Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Cao Xuân Dục/ VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo Bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên) tỉnh THỪA THIÊN


Cao Xuân Dục

VIÊM GIAO TRƯNG CỔ KÍ (Theo Bản dịch của Nguyễn Văn Nguyên)
Toàn file kèm ảnh quá lớn, chúng tôi tách ra theo từng Tỉnh, với file ảnh nguyên bản.

THỪA THIÊN


Cổ tích

Thành cổ vua Chiêm Thành

Thành tại xã Nguyệt Biều huyện Hương Thủy, tương truyền là nơi ở của vua Chiêm Thành. Di chỉ còn lại bức thành đất, tục gọi là Thành Lồi. Vào khoảng đời Minh Mệnh cho dựng tại đó một ngôi miếu để thờ. Tại xã Thành Trung huyện Quảng Điền cũng có di tích bờ thành của Chiêm Thành dài hơn 300 trượng. Ở xã Cổ Tháp cũng còn lưu lại một tòa tháp cổ.

Núi

Núi Ngọc Trản (Núi Hòn Chén)

Núi ở huyện Hương Trà, mạch núi từ phía tây bắc trập trùng kéo về, hình như rồng cuộn hổ ngồi, quanh co đổ về hướng nam, thẳng tới bờ sông Hương thì nổi lên một đỉnh tròn giống như hình cái chén, nên mang tên như thế. Chân núi gối xuống vực sông sâu, nước trong xanh tuyệt đẹp. Nước ở đây thường được lấy về tiến vua.

Núi Phụ Ổ

Ở huyện Hương Trà. Núi tuy không cao lắm nhưng rất đẹp, mặt trước nối với dặng núi trập trùng, mé sau tiếp giáp với cánh đồng rộng thênh thang. Thế Tông Hoàng đế  triều ta dựng am tại đây, đặt tên là am Bạch Vân, phía trước dựng chùa Bạch Vân, cảnh trí tươi đẹp, vua thường xa giá đến viếng thăm. Di tích nay vẫn còn.

Núi Thúy Vân

Núi ở phía tây huyện Phú Lộc, gối đầu ra cửa biển Hà Trung. Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) vua ban tên là núi Thúy Quang, đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) mới đổi ra tên gọi ngày nay. Hiện còn tấm bia đề Thúy Vân thắng tích bi kí.

Núi Linh Thái

Núi ở phía đông núi Thúy Vân, cao 150 trượng, xưa gọi là núi Qui Sơn, đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) mới đổi thành tên gọi ngày nay. Trên đỉnh núi có chùa Trấn Hải, được xây dựng từ triều trước, nay còn lại di chỉ. Trước cổng chùa có tòa tháp cổ, tương truyền do người Chiêm Thành dựng lên, nay đã đổ nát, còn lại cột hoa biểu ở đằng trước có vết tích chữ viết của người man, không hiểu được là viết gì. Hồi đầu dựng nước , các vua thường lui tới lên núi ngắm cảnh, dựng phủ để dừng chân nghỉ ngơi, nay vẫn còn di chỉ.

Núi Hải Vân

Núi thuộc huyện Phú Lộc, nơi tiếp giáp giữa Thừa Thiên và Quảng Nam. Núi rất cao, dựng đứng hiểm trở. Vào đời Minh mệnh cho lát đá con đường đi vượt lên đỉnh núi, thiết lập 3 cửa quan để kiểm soát việc đi lại, một cái đặt tên là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan", cái thứ hai là "Hải Vân quan", cái thứ ba là "Sơn Hải quan". Vào năm đầu đời Thành Thái (1841), quí quan Đại Pháp xẻ vách đắp đường mới đi men theo chân núi khiến ngựa xe qua lại dễ dáng hơn.

Lăng tẩm

Lăng Trường Cơ

Lăng ở núi Khải Vận thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) tu đắp tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 16 trượng 4 thước 2 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc; chu vi 30 trượng 9 thước 2 tấc, xây bằng gạch nung. Phía trước mở một cổng. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) phụng mệnh cho tu sửa, sai Lê Văn Thảo ra phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Cơ

Lăng đặt tại xã Hải Cát huyện Hương Trà, là lăng của Gia Dụ Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 8 thước 8 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 3 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Tạ Quang Cự phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Diễn

Lăng tại xã Hải Cát huyện Hương Trà, là lăng của Hi Tông Hiếu Văn Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 7 thước 6 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 2 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Nguyễn Tăng Minh phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Diên

Lăng đặt tại xã An Bằng huyện Hương Trà, là lăng của Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 16 trượng 1 thước; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 29 trượng 3 thước 4 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Hưng

Lăng tại xã Hải Cát huyện Hương Trà, là lăng của Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 4 thước; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 6 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Bùi Công Nghị phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Hưng

Lăng trên núi thuộc xã An Ninh huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Triết Hoàng hậu  (họ Chu). Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 8 thước, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Nguyễn Tiến Lâm phụ trách cai quản công việc.

