũ đế
Miếu ở xã Xuân Quan huyện Gia lâm. Vua tên húy Đà, người Chân Định. Hồi đầu đời Tần làm Long Xuyên lệnh, rồi giữ chức Nam Hải úy. Nhà Hán phong làm Nam Việt vương. Vua tuần du đến đây đỗ thuyền ở bờ phía đông nan thì có con rồng hiện ra, bèn dựng cung điện gọi là điện Long Hưng. Sau khi ông mất, dân địa phương nhân lấy điện ấy làm đền thờ phụng. Nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì đều có lập đền thờ.
Miếu Triệu Việt vương
Miếu ở xã Trâu Cầu huyện Quế Dương, nằm ở bên phải miếu Triệu Vũ đế.
Miếu Lí Nam đế
Miếu ở xã Tình Quang huyện Gia Lâm. Ngày trước có người bản xã là Cao Dương theo vua Nam vào động [Khuất] Liêu, sau trở về cùng dân xã lập đền thờ.
Miếu Lí bát đế
Miếu ở xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn. Ngoài ra nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì đều có lập đền thờ.
Miếu Lí Thánh Tông
Miếu ở xã Ái Mộ huyện Gia Lâm.
Miếu Lê Uy Mục đế
Miếu ở xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn.
Đền Đổng Xung Thiên Thần
Đền ở xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn, tương truyền do vua Hùng Vương lệnh cho lập đền ở làng này để thờ thần. Vào thời Tiền Lê, thần trợ giúp cho vua Lê Đại Hành đánh vào Kinh sư, được phong Thượng đẳng thần. Vua Lí Thái Tổ phong cho thần là Xung Thiên Tthần vương. Ngoài ra nhiều tỉnh hạt ở Bắc kì đều có lập đền thờ.
Đền Đổng Xung Thiên Thần mẫu
Đền ở xã Thị Cầu huyện Võ Giàng. Thần người làng Phù Đổng, chưa lấy chồng, dẵm vào vết chân người khổng lồ mà có mang, đến ở tại chùa Điệu Sơn làng Thị Cầu, đến kỳ sinh ra Xung Thiên Thần vương. Sau khi bà mất được dân làng này lập đền thờ phụng.
Đền Trấn Thiên Chân Vũ
Đền ở xã Thụy Lôi huyện Yên Phong, còn gọi là đền Vũ Đương Nguyên Quân. Tương truyền vua Thục An Dương vương xây thành Cổ Loa, đi cùng với giang sứ là thần Kim qui diệt trừ yêu quái trở về đến núi này thì thấy có dấu chân người khổng lồ, vua hỏi, thần Kim qui đáp đây là vị thần từ thượng giới giáng trần giúp nước diệt trừ yêu quái. Đến thời Triệu Vũ đế sai Lưu Quĩ Điển sang Giao Chỉ, thấy có yêu khí bèn lập đàn trên núi này để làm lễ cầu trừ tà, bỗng nhiên có một vị từ trên trời giáng xuống xưng rằng: Ta là Nguyên Quân, được Thượng đế sai xuống diệt yêu quái. Nói đoạn cưỡi mây bay đi. Từ đấy nạn yêu quái dứt hết. Sự tích xem ở phần tỉnh Hà Nội. Ngoài nơi này ra, nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì đều có lập đền thờ.
Đền thần Quí Minh
Đền trên đỉnh núi Hàm Sơn xã Nội Trà huyện Yên Phong. Tương truyền thần là một trong 50 người con trai theo mẹ lên núi của Lạc Long quân. Thần hiển linh ở đây nên được dân bản xã lập đền thờ. Nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì cũng có đền thờ.
Đền thần Phụ Quốc
Đền ở xã Tam Táo huyện Yên Phong. Thần là một cụ già người bản xã, có công lớn che chở giúp đỡ cho vua Lí Thái Tổ. Sau khi nhà vua có được đất nước, phong cho cụ ông là Phụ quốc Đại vương, cụ bà là Vương phi. Sau khi mất được dân xã lập đền thờ.
Đền Sĩ Vương
Đền ở xã Tam Á  huyện Siêu Loại. Vương họ Sĩ, húy Nhiếp, tự Ngạn Uy, người huyện Quảng Tín quận Thương Ngô, đời vua Hán Linh đế làm Thái thú ở Giao Châu. Vương tính khiêm tốn, lễ phép, được kẻ sĩ và dân chúng trong nước yêu mến, tôn gọi là Vương. Cai quản châu trong 40 năm, mất thọ 90 tuổi. Đến thời nhà Đường, Cao Biền đi qua nơi này, gặp một dị nhân áo mũ nghiêm chỉnh, ăn nói nhã nhặn. Vừa mới hỏi chuyện với nhau đã không thấy người ấy đâu nữa. Hỏi thăm người địa phương mới biết ở đây có di tích ngôi miếu thờ Sĩ Vương. Cao Biền tần ngần than tiếc hồi lâu, làm một bài thơ đề ở trong miếu. Bài thơ nay vẫn còn.
Đền Lã Sứ quân
Đền ở xã Phụng Công huyện Văn Giang. Thần họ Lã, húy Đường, cuối đời Ngô tự xưng là Sứ quân chiếm cứ vùng Tế Giang, nhân dân nhờ có ông mà được yên ổn. Sau khi mất được dân xã lập đền thờ.
Đền Chử Đồng Tử
Đền ở xã Chử Xá Châu huyện Văn Giang. Toàn xã này là một dải bãi cát nối dài tới đầm Nhất Dạ của huyện Đông An tỉnh Hưng Yên, nơi Chử Đồng Tử cùng Tiên Dung bay về trời. Xem sự tích ở phần tỉnh Hưng Yên. Nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì cũng có lập đền thờ.
Đền Trưng Nữ vương
Đền ở xã Phụng Công huyện Văn Giang. Vương người Phong Châu. Xem sự tích ở phần tỉnh Sơn Tây. Nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì cũng có lập đền thờ.
Đền thần Tam Giang Khước Địch
Đền ở trên bờ sông Tam Kì xã Hương La huyện Yên Phong. Thần là Trương Hống, cùng với người em là Trương Hát, nguyên đều là tướng của Triệu Việt vương. Khi nhà Triệu mất, hai người ẩn cư vào trong núi Phù Long. Lí Nam đế ra sức vời ra nhưng không chịu, cùng uống thuốc độc mà chết. Khi Nam Tấn vương đánh Lý Huy, quân đi đến cửa sông Phù Nam , mộng thấy hai anh em họ Trương đến yết kiến xin theo trợ giúp quân đội nhà vua. Trận ấy thắng giặc trở về, phong người anh là Đại Đương giang Hộ Quốc vương, lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt, phong người em là Tiểu Đương giang Hộ Quốc vương, lập đền thờ ở cửa sông Nam Bình. Vua Lê gia phong cho Đại Đương giang Hộ Quốc vương là Khước Địch Đại vương, Tiểu Đương giang Hộ Quốc vương là Uy Địch Đại vương.
Đền Than Lại Cao công
Đền ở bờ sông xã Đại Than huyện Gia Bình. Bên đền có tảng đá cao sừng sững. Tương truyền Cao Biền đi qua châu Vũ Ninh mộng gặp thần nhân xưng là Cao Lỗ, xưa giúp An Dương vương chế tạo ra nỏ thần "Linh quang kim trảo", có công dẹp trừ giặc, sau lại bị Lạc hầu gièm pha. Sau khi mất được Thượng Đế thương xót lòng trung thành, ban cho cai quản một dải núi sông. Nay đã theo ngài đi đánh giặc trở về đến bản bộ nên đến để từ tạ. Cao Biền tỉnh giấc kể lại với các quan rồi làm một bài thơ đề ở miếu. Thơ ấy nay vẫn còn . Người đời sau lập đền thờ phụng.
