Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh高平省首憲列芳名

Tư liệu sưu tầm
Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh高平省首憲列芳名
(Bài gửi cho Tạp chí Hán Nôm 2017)
Nguyễn Đức Toàn[1]
Tóm tắt:
Từ năm 2001, qua công tác dịch vụ chung, chúng tôi được tiếp cận với nhiều tài liệu Hán Nôm liên quan đến Cao Bằng. Phần lớn những văn bản này được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm và một số thư viện khác. Song, đặc biệt có một văn bản mới sưu tầm được và chưa từng được công bố. Đây là một tập ghi chép về địa chí – lịch sử - văn hóa – phong tục của tỉnh, được chép lại khá cẩn thận với nét bút sắc sảo của người thạo chữ. Qua bản sao photo không đề tên, chúng tôi đã theo dòng tiêu đề đầu tiên tạm gọi văn bản này là Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh高平省首憲列芳名. Chúng tôi đã tiến hành thẩm định, khảo sát văn bản để phiên âm, dịch nghĩa cho công trình chung và nay  xin được giới thiệu tư liệu này trên Tạp chí Hán Nôm.

Tiêu đề bài viết tiếng Anh:
New Primary Sources Review: Introduction to a manuscript temporarily titled A Name List of Governors of Cao Bang Province

Tóm tắt tiếng Anh
Abstract: Since 2001, reserachers of the Institute of Han-Nom Studies have chanced to access many materials relating to Cao Bang provinces, thanks to the public service of the Institute. Many collected texts have been stored at the Institute of Han-Nom Studies or some other research libraries. However, a new-discovered manuscript has never been introduced. This text records much information relating to geography, history, culture and the customs of Cao Bang province. That the manuscript was carefully copied indicates that the copier must have been fluent in classical Chinese. Based on the information on the first page of the manuscript, we temporarily named it A Name List of Governors of Cao Bang Province. We carried out a preliminary investigation of the text and produced an annotation translation of it. Here we would like to introduce this source to the readers of the Journal of Han-Nom Studies.


∞…∞…∞
Ca dao xưa có câu
Nàng về giã gạo ba giăng,
Để anh ghánh nước Cao Bằng về ngâm.
Hoặc câu:
Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi chảy nước non Cao Bằng.
Những câu ca dao cổ có nhắc đến Cao Bằng, như là một vùng biên cương trọng yếu, theo quan niệm của dân gian là nơi xa lắc, núi cao rừng sâu. Nơi có nhiều sắc dân tộc quần cư chung sống. Sát biên giới Việt Trung, chịu chung ảnh hưởng văn hóa từ các dân tộc pha trộn, từ Tày, Nùng, Thái, Mèo, Dao, cả người Hoa đến buôn bán nữa. Các ghi chép cổ về Cao Bằng là những tư liệu quý để tìm hiểu văn hóa lịch sử vùng này. Qua công tác dịch vụ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi được tiếp cận với nhiều thể loại văn bản Hán Nôm khác nhau có ghi chép về Cao Bằng như gia phả, sắc phong, văn bia, địa chí, trong số đó, có những văn bản có giá trị văn học, phả học, sử liệu học, địa dư, … Nhận thấy những văn bản có giá trị, chúng tôi đã sao chụp lại để nghiên cứu. Chúng tôi xin được giới thiệu một Văn bản mới được sưu tầm nhằm, bổ sung tư liệu cho nghiên cứu về Cao Bằng. Đây là một tập ghi chép về địa chí, lịch sử, văn hóa, phong tục của tỉnh, được chép lại khá cẩn thận. Theo dòng tiêu đề đầu tiên, chúng tôi tạm lấy đề danh cho văn bản này là Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh高平省首憲列芳名. Chúng tôi xin được giới thiệu tư liệu này trên Tạp chí Hán Nôm, với những khảo sát văn bản bước đầu.
Mô tả văn bản:
Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh高平省首憲列芳名là một văn bản chép tay có khổ 28 x 17 cm. Theo thông tin trong văn bản cho biết, sách bao gồm 72 tờ (144 trang), cộng với 2 tờ lót bìa có tiêu đề, tổng cộng 74 tờ (148 trang). Sau khi khảo sát, phiên âm, dịch nghĩa, chúng tôi nhận định đây là một văn bản còn nguyên vẹn, được chép lại vào năm 1955, tức năm tiếp quản đầu tiên của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Lối chữ phóng hành, sắc nét, đều tay của người chép văn bản chứng tỏ đây là bản sao của một người thông thạo chữ Hán. Điều này có nghĩa là bản chép này, không phải loại sách chép thường thấy của Hoch viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp.
Tờ lót đầu tiên có thể tính là tờ bìa, với 3 dòng tiêu đề như sau:

Bìa 1

高平省首憲列芳名Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh,
重慶府上琅州印務列芳名Trùng Khánh phủ Thượng Lang châu Ấn vụ liệt phương danh,
蒙仕承抄籙高平三忠事跡編置Mông Sĩ thừa sao lục Cao Bằng Tam trung sự tích biên chí.
Mặt sau đề ba chữ to: 蒙蘇陳Mông Tô Trần (Hiện nay chúng tôi vẫn chưa xác định được đây là tên tác giả, tên của người chép sách, hay tên hiệu của ai).


Tờ kế bên ghi những thông tin như sau: 西一千九百五拾五年又越南民主共和拾一年Tây nhất thiên cửu bách ngũ thập ngũ niên, hựu Việt Nam dân chủ cộng hòa Thập nhất niên (Tây lịch 1955, cũng là năm Việt Nam dân chủ cộng hòa thứ 11)[2].
Tờ lót thứ hai: 一千九百五拾五陽曆承抄真本Nhất thiên cửu bách ngũ thập ngũ Dương lịch, thừa sao chân bản (Dương lịch năm 1955, thừa chép nguyên bản).
蒙仕抄置抄籙真本Mông Sĩ sao chí sao lục chân bản(Mông Sĩ chép từ chân bản).[3]

Tờ lót trong
Tờ chính văn 1a

Thông tin trên tờ 1a chính văn bao gồm: a)tổng số tờ sao chép: 合共內紙字柒拾貳張合寫Hợp cộng nội chỉ tự: Thất thập nhị trương hợp tả(Gộp cả giấy chữ bên trong: gộp chép là 72 tờ); b) một ghi chú cho biết總錄亦有Tổng lục diệc hữu (Phần Tổng lục cũng có), nhưng nội dung văn bản không thể hiện là những phần cụ thể nào mà chỉ chép sơ lược độ 7 dòng nói là theo sách 天文志Thiên văn chí, với nội dung đề cập đến hình thế cương vực nói chung như: Trời có Sông Ngân hà, dưới đất có ngũ hồ, tứ hải,… ; Mặt sau của tở 1 a này ghi tên 4 vị thánh bất tử của An Nam: Tản Viên, Liễu Hạnh, Lê Mãi đại vương, Hưng Đạo đại vương[4].

Tờ 1b
Tờ 2a
Tờ 2b
Tờ 3a
         
Ở tờ 2a, sách ghi: 承抄錄皇帝南國名號Thừa sao lục Hoàng đế Nam quốc danh hiệu. Đây là phần ghi lại danh hiệu các vua nước Việt từ Gia Long trở đi, cộng cả thời Dân chủ cộng hòa là 12 đời[5].
Tờ 2b ghi:重慶府上琅州印務列芳名Trùng Khánh phủ Thượng Lang châu Ấn vụ liệt phương danh, tức là danh sách tên các quan làm Ấn vụ ở châu Thượng Lang phủ Trùng Khánh từ năm 1888 đến năm 1941. Danh sách này gồm 20 người, bao gồm: Đoàn Tài/ Tri phủ 1888, Nguyễn Lương/ Tri phủ 1890, Ngọc Văn Khôi/ Tri Châu 1894, Nùng Văn Hãnh/ Tri châu 1899, Nguyễn Xuân Kiệt/ Tri châu 1901, Nguyễn Tạc/ Tri châu 1904, Hoàng Quang Đạo/ Tri châu 1906, Ngô Phong/ Tri châu 1907, Bế Đức Long/ Tri châu 1910, Nùng Ích Lang/ Tri châu 1911, Hà Vũ Bằng/ Tri châu 1913, Hà Văn Ngang/ Tri châu 1917, Hoàng Huy Dao/ Tri châu 1919, Đỗ Văn Bình/ Tri phủ 1932, Vũ Đức Phượng/ Tri phủ 1934, An Văn Trọng/ Tri châu 1937, Nguyễn Văn Ích/ Tri phủ 1939, Bùi Văn Tháp/ Tri phủ 1941, Vũ Xuân Bình/ 1943.
Cũng trong tờ 2b, ta còn đọc được tên của 11 châu thuộc phủ Trường Khánh tỉnh Lạng Sơn.
Tờ 3a: 高平省首憲列芳名Cao Bằng tỉnh Thủ hiến liệt phương danh.
Đây là mục ghi tên các quan cai trị, làm Thủ hiến ở Cao Bằng từ năm 1885 đến năm 1943, gồm 25 người. Danh sách này bao gồm là: Nguyễn Hữu Đôn/ Án sát 1885, Phạm Văn Khôi/ Bố chính 1887, Trần Văn Ái/ Bố chính 1889, Trần Văn Vi/ Bố chính 1889, Nùng Ngọc Tường/ Bố chính 1891, Nguyễn Lương/ Án sát 1904, Bế Thụy/ Án sát 1909, Đinh Văn Hiếu/ Quyền Án sát 1911, Trần Gia Du/ Án sát 1912, Vi Văn Định/ Án sát 1914, Phạm Bá Dung/ Án sát 1921, Vi Văn Định/ Tuần án 1922, Bùi Huy Tiến/ Tuần án 1923, Nguyễn Tất Tế/ Tuần án 1924, Nghiêm Xuân Quảng/ Tuần án 1925, Nguyễn Đạo Tấn/ Tuần án 1927, Bùi Bằng Đoàn/ Tuần án 1928, Mai Toàn Xuân/ Tuần án 1928, Vũ Tuân/ Bố chính 1930, Bùi Bằng Đoàn/ Chính án 1932, Trần Hữu Đại/ Chánh án 1933, Phạm Văn Hanh/ Chánh án 1934, Đỗ Văn Bình/ Quyền Bố chính 1935,Vũ Đức Phượng/ Bố chính 1937, Nguyễn Bách/ 1943.
Từ tờ 5a trở đi, nội dung sách mới chính thức đi vào những mô tả ghi chép địa chí – lịch sử - văn hóa – phong tục của tỉnh Cao Bằng. Chúng tôi đã khảo sát và chia tách thành 4 mục lớn:1. Địa chí, 2. Cư dân phong tục, 3. Thần từ cổ miếu tích, và 4. Giải độc chỉ nam. Chúng tôi khảo sát các tiểu mục, thống kê được như sau:

1.Địa chí: 7 mục
1.                 屯堡府州總社名號Đồn bao phủ châu tổng xã danh hiệu: Tên các Đại lý, châu phủ, tổng, xã thuộc tỉnh Cao Bằng, có chép diện tích dân số toàn tỉnh.
2.                 建置沿革Kiến trí diên cách : Diên cách tỉnh Cao Bằng.
3.                 甲界省地分Giáp giới tỉnh địa phận: địa giới giáp gần tỉnh
4.                 名山Danh sơn : Núi lớn
5.                 大川Đại xuyên: Sông lớn
6. 名岩Danh nham: Hang nổi tiếng
7.人種Nhân chủng: Tộc người, bao gồm ghi chép về 7 tộc người

2.Cư dân phong tục: bao gồm các ghi chép về nghề nghiệp, tôn giáo, trang phục của người bản địa, tổng có 14 mục(người Thổ, Nùng, Ngạn, Mán Tiền, Mường Khao, Mán Cóc, Mường Mèo)
1.                 土人婚嫁俗Thổ nhân hôn giá tục: Phong tục cưới gả của người Thổ[6]
2.                 土人喪祭俗Thổ nhân táng tế tục: Phong tục chôn cất của người Thổ
3.                 土人交遊俗Thổ nhân giao du tục: Phong tục kết giao của người Thổ
4.                 土人節序Thổ nhân tiết tự: Ngày tết của người Thổ
5.                 土人奇病Thổ nhân kỳ bệnh: Các bệnh lạ của người Thổ
6.                 儂人藝業家居服飭飲食Nùng nhân nghệ nghiệp phục sức, gia cư, ẩm thực: Ăn uống, sinh hoạt, trang sức của người Nùng[7]
7.                 儂人冠婚俗Nùng nhân quan hôn tục: Phong tục cưới gả của người Nùng
8.                 彥人風俗Ngạn nhân phong tục: Phong tục người Ngạn – giống người Thổ[8]
9.                 蠻錢藝業家居服飭飲食言語Mán Tiền nghệ nghiệp gia cư phục sức ngữ ngôn ẩm thực: Ăn uống, sinh hoạt, ngôn ngữ, nhà ở, nghề nghiệp của người Mán Tiền[9]
10.            亻芒皜婚俗Mường Khao hôn tục: Phong tục cưới gả của người Mường Khao[10]
11.            𧋉藝業家居服飭飲食言語Mán Cóc nghệ nghiệp gia cư phục sức ẩm thực ngôn ngữ: Ăn uống, sinh hoạt, ngôn ngữ, nhà ở, nghề nghiệp của người Mán Cóc[11]
12.            亻芒描家居服飭飲食言語Mường Miêu gia cư phục sức ẩm thực ngôn ngữ: Ăn uống, sinh hoạt, ngôn ngữ, nhà ở, nghề nghiệp của người Mường Mèo[12]
13.            技藝Kỹ nghệ: Các nghề, các sản vật ở Cao Bằng
14.            異端Dị đoan : Các thầy phù thủy

3.Thần từ cổ miếu tích: Các sự tích đền miếu:
1.                 除怪安民陳貴陳正婆寧傳Trừ quái an dân Trần Quý – Trần Chính – Bà Ninh truyện
2.                 神衣立功Thần y lập công: Quan Triều truyện
3.                 儂土謀宋Nùng Thổ mưu Tống: Nùng Trí Cao truyện
4.                 石人顯靈Thạch nhân hiển linh: Giang Động truyện
5.                 黃陸衛民Hoàng Lục vệ dân
6.                 那侶古城Na Lữ cổ thành
7.                 復和古城Phúc Hòa cổ thành
8.                 二符祠Nhị Phù từ: Phù Thắng – Phù Thiết truyện
9.                 莫氏公主Mạc thị công chúa
10.            蘇貴祠Tô Quý từ
11.            平民公主Bình dân công truyện
12.            范太守祠Phạm thái thú từ
13.            鳳山祠傳Phượng Sơn từ truyện

4.解毒旨南Giải độc chỉ nam: Phép giải độc[13]
1.                 虎鬚毒Hổ tu độc: độc râu hổ
2.                 酖藥毒Trấm dược độc: độc rượu lông chim
3.                 咳喘毒Cai suyễn độc: độc ho
4.                 藥蟲毒Dược trùng độc: độc sâu
5.                 毒草毒Độc thảo độc: độc cỏ
6.                 粘喉毒Niêm hầu độc: độc bột hầu

Ngoài ra còn có ba chuyện, đáng lẽ nên thuộc phần Thần từ cổ miếu tích, nhưng ở đây chép dưới phần Giải độc.
1.                 高平三忠事跡Cao Bằng tam trung sự tích: Sự tích miếu Tam Trung thờ ba vị tướng hi sinh vì nạn nước ở Cao Bằng thời Minh Mệnh. Có văn điếu của Hà Tông Quyền
2.                 陳朝顯聖雷祠Trần triều hiển thánh Lôi từ: Đền thờ Trần Hưng Đạo.
3.                 駿馬山神Tuấn Mã sơn thần: đền thờ thần ngựa (của Nùng Trí Cao)
Qua những bước đầu khảo cứu, phân mục như trên,chúng tôi nhận định đây là văn bản Hán Nôm mới được phát hiện về địa chí phong tục tỉnh Cao Bằng. Tài liệu này chắc chắn sẽ bổ sung nhiều tư liệu có giá trị cho nghiên cứu về dân tộc học, phong tục, địa danh, nhân chủng của vùng địa đầu tổ quốc này. Chẳng hạn, tài liệu này cung cấp thông tin về địa danh các châu, phủ, huyện, tổng, xã của Cao Bằng với các núi sông lớn nổi tiếng của tỉnh. Sách cũng đề cập đến một số các nghề nghiệp, tôn giáo, trang phục, sinh hoạt tập quán của các tộc người bản địa, cũng như các địa danh lịch sử, các sự tích truyền thuyết dân gian. Đặc sắc vô cùng của tài liệu này là những kiến thức về y học, về độc dược và giải độc của các dân tộc thiểu số. Tóm lại, đây là một tài liệu quý, cần thiết giới thiệu, nghiên cứu và công bố để góp phần tìm hiểu đất nước con người các dân tộc ở Cao Bằng. Chúng tôi hy vọng sẽ có thời gian đủ để khảo cứu kỹ lưỡng và giới thiệu phiên dịch văn bản này trong tương lai.
Tôi xin cảm ơn TS. Phùng Minh Hiếu đã dịch giúp tóm tắt ra tiếng Anh.

Thư mục tham khảo
1.     Cao Bằng tỉnh thủ hiến liệt phương danh (chép tay)
2.     Cao Bằng thực lục. A.1129 Viện nghiên cứu Hán Nôm
3.     Cao Bằng ký lược. A.999Viện nghiên cứu Hán Nôm
4.     Cao Bằng tạp chí. HN.46-47 Trường ĐHSP Hà Nội (bản chụp)
5.     Phạm Thị Thùy Dương/ Bước đầu tìm hiểu một số vấn đề về Cao Bằng qua cuốn Cao Bằng thực lục. Khóa luận tốt nghiệp nghành Hán Nôm khóa 1999- 2003. ĐHQG-ĐHKHXH&NV(bản dịch của Khóa luận này chưa đầy đủ, và kỳ lạ khá tương đồng câu chữ với bản dịch của chúng tôi, nên chúng tôi đưa vào danh mục tham khảo. Nhưng chúng tôi không kế thừa gì từ khóa luận này)
6.     Quốc Sử Quán Triều Nguyễn.Đại Nam nhất thống chí- 5 Tập. Nxb. Thuận Hóa. 2006
7.     Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa, H., 1993, 1214 tr.
8.     Trần Văn Giáp (chủ biên), Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H., tập 1, 1971, 520 tr; tập 2, 1972, 341 tr.
10.            Trần Văn Giáp.Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Tập I. 1971, lần 2, 1984; Tập II xuất bản năm 1990.
11.            Ngô đức Thọ.Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919 NXB: Văn Học. 2006
12.            Ngô Đức Thọ. Di tích lịch sử văn hoá, Nxb. Văn hoá.1986 
13.            Đào Duy Anh.Đất nước Việt Nam qua các đời  Nxb: Khoa Học. 1964 
14.            Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh: Các tổng trấn xã danh bị lãm / Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn; Viện nghiên cứu Hán Nôm
15.            Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 2007, 632 tr.






[1] Taucha, CHLB Đức
[2] Ghi chú: bản chụp nét bút đã mờ, chúng tôi đã dặm lại theo nguyên văn
[3] Ghi chú: Chữ “sao” bị bôi xóa
[4] Quan niệm về Tứ bất tử hơi khác với 1 số sách. Một số sách cho rằng Tứ bất tử của Việt Nam là: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh. Trong khi văn bản này lại đưa vào 2 nhân vật khá mới mẻ là Lê Mãi đại vương, Hưng Đạo đại vương.
[5] Cũng tính đời Dân chủ cộng hòa là 1đời.
[6] Người Thổ thuộc nhóm dân tộc Tày.
[7] Người Nùng cũng là 1 nhóm dân tộc thiểu số, sống trên dải biên giới rộng lớn của 2 nước Việt – Trung. Có những giai đoạn lịch sử, nhóm người này hoạt động phát triển rất mạnh mẽ, đe dọa hình thành 1 quốc gia riêng biệt giữa Việt Nam – Trung Quốc, như thời Nùng trí Cao. Nhưng sau bị tàn lụi, chỉ còn những nhóm nhỏ sống cả Việt Nam, Trung Quốc, Miến điện.
[8] Người Ngạn cũng giống người Thổ, là 1 nhóm khác cùng thuộc dân tộc Tày.
[9] Người Mán Tiền, thực ra là người Dao Tiền. Do cách dùng từ Hán xưa, cũng gọi chung các dân tộc thiểu số là Mán cả. Chúng tôi đối chiếu thì đó là người Dao Tiền, thuộc nhóm dân tộc Dao
[10] Mường Khao, cũng do sự dùng Hán tự ghi chép không thống nhất về các dân tộc thiểu số. Khi dùng chữ Mán, khi dùng chữ Mường để chỉ người man mọi. Đối chiếu thì nhóm Mường không có nhóm Khao. Chúng tôi tra ra là nhóm Tày Khao, thuộc nhóm dân tộc Thái Trắng. Tuy gọi là Tày mà lại không thuộc về nhóm Tày của người Thổ và người Ngạn, mà lại là nhóm Thái.  Dân tộc Thái có cả ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Miến điện, Thái Lan.
[11] Người Mán Cóc cũng vậy.  Tuy dùng từ Mán, nhưng tra cứu thì chỉ có nhóm người Dao là có tên Cóc, như Dao Cóc Ngáng, Dao Cóc Mùn. Vậy đây thuộc về nhóm dân tộc Dao. Người Dao cũng có ở Trung Quốc.
[12] Mường Miêu, hay còn có thể phiên là Mường Mèo. Tức là thuộc dân tộc Miêu, ta hay gọi là người Mèo, hay người H’Mông. Chứ không thuộc nhóm Mường. Người Mèo có cả ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào.
[13] Từ xa xưa truyền lại. Người dân tộc các miền ngược có phép bùa, ngải độc rất nghiệm. Họ đã bỏ thì không ai thoát, chỉ có họ mới giải được. Văn bản này ghi được cách làm độc và giải độc của 6 loại độc rất hiểm của người dân tộc. Là 1 điểm rất đặc biệt.