Lăng Quang Hưng

Lăng đặt tại xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Triết Hoàng hậu (họ Tống). Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 12 trượng 5 thước 3 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 25 trượng 9 thước 6 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Lê Văn Thảo phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Mậu

Lăng đặt trên núi thuộc xã Kim Ngọc huyện Hương Trà, là lăng của Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 8 thước 6 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 7 thước 2 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Lê Văn Thảo phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Mậu

Lăng đặt trên núi thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Nghĩa Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 6 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Nguyễn Hữu Lễ phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Thanh

Lăng đặt trên núi thuộc xã Kim Ngọc huyện Hương Trà, là lăng của Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 16 trượng 6 thước 6 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 2 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Thanh

Lăng đặt trên núi thuộc xã Trúc Lâm huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Minh Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 9 thước 3 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 5 thước, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Phong

Lăng đặt trên núi thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 3 thước 6 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 2 thước, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Lê Văn Thảo phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Phong

Lăng đặt trên núi thuộc xã Long Hồ huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Ninh Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 9 thước 8 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 4 thước 2 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Thái

Lăng đặt trên núi thuộc xã La Khê huyện Hương Trà, là lăng của Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 14 trượng 4 thước 2 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 5 thước, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Lê Văn Thảo phụ trách cai quản công việc.

Lăng Vĩnh Thái

Lăng đặt trên núi thuộc xã Dương Xuân huyện Hương Thủy, là lăng của Hiếu Vũ Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 14 trượng 4 thước 2 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng 5 thước, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Trường Thiệu

Lăng đặt trên núi thuộc xã La Khê huyện Hương Trà, là lăng của Duệ Tông Hiếu Định Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) xây tường thành, vòng trong cao 5 thước, chu vi 15 trượng 2 tấc; vòng ngoài cao 6 thước 3 tấc, chu vi 27 trượng 6 thước 6 tấc, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Lê Văn Thảo phụ trách cai quản công việc.

Lăng Cơ Thánh

Lăng đặt trên núi Hưng Nghiệp thuộc xã Cư Chính huyện Hương Thủy, là lăng của Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế . Năm Gia Long thứ 7 (1808) tu sửa tôn lăng, sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng, Chưởng quân Phạm Văn Nhân, Nguyễn Hữu Nhân, Nguyễn Đức Xuyên, Lê Chất, Đô Thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Trần Văn Năng chia nhau trông coi công việc, kính dâng tôn hiệu. Tường thành xây 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng, xây bằng gạch nung, mở 1 cổng phía trước, xây hai cấp bái đình, phía đông có nhà thay áo, phía tây có thần khố, mỗi cái gồm 3 gian. Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) vâng mệnh tu sửa lại, sai Phạm Văn Điển phụ trách cai quản công việc.

Lăng Thụy Thánh

Lăng đặt trên núi thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Hiếu Khang Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 11 (1808) bắt đầu được xây dựng, sai Sơn lăng sứ Tống Phúc Lương, Lê Quang Định trông coi công việc, bọn Trần Quang Thái trông coi việc xấy tường thành, vòng trong cao 5 thước 5 tấc, chu vi 19 trượng, ở giữa xây một ngôi nhà bằng đá; vòng ngoài cao 8 thước 2 tấc, chu vi 28 trượng 7 tấc, mở 1 cổng phía trước, lại xây ba cấp bái đình. Phía trước có hồ hình vuông, bên trái có điện Thụy Thánh. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) vâng mệnh tu sửa lại, sai Hoàng Đăng Thận phụ trách cai quản công việc.

Lăng Thiên Thụ

Lăng đặt trên núi thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng hợp táng của Thế Tổ Cao Hoàng đế  và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu . Năm Gia Long thứ 13 (1814), cử Tống Phúc Lương, Phạm Như Đăng giữ chức Sơn Lăng sứ cùng với Lê Duy Thanh đi chọn tìm cát địa rồi sai binh lính dân phu xây đắp tường thành, vòng trong cao 7 thước 5 tấc, chu vi 23 trượng, bên trong xây 2 ngôi nhà bằng đá; vòng ngoài cao 8 thước 3 tấc, chu vi 29 trượng 8 thước 2 tấc. Mặt trước xây cổng bằng đá mái bằng đồng, bệ cao 5 bậc, lại có 7 cấp bái đình, hai bên tả hữu có 4 pho tượng người lính và 6 tượng thị vệ bằng đá đứng chầu, lại thêm 2 tượng voi đá và 2 tượng ngựa đá. Mặt trước là Nguyệt hồ; bên phải lăng có điện Minh Thành xây trên núi Bạch Sơn, dãy chính có 5 gian, dãy đằng trước 7 gian; bên ngoài là giải vũ phía đông và phía tây, mỗi bên 3 gian. Cổng điện phía trước gồm 3 gian, cất thành hai tầng, đều lợp bằng ngói phẳng. Bên trái lăng cất ngôi đình bia trên núi Thanh Sơn, có 1 gian. Năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) vâng mệnh dựng tấm bia Thần công Thánh đức bi ở đây, chữ bia đều mạ vàng. Năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) tu sửa cổng tường điện Minh Thành. Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) tu sửa bờ hồ phía trước. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) thay mái bằng đồng cho cổng tường thành (nguyên làm bằng gỗ).

Lăng Hữu Thiên Thụ

Lăng đặt trên núi Thuận Sơn thuộc xã Định Môn huyện Hương Trà, là lăng của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu . Bắt đầu được xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), sai Trung quân Tạ Quang Cự, Thượng thư Đặng Văn Hòa làm Đổng lí trông coi công việc. sang đến năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), đổi sai Lại bộ Thượng thư Lê Đăng Doanh sung làm Đổng lí, Công bộ Biện lí Nguyễn Văn Điển làm Đốc công, Nguyễn Danh Bi sung làm Tùy biện. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) tiếp tục công việc sửa sang hoàn chỉnh, sai Đại thần Nguyễn Trung Mậu, Thống chế Nguyễn Trong Tính làm Đổng lí trông coi công việc. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) xây dựng lăng tẩm, sai Ninh Lạc tử Nguyễn Tiến Lâm, Kiêu Dũng tướng Dương Đài, Binh bộ Tham tri Hoàng Tế Mĩ cùng sung làm Đổng lí Đại thần, lại tăng cường thêm Kí Vũ dinh Thống chế Nguyễn Doãn tới cùng hợp sức đẩy nhanh công việc. Tường thành vòng trong cao 5 thước 2 tấc 6 phân, chu vi 19 trượng 2 thước 8 tấc, bên trong xây 1 ngôi nhà bằng đá; vòng ngoài cao 6 thước 7 tấc, chu vi 33 trượng 2 thước 7 tấc. Phía trước xây cổng mái lợp bằng đồng, bệ cao 7 bậc, bên ngoài có 2 cấp bái đình. Trước mặt là Nguyệt hồ. Bên phải xây điện Gia Thành, dãy chính 3 gian, dãy trước 5 gian, lợp bằng ngói âm dương. Trong cổng Nguyệt môn là phòng trực tả hữu, bên ngoài có đông vu tây vu, mỗi bên 3 gian. Phía trước là cổng Minh Ý cao 2 tầng. Bên phải là kho Thần khố 3 gian.

Hiếu Lăng

Lăng đặt trên núi Cẩm Khê thuộc ấp An Bằng huyện Hương Trà, là lăng của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế . Công việc xây lăng bắt đầu năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), Hiệp biện Đại Học sĩ Trương Đăng Quế, Thượng thư Hà Duy Phiên được cử làm Đổng lí trông coi công việc. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) xây dựng lăng tẩm, cử Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên sung làm Đổng lí Đại thần, lại cử Chưởng vệ Tôn Thất Đường cùng với Trần Hữu Lễ, Nguyễn Tri Phương làm Phó Đổng lí Đại thần. Tường thành lăng một đầu cao 5 thước 6 tấc, một đầu cao 8 thước 1 tấc, chu vi 62 trượng, cổng xây bằng đá, mái lợp bằng đồng, bệ cổng gồm 33 bậc. Phía trước có hồ Tân Nguyệt, mé trái hồ xây cầu đá, gọi là cầu Thông Minh Chính Trực, mé phải là cầu Yển Nguyệt. Ở hai đầu mỗi chiếc cầu đều xây cổng. Trước mặt hồ có 3 ngọn núi gọi chung là núi Tam Tài, có dựng cột biểu trụ, giữa dựng ngôi đài 3 tầng, trên xây tòa lầu Minh Lâu 2 tầng 3 gian. Bên phải chỗ ăn ra bờ nước dựng Điếu Ngư đình, bên trái chỗ dốc núi xây Nghinh Lương quán. Phía trước lầu có hồ Trừng Minh, có 3 chiếc cầu đá bắc qua. Cầu ở chính giữa là cầu Chính Đạo, hai cầu hai bên là cầu Tả Phụ và cầu Hữu Bật. Chính diện phía trước lăng là núi Phụng Thần, trên đó xây điện Sùng Ân, gồm dãy chính 5 gian, dãy trước 7 gian. Trong cổng Nguyệt môn là hai sân tả hữu, bên ngoài là điện thờ hai bên đông, tây, mỗi điện 3 gian. Hai cổng, phía sau là cổng Hoằng Trạch, phía trước là cổng Hiển Đức, mỗi cổng đều 3 gian, ở giữa dựng điện thờ trên tầng lầu. Chính giữa, gần cổng Đại Hồng dựng tòa đình bia Thần công Thánh đức bi, chữ bia mạ vàng. Bên ngoài nhà, chầu ở hai bên tả hữu có hai con kì lân đá mạ vàng, 4 tượng lính, 6 tượng thị vệ và 2 ngựa đá 2 voi đá. Ngọn núi ở bên trái tường thành gọi là Tĩnh Sơn, trên có phòng Tả Tòng, núi bên phải gọi là Ý Sơn, trên có phòng Hữu Tòng, các phòng đều 3 gian. Phía nam phòng Tả Tòng có ngọn núi gọi là núi Đức Hóa, trên dựng hiên Thuần Lộc. Lại ở mé nam có núi Khải Trạch, trên dựng gác Phương Linh 2 tầng 3 gian. Hơi tiến về phía bắc có ngọn núi nhỏ chạy ra bờ hồ gọi là núi Đạo Thống, trên dựng sở Quan Lan. Mạn bờ phía bắc là đảo Trấn Thủy, trên dựng nhà thủy tạ Hư Hoài. Lại hơi lui về phía sau là 3 gian kho Thần khố để cất giữ đồ tế khí. Núi ở bên trái đình bia là núi Phúc Ấm, trên dựng nhà Truy Tư Trai. Phía trước xây 3 cổng, chính giữa là cổng Đại Hồng, bên trái là cổng Tả Hồng, bên phải là cổng Hữu Hồng, đều xây bằng gạch trát vôi vữa, bốn góc có treo chuông. Bên ngoài cổng Đại Hồng, hai bên đều có kì lân đá đứng chầu, ở giữa có bình phong. Phòng trực ở hai phía đông, tây đều có 5 gian và 5 gian nhà ở của binh lính. Bên ngoài là tường thành. Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) xây thêm điện Sùng Ân, cột trụ tiền doanh, gác mái cong, cửa tầng trên cổng Hiển Đức, sai Chưởng vệ Tôn Thất Cung phụ trách trông coi công việc.

Lăng Hiếu Đông

Lăng trên núi thuộc xã Cư Chính huyện Hương Thủy, là lăng của Thánh Tổ Nhân Hoàng hậu . Khởi công xây dựng năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), sai Thống chế Vũ Văn Giải, Chưởng vệ Hồ Văn Lưu làm Đổng lí, tăng cường thêm các quan văn là Công bộ Thị lang Nguyễn Văn Điển cùng tham gia tiến hành công việc. Tường thành lăng vòng trong cao 6 thước 2 tấc 4 phân, chu vi 14 trượng 2 thước 8 phân, ở giữa xây một ngôi nhà bằng đá; vòng ngoài phía trước cao 9 thước, phía sau cao 7 thước 9 tấc 6 phân, chu vi 21 trượng 1 thước 7 tấc, phía trước xây cổng gạch mái đồng, bệ cổng cao 5 bậc, bên ngoài có bái đình 3 bậc. Đằng trước lăng là nguyệt hồ. Bên ngoài hồ có cột biểu trụ ở hai bên. Bên trái lăng xây tòa công sở 5 gian. Hồ Văn Lưu, Nguyễn Văn Điển được cử làm Đổng lí trông coi công việc.

Xương Lăng

Lăng trên núi Thuận Đạo thuộc xã Cư Chính huyện Hương Thủy, là lăng của Hiến Tổ Chương Hoàng đế . Lăng được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) (Xét: Đó là vào ngày mồng 3 tháng 10 năm ấy, do chưa đổi niên hiệu, nên vẫn ghi theo niên hiệu Thiệu Trị), cử Vũ Văn Giải, Hà Duy Phiên sung làm Đổng lí Đại thần, Tôn Thất Đắc, Nguyễn Văn Điển sung làm Phó Đổng lí. Sang năm Tự Dức nguyên niên (1848) tăng cường thêm Thự Chưởng vệ An Khương nam Trần Tri sung làm Phó Đổng lí hợp sức cùng các vị Đại thần được cử trước đó để cai quản công việc. Tường thành cao 8 thước 1 tấc, chu vi 36 trượng, cổng đá mái đồng, bệ cổng cao 35 bậc. Trước mặt là ao Ngưng Thúy, trên bắc 3 chiếc cầu đá, ở giữa là cầu Chính Trung, hai bên là cầu Đông Hòa và cầu Tây Định. Hai đầu cầu đều xây cổng, mỗi cổng có 3 cửa, cột đồng, giữa xây lầu Đức Hinh 3 gian 2 tầng. Phía trước xây đình bia, trong dựng bia Thần công Thánh đức bi, hai bên tả hữu có tượng đá 4 người lính, 6 thị vệ, 2 voi đá 2 ngựa đá. Bên ngoài cổng trước dựng bình phong, bên ngoài bình phong là hồ Nhuận Trạch. Bên trái lăng xây điện Biểu Đức, dãy chính 5 gian, dãy trước 7 gian. Bên trong cổng Nguyệt môn có sân tả, hữu, bên ngoài có phối điện ở hai phía đông, tây, mỗi điện đều 3 gian. Chính giữa mặt tiền lại có cổng Hồng Trạch gồm 3 gian. Mé phải tường thành là bãi cát, chếch về phía sau xây gác Hiển Quang 2 tầng 3 gian (hướng tây bắc), đằng trước mở 1 cổng . Bên phải gác là kho Thần khố 3 gian. Bên phía ngoài tường sau của điện Biểu Đức chếch bên trái đặt 1 căn tòng phòng. Bên ngoài quả núi án trước cổng điện đặt 1 trực phòng. Bên phải thần khố là nhà ở của lính.