Đền Trần Hưng Đạo vương
Đền ở xã Vạn An huyện Phượng Nhãn. Vương họ Trần, húy Quốc Tuấn. Vào thời Trùng Quang nhà Trần Vương hai lần đánh tan quân Nguyên, rồi lập sinh từ ở chân núi. Sau khi mất an táng tại đây. Vua Trần Thánh Tông từng ngự chế bài văn bia ở sinh từ của ông, ví ông với Thượng phụ . Đền rất linh thiêng, có chiếc hộp đựng kiếm bên trong, mỗi khi cảnh báo có giặc tới mà hộp kiếm phát ra tiếng vang thì nhất định sẽ thắng trận. Sự tích xem ở phần tỉnh Nam Định. Ngoài nơi này ra, nhiều tỉnh hạt khác ở Bắc kì đều có lập đền thờ.
Đền Nguyễn Hoài Đạo vương
Đền ở xã Phù Dực huyện Tiên Du. Thần họ Nguyễn, húy Nộn, người bản xã. Ban đầu là cư sĩ tại chùa Phù Đổng, có được thanh kiếm thần. Vua Lí Huệ Tông từng sai đi đánh giặc man ở Quảng Oai . Khi nhà Lí mất, Hoài Đạo vương chiếm cứ vùng Bắc Giang chống lại nhà Trần. Sau khi ông mất được dân xã lập đền thờ phụng.
Đền Nguyễn Lai Giang
Đền ở xã Kim Đôi huyện Võ Giàng. Thần họ Nguyễn, tên là Gia, làm quan nhà Lê, thà chết không theo nhà Mạc. Ông mất rồi, dân xã lập đền thờ phụng.
Đền thần núi Bắc Lũng
Đền ở núi Yên Phú xã Bắc Lũng huyện Phượng Nhãn. Tương truyền mẹ của thần nhà ở dưới chân núi, dẵm vào vết chân người khổng lồ mà mang thai sinh 3 người con. Một hôm trời nổi mưa to gió lớn, vẳng nghe trên không trung có tiếng nói rằng vâng mệnh thần núi Bắc Lũng đưa ba người con cùng bà mẹ bay lên trời. Dân làng đổ ra xem thì thấy quả núi bị xẻ ra thành 3 hang đá thông tới bờ sông Xuân Giang, bèn lập ngôi đền dưới chân núi để thờ phụng.
Đền tam vị Thủy Du
Đền ở hai xã Kì Hoạch, Hoạch Trung huyện Yên Phong, thờ ba vị là Thủy tộc Long quân, Hoàng Hà Thụy Khiết Phu nhân và Tam Giang Công chúa. Trước đền có hồ nước, nhìn ra xa là sông Nguyệt Đức.
Đền thần Cần Dinh
Đền ở xã Cần Dinh huyện Bảo Lộc, thờ hai vị thần là Đô Thiên Phụ Quốc và Minh Giang Đô Thống.
Đền Bồ Đề Thiền sư
Đền ở xã Đồng Húc xã Đại Đôi huyện Võ Giàng. Thần người bản xã , họ Nguyễn húy Xuyên. Khi sinh ra có ánh sáng thần tỏa sáng khắp nhà. Khi trưởng thành, ứng nghiệm vào điềm báo gà thần mà có bùa thiêng cứu người. Sau khi ông mất được dân địa phương lập đền thờ phụng.
Lăng mộ
Lăng Kinh Dương vương
Lăng ở xã Á Lữ huyện Siêu Loại, được xây dựng tu sửa và dựng bia vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1841).
Lăng Tám vị vua đờì Lí
Lăng ở đất thang mộc nhà Lí tại xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn. Khu đất lăng rộng khoảng trăm mẫu, cây cổ thụ um tùm. Lăng tám vị vua đặt tại đây. Lăng được xây dựng tu sửa và dựng bia vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1841).
Lăng vua Lê Uy Mục
Lăng ở xã Phù Chẩn huyện Đông Ngàn.
Mộ Sĩ Vương
Mộ ở xã Tam Á huyện Siêu Loại.
Mộ Trần Hưng Đạo vương
Mộ tại xã Vạn An huyện Phượng Nhãn.
Chùa quán
Chùa Thiên Tâm
Chùa ở trên núi xã Tiêu Sơn huyện Yên Phong, tương truyền là nơi ra đời của vua Lí Thái Tổ. Bên cạnh là viện Cảm Tuyển. Lại có chùa Trường Liêu, nơi nhà sư Vạn Hạnh tới trụ trì.
Chùa Cổ Pháp
Chùa ở xã Đình Bảng huyện Đông Ngàn, nơi nhà sư Lí Khánh Văn trụ trì. Tương truyền khi Lí Thái Tổ mới lên 3 tuổi, mẹ của ngài là Phạm thị ôm con lên chùa được nhà sư thu nhận nuôi dưỡng. Ngày nay trong chùa có thờ tượng của bà là Thánh Tổ mẫu.
Chùa Vạn Phúc
Chùa trên núi Lạn Kha xã Phật Tích huyện Tiên Du, do Lí Thánh Tông xây dựng. Trong chùa có tượng đá cao 5 thước, to 6 thước.
Chùa Đại Lãm
Chùa ở địa phận trên núi thuộc tổng Lãm Thượng huyện Quế Dương, được xây dựng vào năm Quảng Hựu thứ 2 (1086) đời Lí Nhân Tông, năm sau là năm Quảng Hựu thứ 3 (1087) vua lên chùa, mở yến hội ban đêm thết đãi quần thần. Năm Long Phù thứ 5 (1105) xây 3 tòa tháp bằng đá ở chùa.
Chùa Quan Nghiêm
Chùa ở xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong, do Nguyệt Sinh Công chúa nhà Lí xây dựng. Năm Khai Hựu thứ 5 (1333) đời Trần Hiến Tông, dân làng địa phương trùng tu. Đến thời Trần Dụ Tông, Hàn lâm viện Học sĩ Trương Hán Siêu soạn bài văn bia, nay vẫn còn.
Chùa Diên Ứng
Chùa ở xã Khương Đình  huyện Siêu Loại. Chùa thờ tượng Tứ Pháp là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Vào triều Trần, Mạc Đĩnh Chi xây dựng ngôi chùa có trăm gian, tháp 9 tầng. Di tích nay vẫn còn.
Chùa Phả Lại
Chùa trên núi xã Phả Lại huyện Quế Dương. Chùa cúi nhìn xuống dòng sông Lục Đầu giang, phong cảnh đẹp nổi tiếng. Tương truyền đây là nơi trụ trì của nhà sư Dương Không Lộ. Chùa có đúc một quả chuông lớn, về sau bị chìm dưới bờ sông bên cạnh chùa, nơi ấy tương truyền gọi là vũng Rơi Chuông.
Chùa Lệ Mật
Chùa ở xã Lệ Mật huyện Gia Lâm. Vào triều Lí có nàng Công chúa đi chơi bị chết đuối ở bờ sông cửa Chiêm Đức, tìm không thấy xác. Triều đình hứa thưởng tước lộc cho ai tìm vớt được lên. Trong xã có một người rất khỏe nhảy xuống sông đánh nhau với thủy quái đưa được thi thể Công chúa lên bờ. Triều đình nghị bàn thưởng tước lộc, nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân nghèo ở xã ông được vào nhập cư trong thành Thăng Long sinh sống. Về sau dân cư đông đúc dần, thành lập nên 13 trại. Sau khi ông mất được dân các trại về thờ phụng tại chùa bản xã.
Chùa Hàm Long
Chùa trên núi thuộc xã Lãm Sơn huyện Quế Dương. Có tháp đá cao khoảng 1 trượng. Phía đông núi có hai lỗ đá nước từ đó chảy ra không bao giờ dứt. Tương truyền đây là nơi chân tu của Thiền sư Dương Không Lộ.
Chùa Bảo Quang
Chùa ở xã Lãm Sơn Đông huyện Quế Dương. Trên đỉnh núi nổi lên một tẳng đá hình giống người, do thiền sư Như Thông tạo ra vào năm Cảnh Thịnh .
Chùa Bát Vạn
Chùa ở xã Trùng Minh huyện Tiên Du. Tương truyền Cao Biền làm tám vạn cái tháp nhỏ rồi xây gộp lại trên một tòa tháp lớn 10 tầng, nhân đó lấy làm tên chùa. Trải lâu năm tháp đã bị đổ, dân xã lấy các phần tháp để xây tường chùa. Nay vẫn còn.















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét