Hoàng Việt địa dư chí 皇越地輿誌– Bản dịch năm 2012 của Phan Đăng
(Bài gửi Tạp chí Hán Nôm 2021)
Ths. Nguyễn Đức
Toàn
Leipzig, CHLB Đức
toanhn09@gmail.com
Tóm tắt: Tìm
hiểu về lịch sử vấn đề nghiên cứu Hoàng
Việt địa dư chí(HVĐDC) , tác phẩm này đã được nhà nghiên cứu Phan Đăng phiên dịch và
đã được in, do Nhà xuất bản
Thuận Hóa năm 1997. Tuy nhiên, bản dịch này nhiều điểm sai, nhầm lẫn về số tờ,
đặt sai thứ tự các địa danh lịch sử văn hoá. Nhất là trong phần dịch về Hà Nội,
bản dịch đã sắp nhầm những địa danh lịch sử văn hoá nổi tiếng, của Hà Nội như:
Chùa Huy Văn, Trấn Quốc, Một cột, Yên Lãng, Bà Ngô, Quán Sứ, Quán Huyền Thiên,
Trấn Võ lại được xếp dưới Phủ Lý Nhân (Hà Nam). Trên Tạp chí Hán Nôm(TCHN) số 4 năm 2004, với tiêu đề Từ một bản dịch đến vấn đề Văn bản của Hoàng
Việt địa dư chí, đã khảo sát văn bản
và giới thiệu những đặc điểm văn bản này . Nhưng bài viết chưa đi vào những thiếu sót của bản dịch năm
1997. Tiếp đó, năm 2012, bộ Tổng tập Dư
địa chí Việt Nam (TTDĐCVN) được phát hành, trong đó cũng tuyển chọn bản
dịch HVĐDC năm 1997 của dịch giả Phan Đăng. Theo lời giới thiệu thì không có bổ
sung gì mới kể từ năm 1997, ngoài thêm phần Chú thích của Ths. Bùi Văn Vượng,
và bỏ bớt phần chữ Hán chép tay của ông Nguyễn Văn Uyển Chúng tôi căn cứ vào bản giới thiệu trong TTDĐCVN 2012, để
so sánh đối chiếu những thiếu sót nhầm lẫn của bản dịch này cũng như những thao
tác văn bản học chưa đầy đủ của những nhà nghiên cứu trước đây.
⃰ ⃰∞⃰ ⃰
Hoàng Việt địa dư chí
là một bộ sách về địa lý Việt Nam
được biên soạn trên cơ sở của phần Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí(LT). Nhưng sách LT chỉ có bản viết. Còn HVĐDC được khắc in lần đầu
vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833). Sau nó lại được nhiều nhà in khác cho tái bản
và nhiều người sao chép, truyền tay nhau lưu giữ. Hiện nay tính cả tại Viện Hán
Nôm (VNCHN) và Thư viện quốc gia (TVQG) đã có tới 17 ký hiệu trong đó có 5 ký
hiệu là chép tay:
R.2212; A.1074: Hội Văn Đường in năm Minh
Mệnh 14(1833) VHv.1653; VHv.125; VHv.
1476; A2617; VHv.1710: Quảng Văn Đường in năm Minh Mệnh 14(1833).
A.71; VHv.1910; R.164; VHv. 1475: Tụ Văn Đường in năm
Thành thái 9(1897)
R.408: Duy Tân 1
(1907)
VHv.2423; VHv.2424:
in.
VHv. 175: viết; VHv. 1836/1; VHv. 1837/2: viết; A. 1475: viết; R.1982: viết.
Đó là chưa kể đến các
bản hiện còn đang lưu giữ tại các thư viện khác, trong và ngoài nước. Văn bản
có thể chia thành 4 nhóm theo năm ấn hành, theo nhóm in và nhóm chép tay:
1. Các bản in năm 1833
2. Các bản in năm 1897
3. Các bản in năm 1907
4. Các bản chép tay
Bản dịch của dịch giả
Phan Đăng căn cứ trên bản in 1897. Đây là nhóm văn bản bị xáo trộn các tờ trong
phân mục Hà Nội, dẫn đến bản dịch lẫn lộn. Đang từ Hà Nội lại lộn về các địa
danh Phủ Lý; đang ở Phủ Lý lại lộn về Thường Tín, Bắc Hà. Chưa kể đến những
đoạn nhầm như thế mạch văn bị lẫn, dịch giả đã suy diễn ra để dịch, khiến cho
bản dịch mất đi tính chính xác nếu dùng làm tư liệu tra cứu.
Lời Tiểu
dẫn nhóm dịch giả cho rằng HVĐDC
được khắc in 4 lần, nhưng không chỉ ra được lần thứ 4 là năm nào. Chỉ để [?] –
Nhà in Duy Minh Thị.

Ảnh
chụp trích dẫn từ TTDĐCVN – Tiểu dẫn, tr.893
Theo như khảo sát thì
mộc bản sách HVĐDC chỉ đề khắc in có
3 lần thôi. Là các năm: Minh Mạng 14 (1833); Thành Thái 9 (1897); Duy Tân 1
(1907). Còn lại là các bản chép tay lại từ các bản in. Bản Duy Minh thị hiện
còn tại VNCHN với ký hiệu A.71 chỉ có lời tựa chép tay của Duy Minh thị đóng
kèm vào bản in năm Thành Thái 9 (1897) của Tụ Văn đường, vì ngay sau bài tựa
chép tay là tờ in tên sách đề "Thành Thái cửu niên tân thuyên - Tụ Văn
đường成泰九年新鐫-聚文堂. Qua lời tựa này chúng ta biết Duy
Minh Thị sưu tầm được văn bản vào năm Nhâm Thân (có lẽ là năm Tự Đức1872-?;
hoặc Bảo Đại 1932-?). Chép tay lời tựa đóng kèm vào với bản in. Giống như bản
A.2617 có lời tựa đề năm Thiệu Bình 2 (1435), nhưng đó là chép thêm phần Dư địa
chí của Nguyễn Trãi đóng phụ lên trên của một bản in năm 1833.
Nguồn https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53440
Điều này có thể cho
chúng ta lý giải rằng, sách được các nhà in sau có thể đã dùng lại mộc bản của
nhà in đầu tiên, và họ chỉ khắc lại tờ bìa đề niên đại sau. Nhà in Quan Văn
đường năm 1907, đã dùng lại mộc bản của nhà in đầu tiên Hội Văn đường 1833. Bản
Duy Minh thị cũng không ngoại lệ, là mua lại nội dung mộc bản của Tụ văn đường
năm 1897, và đề tay ngoài của Duy Minh thị sưu tầm, chứ không có in.
Lần xuất bản lại năm 2012, lời Giới thiệu cho rằng “Trong mỗi vùng ghi đủ các phủ, mỗi phủ ghi đủ
các huyện châu, trong huyện châu ghi đủ các tổng, xã, thôn, phường, vạn, trại,
trang, thuộc …” dễ khiến người đọc hiểu nhầm là sách ghi đến tận địa danh
làng xã. Mà thực tế không phải, sách chỉ ghi đến số lượng các “xã, thôn,
phường, vạn, trại, trang, thuộc” mà thôi.
Dịch giả Phan Đăng đã
dùng bản in năm 1897, và cho rằng đây là bản tốt nhất, dù hơi mờ, khó đọc. Dịch
giả chú thích là dùng bản lưu “tại Thư viện
H.V.L”, và
có nhắc đến “có một số tờ do sắp xếp sai,
đem nội dung phủ này sang phủ khác, hoặc có chỗ ghi sai về tên đất, tên người”.
Và đã “cố gắng tham khảo một số sách cùng
thời, hoặc các sách sử học để lặp lại đúng Logic của bộ sách”.
Ảnh
chụp trích dẫn từ TTDĐCVN – Lời nói đầu, tr.899
Theo khảo sát văn bản trên TCHN số 4/2004. Thì HVĐDC
có phần đánh số trang khá đặc biệt. Sách chia 2 quyển. Quyển 1, mục Hà Nội từ
tờ 18a đến tờ 27a, lại có hiện tượng thêm các tờ đánh số theo kiểu có chua thêm
chữ “thượng” ở trên số tờ: 上19, 上20 , 上21 , 上22 , 上23 , 上24 , 上25 , 上26 ); và các tờ không có chữ "上" (19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26). Còn các phần
về tỉnh khác đánh số bình thường. Người biên soạn đã chủ đích đặt thêm
riêng cho phần phủ Hoài Đức, Hà Nội một mục là “靈祠寺觀 Linh Từ tự quán” phần này
chỉ riêng phần phủ Hoài Đức, các tỉnh trấn khác đều không có, có đánh số chua
thêm cho có chữ “thượng上” ở trên các số tờ đặt làm phần riêng, như kiểu đặt
phụ lục thêm vào(上十九 đến上二十六)rồi quay lại số thứ tự như cách thông thường. Với dụng ý xếp hết tất cả các tờ có chua chữ "thượng" lên trên, rồi mới quay trở
lại các tờ không chua chữ "thượng".
Nghĩa là cách xếp đọc đúng phải theo thứ tự: Tờ 上19 a-b=> 上26 a-b đặt lên trên, rồi sau đó lại xếp tờ 19 a-b
(bình thường) đến hết tờ 26 a-b (bình thường).

Vì một lý do nào đó mà nhóm bản in năm 1897 lại là
nhóm xếp sai hoàn toàn với dụng ý của người biên soạn. Và nhóm dịch giả sử dụng
lại là văn bản nhóm này. Dù bản dịch không đánh số trang để so sánh, đối chiếu
với nguyên bản năm 1833, chúng tôi thấy bản dịch của Phan Đăng xếp theo thứ tự
sai là:
|
Thứ tự trong bản dịch của Phan Đăng (đối
chiếu với các tờ nguyên văn)
|
Thứ tự đúng theo địa danh trên văn bản
|
|
18ab
|
18ab
|
|
上19ab
|
上19ab
|
|
19ab
|
上20ab
|
|
上20ab
|
上21ab
|
|
20ab
|
上22ab
|
|
上21ab
|
上23ab
|
|
21ab
|
上24ab
|
|
上22ab
|
上25ab
|
|
22ab
|
上26ab
|
|
上23ab
|
19 ab
|
|
23ab
|
20ab
|
|
上24ab
|
21ab
|
|
24ab
|
22ab
|
Từ đây thì cắt
dòng, cắt trang lẫn lộn. Không rõ căn cứ vào đâu. Lúc thì cắt dòng tờ này
ghép vào tờ khác, lúc thì lấy riêng của tờ khác mấy dòng.
|
1 dòng của上25a
ghép vào 13 dòng của tờ 25ab
|
23ab
|
|
17 dòng còn lại
của上25
ab
|
24ab
|
|
14 dòng của上26ab
ghép với 5 dòng còn lại của 25b
|
25ab
|
|
26ab
|
26ab
|
|
8 dòng của tờ 27a
|
27ab
|
|
4 dòng của tờ上26
b
|
28ab
|
|
12 dòng giữa của
tở 36ab
|
29ab
|
|
10 dòng cuối của
tờ 27 ab
|
30ab
|
|
28 – 35b, nhảy
sang 36 b, bỏ qua bài thơ của Lê Quý Đôn và Phủ Bắc Hà, vì đã bị đính vào bên
trên 12 dòng, chỉ còn 4 dòng của Phủ Lạng Giang
|
|
Theo bản in trong TTDĐCVN, thì dịch giả Phan Đăng dịch bám
sát theo văn bản, lần tái bản năm 2012 không có sửa chữa gì, chỉ thêm chú thích
của Bùi Văn Vượng(trong sách viết tắt là BVV). Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu so
sánh văn bản dịch ở dưới đây. Để xem “hay”
và “chuẩn xác gần như bản gốc” là như
thế nào.
Bản dịch của Phan Đăng, ngoài những nhầm lẫn do cách đọc
vùng miền, hay do cách âm đọc khác chúng tôi không tính. Chỉ tính những nhầm lẫn
do văn bản bị xáo trộn, và dịch không chính xác. Chúng tôi tóm lược thành 6
khuyết điểm của nhóm biên dịch là:
-
Dịch giả không nhận dạng được văn bản.
-
Dịch giả không đọc được chữ Nôm.
-
Khi gặp đoạn nhầm trang đã không so
sánh đối chiếu, mà cố suy diễn cho thành câu để ghép lại thành lời dịch.
-
Dịch sai ngữ pháp.
-
Dịch bỏ chữ, bỏ câu, bỏ đoạn.
-
Thiếu kiến thức lịch sử, địa lý, văn
hóa.
Trong bài viết này chỉ điểm ra những lỗi chính. Chúng tôi để
trong khung chia cột cho bạn đọc dễ so sánh. Đầu tiên là cột nguyên văn lời dịch
của dịch giả Phan Đăng. Cột thứ 2 là số trang theo bản dịch năm 2012. Cột thứ 3
là số tờ trong nguyên bản chữ Hán, ở đây chúng tôi chia theo quy tắc: tờ a – tờ
b, khi có thêm chữ: thượng上, chúng
tôi viết thêm: thượng a – b; khi sang
Quyển 2, số trang đánh lại từ số 1, chúng tôi thêm là: 1aq2(nghĩa là tờ 1a quyển
2). Cột thứ 4 là phần dịch sửa đúng lại. Chúng tôi góp nhặt những lỗi cơ bản lập
thành bảng đối chiếu để độc giả tiện tra xem đầy đủ đặt làm Phụ lục.
Bản dịch bắt đầu từ trang 901 đến 1028 (127 trang)
Trang dịch 903:
HVĐDC. Phan
Đăng dịch. (1997-2012)
|
Số trang bản
dịch
|
Số tờ nguyên
văn R.2212
|
Nguyên văn
|
Nên dịch là
|
từ ấy
bờ biển sông ngòi ngày được mở mang thêm về phía Quảng Nam vậy
|
904
|
4a
|
自此沿江日餘即廣南地
|
từ
đây men theo đường sông hơn 1 ngày là đến đất Quảng Nam
|
Mộc bản khắc chữ Diên沿 , nhưng dịch giả không nhận ra được chữ
này và suy diễn ra là giống chữ Haỉ海 nên ý câu dịch thành: từ đây sửa sang mở
mang sông biển thêm nhiều về phía Quảng Nam;
Thuận
Hóa hỏa thành ở phía Hạ lưu
|
904
|
4b
|
順化大城在下流
|
Thành lớn Thuận Hóa ở phía Hạ lưu.
|
Dịch giả đọc chữ Đại大
không ra, vì mộc bản khắc mờ, giống như
chữ Hỏa火 , và thành ra là Hỏa
thành – thành lửa, phù hợp với Thuận Hóa là nắng nóng.
Trang dịch 904:
Tẩy
Nguyên, chú là Tây Nguyên (BVV)
|
904
|
4b
|
洒源
|
dịch đúng thì là 1 danh từ Nguồn
Sái
|
Thú vị hơn nữa là Ths.
BVV đã chú thích là Tây Nguyên. Chắc BVV cho rằng Thuận Hóa gần với Tây Nguyên chăng?.
núi
này chạy liền với những ngọn núi ở Lệ Thủy
|
907
|
7b
|
連山在麗水縣
bản R.2212 có chú rõ Liên Sơn là danh
từ
|
(núi
Liên Sơn) có Liên Trì ở huyện Lệ Thủy
|
Trang dịch 910: Về quần
đảo Hoàng Sa có loại ốc Tai Voi, nguyên văn ghi chữ Nôm rất rõ, có bản còn kèm
cả chú thích khuyên son bên ngoài nhưng chắc là bản in năm 1897 của Phan Đăng
không có chú chăng?. Và dịch giả đọc được chữ Ốc nhưng không đọc được chữ Tai Voi.
một
loại ốc đẹp thường gọi là ốc thông
|
910
|
11a
|
其文螺有名沃𦖻㺔
bản R.2212 có chú rõ chữ Nôm: 𦖻音災 tai âm tai
|
loại
ốc văn ở đây có tên là ốc tai voi
|
Nguyên bản có khắc chữ
Nôm, nhưng dịch giả không đọc được chữ Nôm 沃𦖻㺔
ốc tai voi. Chữ Tai 𦖻khắc
bộ Nhĩ 耳 + chữ Tư思
, dịch giả tưởng là chữ Thông 聰
trong Thông Minh. Bản R.2212 chú rất
rõ: 𦖻音災 tai âm tai. Các bản in 1833, 1897, 1907
và chép tay R.1982 đều chép giống nhau
Trang
dịch 911:
họ thường đốt rừng làm rẫy, cứ tháng giêng làm, đến
tháng 5 quá nắng có khi không thu hoạch được do không biết lịch canh tác
|
911
|
12a
|
刀耕火植正月作而五月熟不獲而捋不知日曆
|
phát
rừng đốt nương, tháng giêng làm thì tháng 5 chín, không thu hoạch mà chỉ đi
mót thôi. Không biết lịch pháp
|
Dịch giả dịch sai hoàn
toàn.
Trang dịch 916:
Thành
Tân Kiến – Không thấy chép gì về thành này
|
916
|
16b
|
新建城鎮府縣
|
Những
thành trấn, phủ, huyện mới đặt
|
Dịch giả không hiểu gì
về ngữ pháp Hán văn cũng như kết cấu nội dung văn bản. Đoạn này là nói đến
thành Gia Định, là khu mới dựng đặt trấn thành, phủ lị, huyện lị sẽ lược kê tên
phụ cùng trấn Hà Tiên bên dưới. Khu vực này thuộc Nam Kỳ, người biên soạn sách
chưa có nhiều thông tin về vùng này nên chỉ kê rất lược. Dịch giả lại đặt ra 1
thành là Thành Tân Kiến – Đúng là một phát minh mới - Tân Kiến.
Trang dịch 919:
Đất
này phía tây có núi Trị Sơn, phía đông giáp biển
|
919
|
18a
|
其地西界沿山東畔臨海
|
Đất
này phía tây men núi, phía đông hướng biển
|
Dịch giả lại nhầm chữ
Diên 沿với chữ Trị 治giống trang 903, nên đã biến diên sơn
(ven núi) thành núi Trị Sơn(địa danh-nhưng mà không có địa danh này).
Trang dịch 919 trở đi,
tương ứng tờ 18 trong nguyên bản. Là phần về Hà Nội. Những nhầm lẫn do đặt sai
tờ với chủ ý người biên soạn, chưa kể đến dịch sai.
Trang dịch 920: sắp nhầm
19 a nối sau 19a thượng nên dịch cũng nhầm mà không biết. Đang từ
Sông Tô Lịch phủ Hoài Đức, chuyển sang
Phủ Thường Tín(Tất nhiên Phủ Thường Tín cũng có 1 đoạn sông Tô Lịch, nhưng là
đoạn dưới ở Thường Tín). Dịch giả rất tôn trọng nguyên bản.
Cũng trang dịch
920: tính dân gian trong văn dịch rất đậm
đà. Thuồng luồng là một loài dâm ô, chắc chỉ thích bắt người để hiếp thôi.
bị
con thuồng luồng hiếp
|
920
|
19b
|
為蛟 所捉
|
bị
con thuồng luồng bắt
|
Trang dịch 921: lại quay về tờ 20 thượng, lại nhầm. Từ dấu
chân thần đền Bộ Đầu, chuyển sang “các xã
Hữu Định, Nhuệ Giang và Hợp Khâm”.
Than ôi! Không có xã Hữu Định, xã Nhuệ Giang và Hợp Khâm. Mà đọc nhầm nối từ tờ
19 b chữ: hữu túc 有足
sang
tờ 20 thượng a chữ: xã社
thành xã Hữu Túc. Nhưng chữ Túc đọc sai là chữ
Định. Dịch đúng là: có … hiệp dòng với sông Nhuệ.
nên
các xã Hữu Định, Nhuệ Giang và Hợp Khâm lập đền thờ
|
921
dịch từ tờ 20 thượng a-b
|
20thượng
a
|
社與銳江合襟từ
19b nhảy sang 20thượng
|
có
xã … hợp dòng với sông Nhuệ
|
Cũng trang dịch 921: đoạn văn mô tả Hoàng Phúc cho khơi
thông sông Tô Lịch, đã dịch thành cầm
quân sang đánh nước ta.
Hoàng
Phúc cầm quân sang đánh nước ta, khi qua đến sông Tô Lịch y cho dừng quân lại
và đặt là sông Tô Giang
|
921
dịch từ 20thượng/a-b
|
20thượng
a
|
黃福重加浚治因王師吊伐民獲穌息便名曰來穌江
|
Hoàng
Phúc lại cho khai thông sông này, nhân vì có quân sang điếu phạt khiến dân được
yên ổn nên đặt tên là sông Tô (Tô tức là được sống yên vui trở lại)
|
Trang dịch 922: lại quay về Hồ Tây, Hà Nội. Nhưng cách diễn
dịch ở đây khiến người ta suy sụp hoàn toàn.
lại
còn nói là chim phượng hoàng từng uống cạn nước hồ, hoặc từng thấy núi phía
nam tự nhiên sáng rực lên và trong ánh sáng ấy thấy hình con rồng cuộn
|
922
dịch từ 20thượng/a-b
|
20thượng
|
在此謂鳳凰飲水格列之奏稿嘗對山南爛柯山龍脊有金牛自山谷中逸出隱於湖中
|
ở
đây có cái thế Phượng hoàng ẩm thủy, từng có con Trâu vàng ở trong hang lưng
núi Lạn Kha, trấn Sơn Nam chạy đến ẩn vào trong hồ
|
Đoạn dưới dịch giả không quan tâm đến chính trị thời cuộc.
chẳng
bao lâu cây cỏ phong cảnh và linh khí của hồ cũng tàn tạ
|
922
dịch từ 20thượng/a-b
|
20thượng
|
未幾而朝革吁亦山川草木靈氣之先兆云
|
chẳng
bao lâu thì triều đại đổi thay. Than ôi! có phải là điềm báo của linh khí cỏ
cây sông núi đấy ư!
|
Rồi lại quay lại tờ 20, từ Hồ Tây quay về đền Bộ Đầu, Thường
Tín đã nhắc ở trên.
Trang dịch 923: khi mô tả về Hồ Gươm, tức hồ Tả Vọng, khiến
cho người đọc không biết trông vào đâu để mà Vọng.
giữa
hồ có đắp ngôi nhà, lấy phương bắc làm bên tả, phương nam làm bên hữu, hướng
trông vào giữa thành
|
923
dịch của tờ 20 nhảy sang 21 thượng
|
21thượng
|
湖中斷築為二在北為左望在南為右望其原一也đang từ tờ 20 lại nhảy về tờ 21 thượng: từ phủ Ứng Hòa mọc ra Hồ Hoàn
Kiếm
|
trong
hồ đắp chia làm 2, ở phía bắc là Tả vọng, ở phía nam là Hữu vọng, nguyên chỉ
là 1
|
Trang dịch 924: dịch giả đã bị nhầm
nhiều trang nên chỗ này diễn dịch thật là tệ. Khi đặt ra một vị tướng tài tên
là Lê Quang Hưng. Đúng ra là: Nhà Lê thời niên hiệu Quang Hưng(1578-1599). Và địa
danh đang từ miếu Nam Giao đã bay về núi Tuyết Sơn huyện Hoài An. (Tuyết Sơn
nay thuộc khu Di tích chùa Hương, xa lắm).
Trang dịch 925: đang thơ đề ở núi Hinh Bồng, bay lại về Điện Chiêu Sự. Thực ra
Hinh Bồng và Tuyết Sơn là gần nhau ở Hoài An, còn Miếu Nam Giao và điện Chiêu Sự
là gần nhau ở Hà Nội.
Trang
dịch 926: đền Cao Sơn, huyện Thọ Xương lại bay về núi Tiên Sơn, huyện Hoài An.
Trang
dịch 927:
Việc
này thấy có thật mới chép ra đây
|
927
dịch từ 22
|
22
|
事詳捷記
|
Việc
chép rõ trong sách Tiệp ký
|
Trang
dịch 928: đang ở huyện Chương Đức đăng khoa bay vèo về Đền Cao Sơn, phường Đông
Tác, với ông Lê Tương dực黎襄翼đọc
thành Lê Nhượng đế; Lê Tung 黎嵩đọc
thành Lê Cảo; Minh chủ 盟主đọc
thành Khai chúa.
Lê triều
Tương Dực đế
|
Minh
chủ
|
Lê Tung
|
Cùng
trang dịch 928: dịch giả dịch suy diễn 1 tước Đông Chinh vương, thành động từ đi đông chinh, và câu dịch sai với nguyên
văn.
Hoàng
đệ Dự thánh đi đông chinh nhưng Vũ Đức tam vương sẽ có mưu làm phản
|
928
|
23
thượng
|
皇第翌聖東征武德三王謀不軌
|
các
vị hoàng đệ là Dực Thánh vương, Đông Chinh vương, Vũ Đức vương mưu làm phản
|
Thái
tông sai tướng cầm binh ra chống cự, sau vua phải đích thân ra cầm quân mới
thắng được
|
928
|
|
即命約提兵拒戰及內難平帝嘉其有協應
助順 之功
nguyên văn khắc nhầm chữ Tướng 將
thành chữ Ước約
|
liền
sai tướng dẫn quân cự chiến, đến khi nội nạn được bình, vua khen thưởng công
hiệp ứng trợ thuận
|
Trang
dịch 929: lại từ đền Đồng Cổ bay về xã Chi Nê, huyện Chương Đức.
Dịch
nhầm là:
ông
Đặng Công Huấn, tự là Nghĩa
|
929
dich từ tờ 23a
|
23a
|
鄧自義公訓為中興功名
|
Họ Đặng
từ cụ Nghĩa công tên Huấn là bậc công danh đời Trung hưng
|
Đoạn
dưới, chính là đang nói đền Đồng Cổ xưa lập đàn Thề ở bãi sông, chưa từng dựng
nhà làm đền. Sau này có nhà, có đền không biết từ bao giờ. Văn bản đã ghép nhầm
tờ 23 vào 24 thượng, nếu nguyên văn đúng trật tự tờ 23 – 24 là: xưng vi thượng trấn lạc thổ, danh thắng chư
cảnh biệt sơn, 稱為上鎮樂土名勝諸景別山 bị biến
thành: 稱為上鎮樂土名屋不知祠屋創在何時因併錄之xưng vi thượng trấn lạc thổ, danh ốc bất
tri từ ốc sáng tại hà thời nhân tính lục chi. Và
dịch giả diễn ra như dưới đây:
đất
Lạc Trường gọi là Ốc, chẳng biết ai gọi là Ốc từ bao giờ, nay chỉ chép lại
cho biết vậy thôi
////
Hồng Thái
|
929
dịch từ tờ 24 thượng
|
24
thượng
|
屋不知祠屋創在何時因併錄之
(đây là đoạn nối vào đền Đồng Cổ)
/////
洪聖
|
(chưa
có) nhà, không biết đền được dựng từ khi nào, nên cứ chép cả lại////
Hồng
Thánh
|
Từ nhà
ông Đặng Huấn ở Chi Nê bay về Phủ Lý:
Rồi từ
Phủ Lý bay về đền Chiêu Ứng huyện
Vĩnh Thuận:
Trang
dịch 930:
có
viên Đô hộ phủ hay đa nghi sĩ tốt trong ngục, không ai giãi bày được nỗi oan,
họ bèn lập đền ngay trong ngục cầu thần linh ứng nghiệm trừng phạt kẻ âm mưu
chuyện ác.
|
930
dịch từ tờ 24 thượng
|
24
thượng
|
都護府多疑獄士師不能決擬立祠於獄中要得彰著神靈者以痛懲奸慝
|
phủ
đô hộ có nhiều án ngờ. Quan Sĩ sư không thể phán quyết được. Nên đề nghị lập
đền trong ngục để dùng uy linh hiển ứng của thần để răn chừng quân gian ác.
|
Cũng
trang dịch ấy: 2 địa danh Nhật Chiêu, Quảng Bá đã biến thành thần ánh sáng. Nhật
Chiêu là Ánh Sáng cũng rất là ý nghĩa.
Vương
cùng sáu đệ tử phân ra làm thần ánh sáng của Hồ Tây xứ An Hoa
|
930
|
24
thượng b
|
王與其六弟子分為日昭廣布西湖安花之神
|
Vương
cùng 6 người đệ tử chia nhau làm thần ở các vùng Nhật Chiêu, Quảng Bá, Tây Hồ, Yên Hoa
|
Chùa Dục
Khánh 毓慶寺 đọc thành chùa Long Khánh, gắn liền với điện Huy Văn thờ
Quang Thục hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao đã ghép vào thành cảnh đẹp của đất Sơn
Nam? . Vì ghép 24b thượng vào 24a. Nên lại quay về xứ Sơn Nam.

Trang dịch 931: vì đang say sưa với xứ Sơn Nam, đến núi Lão
Sơn rồi lại quay lại tờ 25a thượng có 1 dòng về điện Huy Văn, vua cho đặt chức
Tự thừa và chức Tri sự lo việc thờ cúng ở điện này. Dịch giả không biết làm sao
nên dịch là: Trên núi có chùa Văn Điện, nay thấy chép như vậy列置徽文殿寺丞及知事職.
Từ vùng Hà Nam núi non quay về với chùa đền Hà Nội, chùa
Long Ân, Báo Thiên, Trấn Quốc:
Trang dịch 933: Văn miếu có 1 cái hồ, dịch giả đã dịch
thành: giữa một cái hồ nhỏ vuông hình chữ
khẩu此處有湖一口
Trang dịch 934: Theo
trật tự bây giờ mới đến phủ Thường Tín thì dịch giả cắt ra 4 dòng cuối của tờ
25a, là phủ Khoái Châu. Phủ này có đền Ả Đào, dịch giả dịch rất nhanh chóng là:
có một cô ả đào lập mưu đánh lừa
khiến quân Minh đang đêm phải triệt đồn đi nơi khác有一婀陶夜賺明人入囊徹投于江明人移屯/
Dịch đúng là: có một cô đào, đêm lừa người Minh vào trong bao, ném xuống
sông. Quân Minh phải dời đồn đi.
Trang dịch 935: Ngày xưa có hai người con gái tên là Lân –
Xã đến miếu bái tạ昔鄰社貳娘拜謝/ Dịch đúng là: Xưa
hai người con gái ở xã bên sang làm lễ bái tạ. Chỉ có 8 dòng cắt từ tờ 27a, còn
các dòng khác chạy đi đâu không biết.
Trang dịch 936: đã hết phủ Thường Tín,
và nối vào Phủ Bắc Hà(tờ 36 a-b của trấn Kinh Bắc chứ không phải Hà Nội). Nhưng
chỉ có 12 dòng giữa, các dòng đầu và cuối không thấy dịch
Trang dịch 937: lại quay về Trấn Nam Định, tờ 28a-b;
xuất phát từ dinh Bạch
Hiến
|
937 dịch từ tờ 28 a
|
28 a
|
自憲營早發
|
xuất phát từ Hiến Doanh
|
Dịch giả đọc chữ Tự自 thành chữ Bạch白.
Trang dịch 946:
núi Ninh Hồ
|
946
|
34b
|
寧朔山
|
núi Ninh Sóc
|
Dịch giả đọc chức Sóc朔
thành chữ Hồ胡 .
Trang dịch 947:
từ ông Nguyễn Nhân Thất trở xuống
|
947
|
35b
|
自仁
浹公以下
|
Từ cụ Nhân Thiếp công trở xuống
|
Từ tờ 35 b nhảy qua tờ 36 b, bỏ qua bài thơ của Lê Quý
Đôn ở tờ 36a. Vì phủ Bắc Hà đã cắt lên trên rồi. Đoạn bị thiếu:
dịch giả bỏ không dịch
|
947
|
36a
|
|
|
仙遊四十三員桂陽二十九員大林萬雲桂堂公詩云:路達海濱魚價賤,地鄰陶治壅垣深.問津上下真如織,數得蠅頭幾苦心/ Huyện Tiên Du đỗ đạt có 43 người. Huyện Quế Dương đỗ
đạt 29 người. Còn các làng Đại Lâm, Vạn Vân nữa. Xưa quan Quế Đường có thơ rằng:
Đường ra đến tận biển, cá rẻ đầy; Đất lắm lò nung, tường gạch dày.Tên bến dưới
thuyền đông mắc cửi; Lãi mấy con ruồi khổ tâm thay.
Từ
trang dịch 947 trở đi, không nhầm thứ tự các tờ nữa, nhưng dịch sai, dịch bỏ. Như trang dịch 949:
trong xã hội có một người rất hùng dũng
|
949
|
39
|
有伊社人勇力絕倫
|
có người ở xã ấy có sức khỏe tuyệt luân
|
Trang dịch 958:
sau phân ra 50 người con trai cai trị đất này trở thành
thần núi Tản Viên
|
958
|
46b
|
生百子分治傘圓神乃歸山五十男之一
|
sinh
ra trăm con chia nhau cai trị, thần Tản Viên là 1 trong 50 người con lên núi
|
Trang
dịch 961:
Lê
Đĩnh ở làng Đoan Khách
|
961
|
49a
|
黎公鼎在端慶
|
ông Lê công Đỉnh ở đời (Mạc) Đoan Khánh
|
Tất cả các bản in đều bị thiếu tờ 52, bản của dịch giả
Phan Đăng cũng không có trang này. Duy còn các bản chép, trong đó bản R.1982 là
chép đủ.
崑山景物清幽,為陳冰壺公退休之所,林壑極佳 .文學則青林極多,至靈次之,清河,先明又次之.士習皆尚文雅,四民技藝亦多精巧 .崑山在支碍社,古屬京北鳳眼.形如麒麟山上有清虛祠 山下有漱
玉橋樹木陰森被極人間之勝陳朝法螺禪師築庵居之玄光禪師亦曾卓錫于此迨 後冰壺公退休觴詠其間浩然自適其外孫柳齋作歌以敘云
崑山有泉,其聲冷冷然,吾以為琴弦。崑山有,雨洗苔鋪碧,吾以為簞席。岩中有松,萬樹 翠盖 重,吾於是乎偃息其中。林中有竹,千畝印寒綠,吾於是乎吟嘯其側。
盖泼美其景也其次鳳凰山在傑特社古屬鳳眼山山峰拱立兩山開張如鳳舞形景亦幽邃陳朝紫極宮流光殿在此朱文貞亦于此隱居焉冰壺公詩云
雙鳳悠悠望查冥/鳳凰萬古藹芳名/麟峰塔列如虫影/虌嶺泉鳴作水聲/危磴經年蒼蘚冷/新橋帶露玉芝生/松風日燠喧空響/相似來儀奏九成
又云
春 日早移花影動/秋風遠送鶴聲求/流光殿下松千樹/盡是擎天一手栽/皆美其景之佳也
(冰壺公陳朝進
士陳元旦 )
山下井底有好硃軟如泥晒乾成硃[52b]Thiếu
Trang dịch 965:
Núi Cổ Trai
|
965
|
55a
|
為古齋左朝之山thực ra
không có núi ở Cổ Trai, mà nói là các núi chầu về đất Cổ Trai
|
là núi chầu về bên trái của xứ Cổ Trai
|
Trang dịch 969:
còn có tên là Xuyến Châu
|
|
58a
|
一名串珠
|
một tên khác là Quán Châu
|
Dịch giả đọc chữ
Hán theo nghĩa chữ: Quán nghĩa là Xuyến.
Trang dịch 970: Tương Châu鎮驩州/ Chữ Hoan đọc thành chữ Tương.
Trang dịch 972:
Sau ông được phong Đông Ngàn hầu, con cháu ông nhờ chế
độ giám sinh mà cũng được cầm quân trong nhiều trận cho đến hết đời Lê
|
972
|
59b
|
謂公後東岸侯亦以監生典兵累為閫帥至於黎末皆亡
|
Đây nói là hậu duệ của ông, có Đông Ngạn hầu cũng làm
Giám sinh mà cầm quân, nhiều phen trong trướng soái, đến cuối đời Lê đều mất
cả
|
Viết về Phạm Đình Trọng, thì ông này đã được phong Quận
công từ khi còn sống.
người ngựa nghe thấy đều tránh xa, chẳng ai dám đương địch,
nếu có ai gan dạ thì cũng bị đại đao chém chết
|
972
|
59b
|
官君人馬躃易走不及者皆被刀剉死
|
quan quân người ngựa khèo cả chân, ai chạy không kịp đều
bị đao quay chết
|
Trang dịch 972:
giặc này chỉ là sợi lông của nước Nam mà nay lại làm An
Ninh thần
|
972
|
60a
|
鯑賊為南國項羽也今為安寧神
|
giặc He thực là Hạng Vũ của nước Nam, vậy mà nay đã làm
thần Yên Ninh rồi
|
Trang này so sánh giặc He có sức mạnh như là Hạng Vũ của
nước Nam, vậy mà dịch giả dịch thành cọng lông của nước Nam. Nếu biến báo mà
coi giặc chỉ như bọn lông lá thì cũng đúng vậy.
Trang dịch 973 dịch về nhân vật lịch sử Phạm Tử Nghi thời
Mạc còn xuyên tạc hơn:
các tỉnh biên giới phải xin gia phong cho ông là Võ Quốc
công, mang chỉ xuống tận Nam Quan để nói với triều đình phong cho ông là An
Quốc vương, họ lại chặt lấy thủ cấp của giặc bỏ vào cái hòm rồi đặt trên cái
bè cho trôi đến sông Vĩnh Niệm
|
973
|
61a
|
公以兵破北朝外省牒移我國公詣南關請當刑以安國王北人貯尸首函中置江水上插一傘盖自此回至永念江分
|
ông đem quân đánh phá các tỉnh ngoài của Bắc triều. Văn
thư gửi sang nước ta. Ông lên cửa ải xin chịu tội để giữ yên cho vua ta. Người
phương bắc cất thi thể và đầu ông vào hòm để trên sông, trên có cắm lọng che.
Từ đấy trôi về địa phận sông Vĩnh Niệm
|
Các
trang dịch 977, 979 thê thảm không biết dịch giả lấy câu chữ nguyên văn ở đâu
ra để dịch, và những chữ đúng trong nguyên văn thì dịch giả bỏ đi đâu:
có bọn
Cảo Khiêm tung hoành trong vùng 7 châu, mãi cho đến khi chúng chết thì vùng đất
ấy mới thuộc vào nội địa
|
977
|
3aq2
|
存嵩謙等七州沒入內地
|
còn 7 châu Tung, Khiêm nhập vào nội địa
|
Công Chất đã chết, con của y sợ bỏ chạy
|
979
|
5aq2
|
公質已死子公瓚惶恐既走
|
Công Chất đã chết, con là Công Toản sợ chạy
|
đồng thời dân trong 7 châu phải chịu sự cai quản của
quan trấn, người nào không nghe theo phép nước quá 3 lần có thể cho phép quan
binh tùy nghi xử liệu, dân miền núi phải làm nhà và lập làm xã ấp, không được
sống tự tiện nay đây mai đó. Các quan phủ huyện phải thân chinh đi khám xét
thường kỳ.
|
979
|
5bq2
6aq2 không hiểu nổi dịch giả dịch từ đâu ra?
|
後公瓚內投七州之民嵩陵醴泉黃岩綏阜合肥萊州謙州凡七州以地勢遼遠略緣內附於是內地縣官概行征繕
|
sau Công Toản đem dân 7 châu nhập vào Nội địa, là 7
châu Tung Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng
Nham, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu,
Khiêm Châu), lấy cớ đường núi xa khó, dần quay về nội địa. Huyện quan trong nội
địa làm đại thể cứ nối thu ghi vào.
|
Trang dịch 988 :
Thanh vương thân chinh cầm 6000 quân đi đánh dẹp
|
988
|
14bq2
|
清王親率六軍進討
|
chúa Trịnh Thanh vương thân cầm Lục quân đi đánh
|
Mạc Kính Vũ đầu hàng nhà Thanh rồi đổi tên hiệu
|
988
|
15aq2
|
敬宇降于清改號敬曜
|
Mạc Kính Vũ hàng nhà Thanh, rồi đổi hiệu là Kính Diệu
|
Chúa Trịnh đem Lục quân đi đánh, theo nghĩa từ điển, mỗi
1 quân軍 là 125000 người,
mà dịch thành 6000 quân thì khó nghĩ quá. Còn tên giả của Mạc Kính Vũ, chắc chắn
là tên giả nên người dịch đã lược đi rồi.
Trang dịch 989: khi biện luận với sứ nhà Thanh về đất Cao
Bằng. Bên ta xin sứ về tâu lại với Thiên triều về tình hình họ Mạc. Dịch giả lại
lượn 1 phát theo văn nói:
tố cáo ngược đời
|
989
|
15bq2
|
請還誥之
|
xin về tấu lại
|
Trang
dịch 997: về thần núi Đồng Cổ, vốn đã nhắc ở mục Hà Nội. Nay ở mục Thanh Hóa nhắc
lại.
thần
lại báo mộng cho biết ba vị tướng âm mưu làm phản khó mà dẹp yên, nhà vua xuống
chiếu phong thần núi làm tước vương để cầu an cho thiên hạ
|
997
|
22bq2
|
復托夢告以三王謀返事至難平詔為天下主盟神封王爵
|
thần lại báo mộng sự mưu phản của 3 Vương, đến khi nạn
được bình, xuống chiếu phong làm Thiên hạ minh chủ, tước Vương
|
Và bỏ luôn phần viết về núi An Hoạch sơn ở Thanh Hóa tờ
22bq2, hay là bản của Viện H.V.L không có đoạn này:
dịch giả bỏ
không dịch
|
997
|
22bq2
|
|
|
安獲山在安獲社銳村山石極美碑碣石磬多用此壙輿地誌云交趾東山縣安獲山出美石晉预州太守范甯常遣吏於此取石為磬/Núi
An Hoạch sơn ở thôn Nhuệ, xã An Hoạch. Đá núi này cực đẹp, dùng làm bia kệ, làm
khánh đá đều dùng loại này. Sách Quảng
Dư địa chí chép rằng: « Núi An Hoạch huyện Sơn Đông ở Giao Chỉ, có loại đá
đẹp. Đời Tấn, quan Thái thú Dự Châu là Phạm Ninh thường sai viên lại đến đây lấy
đá về tạo khánh ».
Nếu nói văn bản không có thì không
đúng, vì cùng 1 tờ trước có đền Đồng Cổ, sau có động Hồ Công vẫn dịch đủ kia
mà! Dịch giả đã tự tiện
cắt bỏ?.
Trang dịch 1016: viết về Lê Khôi là con của anh trai Lê Lợi,
gọi Lê Lợi bằng chú
vương là con thứ hai của vua Lê Thái Tổ
|
1016
|
36aq2
|
王乃太祖兄仲子
|
vương là con thứ 2 của anh trai Lê Thái Tổ
|
Các trang dịch 1026, 1028: dịch sai ngược, bớt luôn ý văn
Qua đời người em là Lư Cầm Hương thì không còn thế tập
nữa
|
1026
|
45bq2
|
其弟盧琴香繼襲
|
người em là Lò Cầm Hương nối chức
|
ủy thác cho cựu xà là Lư Cầm Hương và Lư Cầm Uẩn quản
lý việc phủ như cũ
|
1028
|
47bq2
|
委鎮寧舊蛇盧琴香之姪盧琴蘊管理府事
|
ủy thác cho cháu của người Xà cũ Lò Cầm Hương là Lò Cầm
Uẩn quản lý việc trong phủ
|
Từ thống kê kể trên, chúng tôi cho rằng
bản dịch của Phan Đăng năm 1997 cũng như bản mới 2012, đều là những bản dịch
suông, không có người kiểm tra hiệu đính. Dịch giả đã không tiến hành nhiều
thao tác văn bản kỹ lưỡng, như phân loại, đối chiếu tham khảo các thư tịch liên
quan để khắc phục những sai nhầm của nguyên bản. Kiến thức về văn tự, ngữ pháp
còn hạn chế, nhất là về chữ Nôm. Hiểu biết về địa lý, lịch sử, văn hóa cũng thiếu
thốn. Tuy năm 2012 có bổ sung chú thích nhưng cũng không đủ, thậm chí còn thiếu
chính xác. Việc thiếu sót phần nguyên văn là khuyết điểm không nhỏ, vì các nhà
nghiên cứu sẽ không thể đối chiếu được bản dịch có chính xác hay không. Khi dịch
không phân ngắt rõ ràng các phân mục, giới thiệu thứ tự các phân mục, đánh số
trang để đối chiếu. Nên khi không biết tra cứu vào đâu. Thiếu phần Sách dẫn
nhân danh, địa danh. Cần thiết phải bổ sung sửa chữa. Lần giới thiệu đầu tiên
năm 1997, dịch giả đã khiêm tốn thừa nhận “vẫn còn nhiều sai sót, rất mong bạn
đọc chỉ giáo“. Đến năm 2012 dịch giả cũng lặp lại sự khiêm tốn của mình. Chúng
tôi mong rằng lần tái bản tới sẽ là một HVĐDC hoàn chỉnh đẹp đẽ và ít nhầm lẫn
hơn.
Leipzig 28/2/2021.
Thư mục tham khảo:
1. 皇 越 地 夷 輿 誌 (bản chữ Hán), VNCHN, TVQG.
2. Lịch triều hiến chương loại chí
- Dư địa chí. (Bản dịch), Nxb. KHXH, H. 1992.
3. Từ điển di tích lịch sử văn hóa
Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên. Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2003.
4. Đại Nam nhất thống chí. (Bản
dịch), Nxb. Thuận Hóa, 2002.
5. Tên làng xã Việt Nam, Dương Thị The
- Phạm Thị Thoa dịch, Nxb. KHXH, H. 1982.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, (Bản dịch),
Nxb. KHXH, H.1998.
7. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam
qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, 2000.
8. Các nhà khoa bảng Việt
Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. VH, 1997.
9. Niên biểu các triều đại Việt
Nam, Nxb. Sở VH - TT, H. 1987.
10. Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho
sách Hán Nôm, Nxb. KHXH, H. 1972.
https://vnexpress.net/ra-mat-tong-tap-du-dia-chi-viet-nam-1970817.html
https://plo.vn/xa-hoi/du-dia-chi-viet-nam-tong-tap-nua-voi-384574.html
https://laodong.vn/archived/tong-tap-du-dia-chi-viet-nam-cong-cu-bao-ve-lanh-tho-722698.ldo
https://lib.nomfoundation.org/site_media/nom/nlvnpf-0108/large/nlvnpf-0108-005.jpg
https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/53440