Khiêm Lăng

Đặt trên núi Khiêm Sơn thuộc xã Dương Xuân Thượng huyện Hương Thủy, là lăng của Dực tôn Anh Hoàng đế . Lăng được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 17 (1864), bấy giờ sai Thống chế Nguyễn Văn Xa làm Đổng biện, Biện lí Nguyễn Văn Chất làm Đốc biện. Đến năm Tự Đức thứ 20 (1867) thay đổi, cử Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Công bộ Thượng thư Trần Tiễn Thành, Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Văn Phong, Thống chế Kiên Dũng nam Lê Sĩ làm Đổng lí. Chính giữa lăng xây điện Hòa Khiêm, dãy chính 5 gian, dãy trước 7 gian. Phía sau xây điện Lương Khiêm 5 gian. Phía đông có Minh Khiêm đường, phía tây có Ôn Khiêm dường. Bên phải phía sau hai tòa điện đặt 4 viện, đặt tên là Tòng Khiêm, Dụng Khiêm, Y Khiêm và Trì Khiêm. Phía trong, ngoài cổng cung đặt 4 dãy giải vũ, gọi tên là Công Khiêm, Cung Khiêm, Lễ Khiêm, Pháp Khiêm. Liền ngay phía sau hậu điện có gác nhỏ là gác Ích Khiêm. Phía trước cổng mặt tiền xây nhà hành lang gọi là Chí Khiêm, ở giữa có ao Khiêm Trì chảy ra Khiêm Hồ. Giữa hồ dựng xưởng Thủy Lục. Bên cạnh hồ đặt 2 nhà thủy tạ, một tòa 2 tầng gọi là Xung Khiêm, một tòa 3 tầng gọi là Dũ Khiêm, làm Điếu ngư đài. Giữa hồ có đảo to, dựng ba tòa đình, đặt tên là Nhã Khiêm, Tiêu Khiêm và Lạc Khiêm. Mặt hồ bắc 3 cây cầu gỗ. Trên sườn núi có nhà Chấp Khiên trai (về sau là nơi vua Giản Đế giữ lăng). Trên đỉnh núi có lầu Di Khiêm. Có 3 cổng ngoài, đặt tên là Vụ Khiêm, Tự Khiêm và Thượng Khiêm. Có 6 cổng trong, đặt tên là Tất Khiêm, Nhu Khiêm, Huy Khiêm, Năng Khiêm, Mục Khiêm và Liêm Khiêm. Bố trí hai bên tả, hữu ở phía ngoài là Thần trù, Thần khố và nhà lính.

Điện

Điện Thụy Thánh

Ở bên trái lăng Thụy Thánh, là tẩm điện của Hiếu Khang Hoàng hậu.

Điện Minh Thành

Ở bên phải lăng Thiên Thụ, là tẩm điện của Thế Tổ Cao Hoàng đế Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.

Điện Gia Thành

Ở bên phải lăng Thiên Thụ Hữu, là tẩm điện của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu.

Điện Sùng Ân

Ở phía trước Hiếu Lăng, là tẩm điện của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.

Điện Biểu Đức

Ở bên phải Xương Lăng, là tẩm điện của Hiến Tổ Chương Hoàng đế.

Điện Hòa Khiêm

Ở phía trước Khiêm Lăng, là tẩm điện của Dực Tổ Anh Hoàng đế.

Đàn miếu

Đàn Nam Giao

Đàn ở xã Dương Xuân, được xây dựng năm Gia Long thứ 5 (1806). Đặt lệ bá quan mỗi người chia nhau vào trồng cây thông, có gắn biển đồng đề tên. Tại đây cứ vào tháng 2 hàng năm mở đại lễ Giao tế trời. Nay đổi lệ cứ 3 năm tế một lần.

Đàn Xã Tắc

Đàn ở phường Hữu Niên trong thành nội Kinh thành, xây dựng vào năm Gia Long thứ 5 (1806), thờ thần Xã Tắc. Các tỉnh địa phương cũng đều có đàn này.

Đàn Tiên Nông

Đàn ở địa phận hai phường Hậu Sinh và An Trạch trong thành nội Kinh thành, xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), thờ thần Tiên Nông. Các tỉnh địa phương cũng đều có đàn này.

Miếu thờ Lịch đại Đế vương

Miếu ở xã Dương Xuân phía nam bên ngoài Kinh thành, xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823).

Văn miếu

Miếu ở xã An Ninh phía tây Kinh thành, thờ Tiên thánh Khổng Tử cùng Tứ phối , Thập triết  , 72 hiền nhân và các vị Tiên hiền các triều đại của nước ta. Hồi đầu mới dựng nước, miếu đặt ở xã Triều Sơn, đến năm thứ 5 đời Duệ Tông Hoàng đế  di dời đến xã Long Hồ. Năm Gia Long thứ 7 (1808) mới chuyển đến chỗ hiện nay. Khắp các tỉnh hạt trong cả nước đều lập dựng văn miếu riêng thờ phụng rất long trọng.

Võ miếu

Miếu ở xã An Ninh phía tây Kinh thành, thờ phụng danh tướng các triều đại. Các tỉnh trong nước cũng đều có Võ miếu.

Miếu Đô Thành Hoàng

Miếu tại phường Vệ Quốc ở phía tây nam nội thành Kinh thành, được dựng vào đầu triều Gia Long. Các tỉnh trong nước cũng đều có Võ miếu.

Miếu thờ Quốc vương Chiêm Thành

Miếu tại xã Nguyệt Biều huyện Hương Thủy.

Miếu thờ Nam Hải Long vương

Miếu tại xã Thiều Dương huyện Hương Thủy, xây dựng vào đầu triều Gia Long. Thời Minh Mệnh, nhà vua ngự chế bài Kí về sự linh ứng của miếu, khắc vào bia dựng trong nhà bia.

Miếu Quan Công

Miếu ở ấp Xuân Lộc ngoại thành phía đông Kinh thành, thờ Quan Thánh Đế quân Thọ Đình hầu  đời Hán. Đầu triều Gia Long nguyên thờ tại bên cạnh chùa Thiên Mụ, đến thời Thiệu Trị mới chuyển về chỗ hiện nay. Tại xã Trạc Linh huyện Hương Trà cũng có miếu thờ Ngài rất to lớn, không biết rõ dựng từ thời nào. Mỗi khi gặp phải tai họa, đến miếu cầu đảo đều rất linh nghiệm. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1830) tiến hành trùng tu. Tại các tỉnh hạt trong nước, cả người ta và người Thanh đều tự lập đền thờ phụng Ngài rất hoành tráng.

Miếu Huệ Nam

Miếu trên sườn núi Ngọc Trản (Hòn Chén) thuộc huyện Hương Trà, thờ Thiên Y A Na Diễn Chúa Vương phi Thần nữ. Miếu được xây dựng từ tiền triều. Đến thời Đồng Khánh được tu sửa lại rất to đẹp. Sự tích của thần xem ở phần Tỉnh Khánh Hòa. Các tỉnh hạt trong nước cũng có lập đền thờ.

Vườn lăng tẩm Anh Duệ Hoàng Thái tử

Tại xã Vĩ Dã huyện Hương Thủy. Ông là con trai cả của Thế Tổ Cao Hoàng đế .

Miếu Khai quốc Công thần

Miếu ở bên trái Miếu thờ Trung Hưng Công thần, thờ phụng các vị: Hoằng Quốc công Đào Duy Từ, Anh Quốc công Nguyễn Hữu Tiến, Tĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Dật, Vĩnh An hầu Nguyễn Hữu Kính.

Miếu Trung tiết Công thần

Miếu ở bên phải Miếu thờ Trung Hưng Công thần, thờ phụng các vị từ Chưởng dinh Nguyễn Hữu Thụy, Tả quân Nguyễn Hữu Dật trở xuống, gồm 114 vị.

Đền Hiền Lương

Tại xã An Ninh thuộc bờ tây nam trước mặt Kinh thành, dựng năm Tự Đức thứ 11 (1858), thờ các vị từ Cần Chánh điện Đại học sĩ Trịnh Hoài Đức, Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng trở xuống, gồm 39 vị.

Đền Trung Nghĩa

Ở bên cạnh đền Hiền Lương, dựng năm Tự Đức thứ 11 (1858), thờ các vị từ Thống chế Lê Mậu Cúc, Nguyễn Văn Thận trở xuống, gồm 469 vị.

Chùa quán

Chùa Thiên Mụ

Chùa nằm trên đồi thuộc xã An Ninh Thượng huyện Hương Trà. Vào năm Tân sửu, năm thứ 44 thời Thái Tổ Hoàng đế  (1601), Chúa thượng ngự giá tới Hà Khê , thấy giữa đồng bằng nổi lên một đồi gò cao như hình đầu rồng nằm ngoảnh đầu lại, phía trước thì nhìn ra sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp. Nhân hỏi chuyện người địa phương, họ đều nói rằng gò này rất thiêng, tương truyền ngày xưa có người đêm thấy bà già bận áo đỏ quần xanh ngồi trên đỉnh đồi nói rằng : “Sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây, để tụ khí thiêng, cho bền long mạch”. Nói xong bà già biến mất. Bấy giờ nhân đấy mới gọi là đồi Thiên Mụ. Chúa cho là đất ấy có linh khí, mới dựng ngôi chùa gọi là chùa Thiên Mụ. Năm thứ 17 đời Thái Tông Hoàng đế (1666) tu sửa lại chùa. Năm thứ 19 đời Hiển Tông Hoàng đế (1709) đúc quả chuông lớn. Về sau chùa bị quân Tây Sơn phá hỏng, chỉ còn lại di chỉ. Năm Gia Long thứ 14 (1815) trùng tu lại chùa. Trong chùa khu chính giữa là điện thờ Phật, phía sau là điện Di Lặc, điện Quan Âm. Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) xây tòa tháp 7 tầng, cao 5 trượng 3 thước 2 tấc, đặt tên là tháp Phúc Duyên.

Chùa Diệu Đế

Chùa ở ấp Xuân Lộc huyện Hương Trà bên ngoài Kinh thành, nguyên là đất phát tường của Hiến Tổ Chương Hoàng đế. Chùa hướng tây, phía trước giáp bờ sông. Khu giữa vườn chùa là điện Đại Giác. Tháp đằng trước gọi là gác Đạo Nguyên, dãy nhà bên trái gọi là Cát Tường, bên phải là Trí Tuệ. Trước chùa có hai ngôi đình, bên trái là lầu chuông, bên phải là nhà bia. Chùa được xây dựng vào năm Thiệu Trị thứ 2 (1842).

Chùa Long Quang

Chùa ở xã Xuân Hòa huyện Hương Trà, không rõ được xây dựng từ thời nào. Năm thứ 6 đời Duệ Tông Hoàng đế (1770) tiến hành trùng tu. Biển ngạch ở tầng lầu trên cổng chùa đề 4 chữ đại tự "Tuệ chiếu Nam Thiên", biển treo ở tầng dưới đề tên chùa "Long Quang tự". Vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), bà Bác Huệ Từ Dũ Thái Thái Hoàng Thái hậu quyên góp trùng tu.

Chùa Từ Ân

Ở bên cạnh chùa Long Quang, qui mô cũng to lớn. Vào năm Thành Thái thứ 2 (1890), chùa được bà Bác Huệ Từ Dũ Thái Thái Hoàng Thái hậu quyên góp trùng tu.

Chùa Linh Hựu

Chùa ở phường Ân Thịnh phía bắc sông Ngự trong thành nội Kinh thành, xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 19 (1829). Ở giữa là điện Trùng Tiêu, bên trái là gác Từ Vân, bên phải là gác Tường Quang. Trước chùa có cổng tam quan. Ngoài nữa chỗ sát sông Ngự xây cổng linh tinh . Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) khắc bia, xây nhà bia để dựng. Nay đã dỡ bỏ.

Chùa Giác Hoàng

Chùa ở phường Đoan Hòa bên trong Thành nội Kinh thành. Phía trước là điện Phật, phía sau là điện Thái Bảo, bên trái là thiền đường, bên phải là nhà trai. Tương truyền đây là đô thành của tiên triều nước ta. Hồi đầu triều Gia Long đây là nơi ở của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế khi chưa lên ngôi, về sau đem ban cho Thiệu Hóa Quận công làm công phủ. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) lại cấp cho Quận vương tử Thiện Khuê  lấy đất ấy xây dựng chùa. Bên chùa có giếng nước gọi là giếng Thanh Phương, có bia đá ghi chép lại. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) khắc bia, xây nhà bia. Sau đó trở thành nơi hội họp thương nghị, nay đặt thành viện Cơ mật.

Chùa Thánh Duyên

Chùa ở núi Thúy Vân thuộc huyện Phú Lộc. Kính xét: Vào năm thứ 19 đời Thái Tông Hoàng đế triều ta, tức năm Đinh mùi (1667), Chúa thượng xa giá tới cửa Tư Hiền, thấy cảnh trí núi Qui Sơn rất đáng yêu, đỉnh núi có tháp cổ của Chiêm Thành, bèn sai di dời tháp đó để xây ngôi chùa gọi là Vinh Hòa tự. Sau thời kì chiến tranh chùa chỉ còn lại di chỉ. Đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) chùa được trùng tu.

Đồi Long Thọ

Đồi ở xã Nguyệt Biều huyện Hương Thủy, gối đầu ra bờ nam sông Hương, đối diện bên kia sông là đồi Thiên Mụ. Hồi trước có tên là Thọ Khang, tương truyền ngày xưa trên đó có nhà cửa, vào tiền triều, các vua Anh Tông, Hiển Tông, Uyên Tông, Thế Tông đã dựng dinh ở tạm nơi đây. Sau hồi loạn Tây Sơn thì bị phế bỏ.

Chùa Khánh Vân

Chùa ở xã Lựu Bảo huyện Hương Trà. Chùa dựng trên núi, phía trước có dòng suối chảy quanh co, cây cối um tùm, cảnh trí tuyệt đẹp. Năm thứ 9 đời Thế Tông triều ta, tức năm Đinh mão (1747) ban cho tấm biển vàng, trên khắc 5 chữ "Sắc tứ Khánh Vân tự", dòng lạc khoản bên trái khắc 8 chữ "Quốc vương Từ Tế Đạo nhân ngự đề".

Chùa Thiên Ấn

Chùa ở xã Xuân Hòa huyện Hương Trà, không rõ được xây dựng từ thời nào. Vào đầu triều Tự Đức, Hoàng Thái hậu đã quyên góp tiền của để trùng tu chùa.

Chùa Quang Bảo

Chùa ở xã Kim Long huyện Hương Trà, do Thuận Thiên Cao Hoàng hậu quyên góp tiền của xây dựng vào đời Minh Mệnh.

Chùa Phú Ốc

Chùa ở xã Phú Ốc huyện Hương Trà. Chùa đã cổ xưa lắm, được xây dựng từ hồi đầu mở ra nhà Nguyễn và rất linh thiêng.

Chùa Bảo Sơn

Tại xã An Ninh huyện Hương Trà có di chỉ ngôi chùa cổ. Vào đời Minh Mạng, Thuận Thiên Cao Hoàng hậu đã quyên góp tiền của trùng tu.

Chùa Báo Quốc

Chùa ở ấp Trường Giang huyện Hương Thủy, tương truyền là do Giác Phong Hòa thượng khởi tạo. Năm Đinh mão (1747) đời Thế Tông Hoàng đế triều ta ban cho chùa tấm biển vàng, trên khắc 5 chữ đại tự "Sắc tứ Báo Quốc tự" và dòng lạc khoản ở bên trái khắc 8 chữ: "Quốc vương Từ Tế Đạo nhân ngự đề". Năm Tự Đức thứ 11 (1858) trùng tu. Mé bắc chùa có chiếc giếng cổ , gọi là giếng Hàm Long, sâu tới 4, 5 thước. Đáy giếng có tảng đá hình đầu rồng, nước từ trong kẽ đá phun trào ra, nước trong vị ngọt. Hồi đầu gây dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn thường lấy nước ở đây đem tiến vua chúa, nên còn gọi là Giếng Cấm.

Chùa Kim Tiên

Chùa ở ấp Bình An huyện Hương Thủy, tương truyền là do Bích Phong Hòa thượng xây dựng, được trùng tu vào thời Thế Tông Hoàng đế triều ta. Phía trước chùa có chiếc giếng cổ sâu đến hơn 30 thước, nước trong vắt. Tương truyền ngày xưa có tiên nữ ra tắm ở giếng này, vì thế gọi là Giếng Tiên.

Chùa Quốc Ân

Chùa ở ấp Phúc Quả huyện Hương Thủy, tương truyền là do Hoán Bích Thiền sư xây dựng. Trước cửa chùa có tháp Phổ Đồng. Đầu triều Gia Long Mật Hoằng Thiền sư đã trùng tu lại chùa.

Chùa Thiền Lâm

Chùa ở xã An Cựu huyện Hương Thủy, tương truyền do Thạch Liên Hòa thượng xây dựng nên. Phong cảnh chùa rất âm u tịch mịch. Đầu triều Gia Long, chùa được Thừa Thiên Cao Hoàng hậu quyên góp tiền của tiến hành trùng tu. Chùa có quả chuông lớn, cao 4 thước, vòng thân chuông đến 6 thước, dày 4 tấc, trên mặt có khắc chữ cho biết chuông đúc vào năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716).

Chùa Từ Hiếu

Di tích chùa cổ tại xã Dương Xuân huyện Hương Thủy. Năm Thành Thái thứ 11 (1899), các quan Thái giám quyên góp tiền của trùng tu.

Chùa Linh Thông

Chùa tại xã Dương Xuân Thượng huyện Hương Thủy, không rõ được xây dựng từ thời nào. Năm Thành Thái thứ 5 (1893), An Xuyên Quận vương cùng các quan Thị lang Phạm Tự, Bố chính Nguyễn Đình quyên góp tiền của trùng tu.

Chùa Thiên Hưng

Chùa tại xã Dương Xuân Thượng huyện Hương Thủy. Chùa cũ đã được Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền quyên góp tiền của cải tạo lại vào năm Thành Thái thứ 7 (1895).

Chùa Ưu Đàm

Chùa tại xã Ưu Đàm huyện Phong Điền, không rõ được xây dựng từ thời nào. Mé bên phải chùa có tảng đá nổi hình tượng Phật, khoảng chiếu phía trước có bình phong đá, chiều cao và rộng đều 3 thước, ẩn hiện hình người, ngựa như được tạc trên đá. Dân làng lập am thờ phụng. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) trùng tu.























Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét