Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Dương Lâm/Bắc Kỳ châu quận canh hoán phân hợp phú楊林、北圻州郡更換分合賦。VHB283

Tiếp theo bài Thay đổi địa dư Bắc Kỳ - Hoài cảm của một nhà Nho
http://yeuhannom.blogspot.de/2013/12/thay-oi-ia-du-bac-ky-hoai-cam-cua-1-nha.html
Chúng tôi đã giới thiệu bản dịch của Nghiêm Thị Thanh Huyền- Nguyễn Đức Toàn. 
Nay có điều kiện chúng tôi công bố nguyên văn ảnh chụp Bắc Kỳ châu quận canh hoán phân hợp phú của nhà Nho Dương Lâm. 






























Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Bài thơ Thăm chùa Yên Tử

Bài thơ Thăm Chùa Yên Tử, là một bài thơ Nôm viết lối chữ thảo, thác bản mang ký hiệu 47807 hiện ở Viện nghiên cứu Hán Nôm. 
Thể loại thơ thuộc dạng thơ mới không phải Cổ thi, chắc được một người có Hán học đề khắc gần đây. 
Vì anh em đồng đạo hỏi han cùng phân tích trên Facebook để giải mã phiên âm bài này. Tôi cũng mạo muội mà copy đăng lên yeuhannomblog để làm tài liệu lưu trữ lâu dài. Theo cách giải và phân tích của những người hiểu biết tự Phiên âm theo. Chữ tên Tác giả còn mờ, không dám chắc, nhưng nét bút (cảm nhận cá nhân) thuộc hệ phái của Thanh Hoằng khê Lê Xuân Hòa (ai biết xin sửa cho- xin cám ơn)
Thăm chùa Yên Tử
Người xưa ngôi báu cũng tung hê,
Tùng cước non Yên quảy níp về.
Vạn sự thủy lưu thủy chẳng biết,
Bách niên tâm ngữ tâm còn nghe.
Bỏ ngôi phàm tục lên ngôi phật,
Đắm bến giàu sang dạt bến mê.
Dẫn dụ non thiêng trùm kiếm khí,
Anh hồn phảng phất khói uy nghi.
                                              Mộ Thanh cung đề
Màu vàng là những chữ còn tồn nghi.
Có người đọc câu 2: Tùng ắng non yên quảy níp về
Bút chú lề thác bản: Chùa Giải Oan, thôn Nam Mẫu, xã Thượng Yên Công. (Uông Bí. Quảng Ninh)

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Giải thích về 3 loại chữ trong tiếng Nhật. (Nguồn từ akira.edu.com)

Nguồn từ:
Bạn thắc mắc tại sao trong tiếng Nhật lại có 3 loại chữ? Tại sao người ta lại phải sử dụng nhiều loại chữ như vậy? Hãy cùng Akira tìm hiểu nhé!
Chữ viết không phải là thứ có vai trò chính để ghi lại phát âm, mà vai trò chính là để đọc. Đọc chữ kanji (hay chữ Hán) sẽ nắm bắt được ý nghĩa nhanh hơn nhiều so với đọc chữ la tinh. Trong các ngôn ngữ châu Âu, tiếng Anh và tiếng Pháp không phải là ngôn ngữ ký âm (ghi lại đúng cách phát âm). Một từ tiếng Anh hay tiếng Pháp nếu bạn muốn biết cách đọc bạn phải tra từ điển (Ví dụ Monica phải đọc là Mo-nơ-cờ với trọng âm là “Mo”). Thế kỷ 18 đã có phong trào đòi cải cách tiếng Anh và tiếng Pháp sao cho cách viết đúng với cách phát âm, nhưng đều thất bại. Tương tự với tiếng Trung, người ta cố cải cách bằng cách bỏ chữ tượng hình và thay vào ký âm la tinh nhưng phần lớn độc giả đọc đều không hiểu hoặc với tốc độ rất chậm.
Tiếng Việt là ngoại lệ vì phát âm tiếng Việt phong phú hơn nên ít gây hiểu lầm khi đọc hơn, tuy nhiên do không biết mặt chữ Hán nên nhiều người không giỏi tiếng Việt cũng như không biết nguồn gốc các từ trong tiếng Việt. Nếu bạn biết chữ Hán thì các bạn có thể thấy những từ như “quần”, “áo” cũng là chữ gốc hán, hay chữ “cắt” từ chữ “cát”, “thêm” là từ chữ “thiêm” (thêm vào) mà ra.
Chữ Kanji và Hiragana trong tiếng Nhật
Từ xưa học tiếng Nhật ban đầu dùng chữ kanji để viết nhưng chữ kanji bộc lộ một số hạn chế, đó là trong khi tiếng Hán là tiếng đơn âm thì tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp vá phải ghép vài âm tiết mới thành một từ, và từ này khi chia quá khứ, hiện tại, tương lai thì lại khác nhau. Do đó họ phải thêm vào chữ Hiragana để tiện việc chia như vậy. Tiếng Nhật sử dụng kết hợp chữ kanji để ghi ý nghĩa và chữ Hiragana để thực hiện chức năng ngữ pháp, ví dụ với từ “ăn” sẽ có các từ sau:
食べる:Ăn
食べた:Đã ăn
食べて:Hãy ăn (sai khiến)/ <Thể liên kết>
食べている:Đang ăn
食べられる:Bị ăn
食べさせる:Bắt ăn / Cho ăn
食べさせられる:Bị bắt ăn
Bằng cách sử dụng chữ Kanji và Hiragana như trên hệ thống chữ viết tiếng Nhật vừa đơn giản, vừa dễ hiểu mà vẫn thực hiện đầy đủ chức năng ngôn ngữ của nó.
Chữ Hiragana được tạo ra thế nào?
Nếu là bạn thì bạn sẽ tạo ra chữ hiragana thế nào?
…..
Đây là cách mà người Nhật làm:
Họ lấy chữ kanji mà có âm (kun’yomi hay on’yomi) bắt đầu bằng âm mà họ muốn tạo (ví dụ “to”, “ta”, …) rồi đơn giản hóa nó đi sao cho dễ viết.
Ví dụ để tạo chữ “to” thì họ dùng chữ 止る (“tomaru”) và đơn giản hóa thành:
止(とまる)  と
Các ví dụ khác:
世(せ)  せ
天(てん) て
利(り) り
安(あん) あ
由(ゆ) ゆ
太(た) た
也(や) や
Tên gọi Hiragana (平仮名) gồm có “hira” (bình) và “gana” (giả danh, nghĩa là “tên mượn tạm”) có nghĩa là chữ mượn tạm bằng cách làm đơn giản hóa (làm bằng xuống).
Sao không sử dụng toàn bộ là chữ Hiragana cho đơn giản và đỡ phải học chữ kanji?
Lý do khá đơn giản: (1) Dùng chữ kanji giúp việc đọc hiểu trở nên cực kỳ dễ dàng, (2) Chữ Hiragana không sẽ khó đọc vì không biết từ bắt đầu và kết thúc ở đâu, (3) Chữ kanji không hề khó học.
Các bạn hãy xem 2 câu sau:
ははははなをかった。
たかがはらはなかがわらえきでさんぽしていた。
Việc phân biệt từ nào với từ nào cũng đã là việc khá khó khăn và mất thời gian. Nếu sử dụng kanji thì mọi việc trở nên đơn giản hơn rất nhiều:
母は花を買った。
高河原は中河原駅で散歩していた。
Nhưng trong ngôn ngữ nói có dùng chữ kanji đâu mà vẫn hiểu nhau?
Bởi vì ngôn ngữ nói có nhịp điệu và có sự ngắt âm phù hợp giúp người nghe có thể phân biệt rõ ràng các từ với nhau.
Ví dụ câu trên có thể ngắt như sau:
Haha wa, hana wo, katta.
Takagahara wa, Nakagawara eki de, sanpo shite ita.
Ngoài ra nhịp điệu trong ngôn ngữ nói là thứ quan trọng giúp truyền đạt điều muốn nói.

Chữ Katakana trong tiếng Nhật
Chữ Katakana (片仮名, kata (“phiến”, một phần) + tên tạm) là chữ được tạo ra bằng cách lấy một phần (kata) của chữ kanji để làm “chữ viết tạm Katakana”.
Chữ Katakana dùng để phiên âm tiếng nước ngoài (những chữ không có chữ kanji tương ứng) để khi đọc sẽ dễ hiểu hơn. Ví dụ:
ベトナム:Việt Nam
オーストラリア:Australia
コミュニケーション:Communication
インターネット:Internet
チョコレート:Chocolate (sô cô la)
Chữ Katakana dùng phiên âm tên riêng (tên địa danh, tên người) hay dùng phiên âm các thuật ngữ tiếng nước ngoài. Nếu viết bằng Hiragana thì sẽ rất khó hiểu vì người đọc sẽ tưởng đó là tiếng Nhật và cố suy diễn ra tiếng Nhật. Ví dụ nếu viết là:
おおすとらりあ、こみゅにけえしょん、いんたあなしょなる
thì sẽ khó đọc hơn rất nhiều nếu biết trước đó là từ mượn từ tiếng nước ngoài:
オーストラリア、コミュニケーション、インターナショナル
Chữ Katakana còn dùng để …
(1) Nhấn mạnh:
Chữ Katakana cũng như chữ viết hoa trong tiếng Việt, dùng để nhấn mạnh. Ví dụ:
Anh ta là KẺ LỪA ĐẢO.
彼はサギシです。(彼は詐欺師です。)
(2) Tên động vật:
Con người: ヒト(人)
Khỉ: サル(猿)
Vịt: カモ(鴨)
Vẹt: オウム(鸚鵡, anh vũ)
Nhiều tên động vật không thể dùng chữ hán tự (kanji) hay phải dùng chữ kanji quá phức tạp nên tiếng Nhật thường dùng chữ Katakana khi viết tên động vật.
(3) Tên thực vật:
Sắn: キャッサバ (cassava)
Điều: カシューナッツ (cashew nuts)
Mía: サトウキビ (砂糖黍)
Cao su: ゴムの木
Oải hương: ラベンダー
Bồ công anh: タンポポ(蒲公英, bồ công anh)
Bách hợp: ユリ(百合, bách hợp)
Cà chua: トマト
Khoai tây: ポテト
Sen: ハス(蓮)
Cà tím: ナス(茄子)

Chúc các bạn mới bắt đầu học tiếng Nhật sẽ hiểu hơn và học tốt cả 3 loại chữ Kanji, Hiragana, Katakana nhé.
Bảng 2 hệ chữ đối chiếu
Bảng đối chiếu Hán - Nhật



Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Bàn A sơn - Núi Bàn A

Đăng lại nguyên văn thác bản bài ký Núi Bàn A tiếp theo bài của 

NGÔ ĐỨC THỌ: Chùm thơ ``Tổ ngắm sóng núi Bàn A 盘阿山观澜巢诗``của Tiến sĩ Ngô Phúc Lâm. 

http://yeuhannom.blogspot.de/2014/07/ngo-uc-tho-chum-tho-to-ngam-song-nui.html

Chúng tôi bổ sung ảnh nguyên văn thác bản. Bản dịch thô sơ nhiều chữ xa khó nhận ra, xin tạ người cao minh có lòng soi cho.
BÀN A SƠN/ Núi Bàn A
Núi cao 11 trượng 8 thước, chu vi 212 trượng. Giữa thời Cảnh Hưng, Tiến sĩ khoa Bính tuất (1766), người Tả Thanh Oai là Ngô Thì Sĩ làm quan ở đây, mới nhân tên núi mà viết nhan bia. Tức giữa chỗ bàn đá ấy làm cái tổ, gọi là Quan Lan. Khắc bài minh và nêu ra mười cảnh, phổ thơ. Lại còn các chỗ gọi là Nghênh Huân, Việt tiên tỉnh,Thạch Viên thần, bên trên là vậy.
Mười cảnh đẹp là:
1. KHÁNH BẰNG LIỆT CHƯỚNG慶鵬列障(Núi Bằng Trình xã Đại Khánh chăng dãy)
2. LƯƠNG MÃ SONG PHÀM梁馬雙帆(Buồm đôi sông Lương sông Mã)
3. THẠCH TƯỢNG DỤC HÀ石象浴河(Voi đá tắm sông)
4. LĨNH QUY XUẤT THUỶ   (Rùa núi rẽ nước)
5. CỔ ĐỘ KỲ ĐÌNH   (Đài cờ bên bến cổ)
6. VIỄN SẦM YÊN THỤ    (Cây khói gò xa)
 7. CÔ THÔN MAO XÁ孤村茅舍(Lều tranh thôn vắng)
8. CÁCH NGẠN THIỀN LÂM    (Chùa bên kia sông)
9.  SƠN HẠ NGƯ KY    (Tảng đá ngồi câu dưới núi)
10. GIANG TRUNG MỤC PHỐ   (Bãi tắm trâu bên sông)
Bên trái là trùm 10 bài ngắm sóng. Mùa đông năm Mậu tí (1776 ), các việc khắc thành.

Đại Khánh thôn tiền Đại Khánh sơn,
Sơn tiền tuấn bích khải thiền quan.
Kim thân bán hiện khan triều đại,
Cổ đạo tà lâm dịch thế gian.
Trác tích tăng bàn nguy thạch tọa,
Thúc tân tiều phụ tịch dương hoàn.
Trùng du ức khởi niên tiền sự,
Lăng cốc vô cùng nhất ỷ lan.
Tân dậu mạnh hạ, Mang chủng hậu nhị nhật. Đông Sơn An Hoạch, Dương Xuyên hầu Trần thư
Dịch nghĩa:
Trước thôn Đại Khánh núi Đại Khánh,
Trước núi vách đá mở cửa thiền.
Thân vàng[1] nửa hé soi triều đại,
Đạo cổ về tà đổi thế gian.
Dấu trượng tăng xưa ngồi bàn đá,
Tiều phu ghánh củi cảnh chiều tàn.
Về chơi lại nhớ chuyện năm cũ,
Vô cùng hang núi[2] dựa lan can.
Đầu hè năm Tân dậu (), sau tiết Mang chủng hai hôm. Đông Sơn An Hoạch, Dương Xuyên hầu Trần viết.
Dịch thơ:
Đại Khánh thôn, Đại Khánh sơn,
Trước non vánh đá thiền quan dựng rồi.
Thân vàng triều đại ghe soi,
Đạo xưa nghiêng đổi chuyển dời thế gian.
Dấu tăng bàn thạch vẫn còn,
Tiều phu ghánh củi trên non cảnh chiều.
Về chơi chuyện cũ bao nhiêu,
Tựa hiên ngắm cảnh mỹ miều núi non.

Taucha.BRD. Tiết Phục sinh 2015
Vương Gia Miện 王加冕




[1] Thân vàng: chỉ tượng Phật.
[2] Dịch từ lăng cốc陵谷。Nói cảnh núi hang động bờ bãi cao sâu vô cùng thú vị.