Chủ Nhật, ngày 25 tháng 9 năm 2016

Trần Văn Giáp/ Lược truyện các tác gia Việt Nam- Tập 1/ Sách tham khảo/ III. Thi, Văn Tuyển Tập -Quần hiền phú tập 群 贤 赋 集

Quần hiền phú tập
Tác giả: Hoàng Tụy Phu và Nguyễn Trù
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Tr%C3%B9

6 quyển, sách chép tay giấy lệnh hội, khổ giấy 33x 23, cộng 214 tờ (28+40+35+38+25+48), ký hiệu A.575.
Nội dung:
Đầu sách có 3 bài tựa và dẫn:
1-    Bài tựa viết khi mới khắc lại sách, viết năm Bảo –thái thứ 10, kỷ dậu (1729), của Cảo quận công; 2- Bài tiểu dẫn viết khi khắc lại sách của Nguyễn Trù (hiệu Loại -phủ, tước Xương-phái hầu, viết năm Bảo-thái thứ 9 (1728); 3-Bài tựa cũ, của Nguyễn Thiên Túng, viết năm Diên-ninh thứ 4, đinh sửu (1457). Trong sách, từng bài phú, sau đề mục, có ghi tên tác giả, có lời phê, chua điển tích, v.v … Mục lục có ghi rõ tên từng bài phú và tên người làm, nay lược kê sau đây:
Số quyển và số tờ
Triều đại
Số bài phú
Số người
Q 1, 1-28
Trình (tức Trần, tránh tên thụy)
Hồ
Hậu Trần
9

1 đề, 2 bài
2
7 và 2 vô danh

2
2
Q II, 1-40
21
1
Q III, 1-35
21

Q IV, 1-38
22
người trên
Q V, 1-25
10
6
Q VI, 1-39
17
8
Phụ lục 40 - 48

4
2

Cộng
108
31
Tác giả các bài phú:
Trần: Nguyễn Nhữ Bật, Trình Công Cận, Sử Hi Nhan, Nguyễn Pháp, Phạm Kính-khê(tức Phạm Tông Mại), Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu.
Hồ: Nguyễn Phi Khanh, Đoàn Xuân Lôi.
Hậu Trần: Nguyễn Thông, Đào Sư Tích.
Lê: Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Trình Thuấn Du (hiệu Mật-l iêu tiên sinh), Nguyễn Phu Tiên (hiệu Tân-kiều tiên sinh), Nguyễn Trãi, Lý Tử Cấu (hiệu Hạ-trai tiên sinh), Nguyễn Thiên Túng, Nguyễn Nghiễm (hiệu Bình-hà tiên sinh), Nguyễn Trực, Lương Như Hộc, Nguyễn Duy Tắc, Nguyễn Bá Ký, Hoàng Tụy Phu, Đặng Tuyên, Đồng Hạnh, Trần Văn Huy, Lê Thịnh, Đinh Ước.
Tên sách:
Theo bài tựa cũ, của Nguyễn Thiên Túng, viết năm 1457: “Tập phú này gồm hơn 100 bài, do Hoàng Tụy Phu soạn tập, Trình Văn Huy phê điểm, Nguyễn Duy Tắc khảo chính, Nguyễn Khắc Khoan đem khắc in để lưu truyền mãi mãi …” (… Hàn lầm thị chế Hoàng Tụy Phu biên nhi tập chi, cận nhất bách dư thiên, trung đài tỉnh Hoàng môn thị lang Trình Văn Huy vị chi phê điểm; vương phủ văn học Nguyễn Duy Tắc hựu gia khảo chính … Thư phường … Nguyễn Khắc Khoan … tương tẩm tử dĩ thọ kì truyền). Vậy việc đem in sách này lần thứ nhất không phải do tác giả Hoàng Tụy Phu.
Theo bài tiểu dẫn, khi khắc in lại sách in của Nguyễn Trù năm 1728, thì: “Bản khắc cũ của Thư phường … tan nát không còn … Năm đinh dậu(1717) đã nhận được 1 bản sao của Nguyễn Quý Đức … đem về hiệu chính và chú giải… sau năm Bính ngọ (1726), nhân được đi công tác ở Hải đông (Hải dương) mới tiện thể làm xong sách này”(Quần Hiền Phú tập cựu hữu thư phường khắc bản … tàn dật bất tồn … đinh dậu sơ, đắc Nguyễn Quý Đức công, gia tàng sao bản … tương hồi hiệu giải trùng khắc … Bính Ngọ hậu, hữu Hải đông thừa sứ chi mạnh, nhân thủy đắc thừa tiện nhi thoan sự yên).
Về tên sách, Phan Huy Chú cũng như Lê Quý Đôn đều gọi là Quần Hiền phú tập, và cho là của Hoàng Tụy Phu. Còn sách Việt sử thông giám cương mục (q.38, tờ 14) lại gọi tắt là Quần Hiền phú của Nguyễn Trù. Thực ra cũng chỉ là 1 bộ sách, mỗi nơi gọi tên một khác. Theo lời chua trong Hoàng Việt văn tuyển (q1, tờ 1) của Bùi Bích, chua dưới bài Ngọc tỉnh liên phú của Mạc Đĩnh Chi, trích trong Quần Hiền phú tập: “Sách Quần Hiền phú tập, là do thư phường khắc in năm Diên –ninh thứ 4 (1457), có bà tựa của quan Tư nghiệp Quốc tử Giám Nguyễn Thiên Túng. Năm Bảo – thái thứ 9 (1728), Xương-phái hầu Nguyễn Trù tự Loại-phủ, đem hiệu đính, chú giải và khắc lại”(Quần hiền phú tập, Diên-ninh tứ niên, thư phường tẩm tử, Quốc tử Giám tư nghiệp Nguyễn Thiên Túng tự, Bảo-thái cửu niên Xương-phái hầu Nguyễn Trù Loại-phủ hiệu giải trùng san)
Qua những tài liệu trên đây, ta nhận thấy sách Quần hiền phú tập gồm 6 quyển, có 2 tác giả: 1. Một là Hoàng Sằn Phu soạn tập lần thứ nhất, trước năm Diên-ninh thứ 4 (1457) và đem in sau năm ấy, do các nhà khắc ván gỗ (thư phường) xuất bản. Sách ấy và ván in lâu ngày đã bị tan nát. 2. Ba thế kỷ sau, Nguyễn Trù nhận được bản sao của nhà Nguyễn Quý Đức còn giữ được, đem hiệu đính và chú giải thêm, rồi đem in lại vào khoảng năm 1728. Sách ta còn hiện nay ở thư viện khoa học trung ương là 1 bản viết tay, sao chép lại bản in năm 1728, cố nhiên có nhiều chữ viết sai lầm, còn nhiều câu thiếu sót, có lẽ thiếu sót này có từ nguyên bản. Duy trong quyển 1, tờ 16, bài Ngọc tỉnh liên, có nhận thấy mấy chữ sau này: “Bùi Tồn-am điểm tích dĩ hạ”(từ đây trở xuống là dấu chấm của Bùi Tồn-am[tức Bùi Bích]). Vậy bản chép này có thể chép lại 1 bản nào của nhà họ Bùi, bản in cũ hay bản sao lại đã được Tồn-am tiên sinh sử dụng và chấm. Vì thế trong khi chờ đợi sưu tầm được nguyên bản in từ thế kỷ XV, hay bản in lại năm 1728, thì bản sao này vẫn là rất quý cho việc khảo cứu về văn học Việt-nam.

Thứ Bảy, ngày 17 tháng 9 năm 2016

Trần Văn Giáp/ Lược truyện các tác gia Việt Nam- Tập 1/ Sách tham khảo/ III. Thi, Văn Tuyển Tập: Việt Âm Thi tập越音詩集

22. Việt Âm Thi tập越音詩

Tác giả: Phan Phu Tiên (Thế kỷ XV)
Sách in, bản khắc gỗ, khổ 24x 16, đóng thành 1 quyển 135 trang (số mới ghi), mỗi trang 10 dòng, dòng 22 chữ, bản cũ, chữ cổ, giấy dó. Đầu quyển 1, ở chỗ thường đề tên tác giả, có đề rõ 2 dòng: Quốc sử viện Đồng tu sử Phan Phu Tiên biên tập (quan đồng tu sử ở viện Quốc sử là Phan Phu Tiên biên tập) và Hàn lâm viện học sĩ nhập thị kinh diên Nguyễn Tử Tấn phê điểm (Quan Hàn lâm viện học sĩ sung chức Kinh diên, Nguyễn Tử Tấn phê điểm). Ký hiệu A.1925.
Nội dung (mục lục):
Quyển 1: Các vua triều Trần và Hồ Quý Li, gồm 8 nhà thơ, 73 bài;
Quyển 2: Các nhà thơ triều Trần, gồm 1 nhà thơ, 99 bài;
Quyển 3 : các nhà thơ triều Trần, nhà Hồ và phần Bổ di, gồm 35 nhà thơ, 116 bài;
Quyển 4: Các nhà thơ Quốc triều (Lê), gồm 6 nhà thơ, 81 bài;
Quyển 5: các nhà thơ Quốc triều (Lê), gồm 14 nhà thơ, 85 bài;
Quyển 6: Lê, gồm 24 nhà thơ, 120 bài;
Quyển phụ lục: gồm 21 nhà thơ, 50 bài.
Tất cả 6 quyển, theo như bài tựa, có hơn 700 bài thơ. Nay theo mục lục kiểm lại thì chính xác cả toàn bộ chỉ có 119 nhà thơ và 624 bài. Trong số đó có đủ các vua, các quan, các danh Nho và các Cao tăng, từ đời Trần đến đời Lê. Riêng bản sách mà thư viện Khoa học còn có hiện nay: A.1925 chỉ còn 3 quyển đầu, gồm 288 bài thơ của 54 nhà thơ.
 Bảng tổng cộng các thi gia và số bài thơ trong Việt Âm thi tập (theo mục lục)
Số quyển
Triều đại
Số nhà thơ
Số bài thơ
Q.1
Trần (vua), Hồ Quý Li
8
73
Q.2
Trần
11
99
Q.3
Trần, Hồ
35
116
Q.4
6
81
Q.5
14
85
Q.6
24
120
Phụ lục

21
50
Cộng

119
624
Một đoạn trích trong bài tựa 2:
“Ngay như các vua Thánh-tông, Nhân- tông, Minh-tông, Nghệ-tông triều Trần (trong sách vì kiêng tên húy, đổi là triều Trình), và Chu Tiểu-ẩn tiên sinh (Chu An), các ông họ Phạm ở Hiệp (hay Giáp)-thạch(Phạm Sư Mạnh), họ Lê ở Lương-giang (Lê Quát), Nguyễn Giới-hiên (Nguyễn Trung Ngạn), và anh em ông Phạm Kính-khê(Phạm Tông Mại và Phạm Ngộ), đều có tập thơ riêng, truyền tụng phổ biến, sau vì binh hỏa, số thơ còn lại chỉ còn được một hai phần nghìn. Ông Phan Phu Tiên người làng Đông Ngạc, khi làm việc ở viện Quốc sử, có ý muốn thu thập các thơ của các vua quan đời gần đây để lại cho người sau biết, sưu tầm khắp nơi những vần thơ còn sót lại, và chép cả những bài ghi công trạng khắc vào vách đá của các vua Thái –tổ, Thái-tông, cùng là của các vị học giỏi, nổi tiếng gồm mấy trăm bài, đặt tên là Việt âm; sắp đem khắc in, thì ông bị bổ ra làm quan ngoài, nên việc ấy không làm xong được. Quan Thị ngự sử trước đây là ông Chu Xa, người ở Yên –Phong tiếp tục chí hướng của họ Phan, lại sưu tầm thêm thơ của các bậc có làm quan hay không làm quan, từ xưa tới nay,và của các vị người Việt-nam làm quan Trung-quốc, của các người Trung-quốc sang sứ Việt-nam, mà họ Phan còn chưa sưu tầm; họp lại thành tập, gồm hơn 700 bài, đưa cho ta xem và sửa lại …” (… Nhược Trình (Trần) triều Thánh, Nhân, Minh, Nghệ chư miếu, cập Tiều-ẩn tiên sinh, Hiệp-thạch Phạm công, Lương-giang Lê công, Giới-hiên Nguyễn công, Kính-khê Phạm công huynh đệ, chư công, hàm hữu thi tập truyền chi vu thế. Hậu nhân binh tiễn, tồn giả thiên bách cận nhất nhị yên. Đông-ngạc Phan quân Phu Tiên, tại Quốc sử thời, dục tập cận đại quân thần thi thiên, dĩ thị hậu học; nãi bàng sưu di dật; kiêm thái Hoàng triều Thái-tổ, Thái-tông ma nhai; dữ phù danh công túc nho sở tác, phàm thiên bách dư thủ, mệnh viết Việt âm; tương dĩ san hành , hội Phan quân xuất vi Phủ sứ, bất quả. Tiền thị Ngự Sử An-phong Chu quân Xa thị, tự thành kì chí, hựu bác thái cổ kim chi tại triều, tại dã, cập Nam nhân sĩ Bắc, Bắc nhân Nam sứ; Phan quân chi sở vị tập giả, vựng nhi biên chi, tổng thất bách dư. Thỉnh dư hiệu chính … ).
Một đoạn trích trong bài biểu:
“… tôi trộm thấy sách Việt âm thi tập, do quan làm sử trước kia là Phan Phu Tiên biên soạn, còn chưa được đầy đủ. Tôi lại thu thập thêm, xin quan ở Kinh diên là Nguyễn Tử Tấn phê điểm, chia làm 6 quyển. Còn các bài thơ của các vị làm quan ở Trung-quốc, của người Trung-quốc [qua Việt-nam] thì phụ chép sau cùng, viết thành 1 quyển riêng …” (… thần thiết kiến tiền sử quan Phan Phu Tiên sở viên Việt âm thi tập, phả hữu vị bị. Thần hựu tục thái, thỉnh Kinh diên quan Nguyễn Tử Tấn phê điểm, li vi lục quyển. Nhược sĩ Bắc, tính Bắc nhân thi phụ lục quyển hậu, thiên tả nhất bản …).
Tên sách:
Việt âm thi tập, nghĩa đen thứ nhất: “Tập thơ tiếng nói của người Việt [viết bằng chữ Hán]”; nghĩa thứ 2: “Tập thơ bằng tiếng Việt [viết bằng chữ Nôm]” ta có thể gọi tắt gọn là tập thơ Nôm.
Hiện nay, thư viện Khoa học trung ương có 2 bộ sách khác nhau: bộ thứ nhất nhan đề Việt âm thi tập (theo nghĩa thứ nhất) là 1 bản sách in ván gỗ, tức là tập thơ nghiên cứu trên đây, số sách A.1925, và 1 bản sao lại, số A.3038. Bộ thứ 2 là 1 tập thơ bằng tiếng Việt, viết bằng chữ Nôm, ký hiệu AB.7, là 1 bản chép tay, chừng 60 tờ, khổ giấy 0,17x 0,28, mỗi trang 7 dòng, nguyên bản không đánh số trang, không ghi tên tác giả[1]. Trong tập thơ bằng chữ Nôm này, các đầu đề bài thơ, phần nhiều dùng danh từ, dành riêng cho các vua chúa, và mỗi đề thơ thường có ghi niên hiệu bằng can chi; thí dụ các năm: đinh dậu (1717), mậu tuất (1718), canh tí (1720), nhâm thìn (1712), quý tị (1713), giáp ngọ (1714), đinh hợi (1707), bính thân (1716), kỉ hợi (1719). Và đôi khi có ghi tên các quan triều Lê về thế kỷ XVIII; thí dụ: Đặng đình Tướng và Nguyễn quý Đức. Vậy ta có thể xác nhận tập thơ Nôm này là của chúa Trịnh Cương, vì ông làm chúa vào khoảng năm 1709 – 1729. Theo bài khải dâng tập thơ, thì biên tập xong dâng lên chúa Trịnh, của Cao Huy Trạc mà Bùi Huy Bích đã trích lục trong Hoàng Việt văn tuyển (q.6, tờ 21), thì ta thấy điều xác định trên đây là đúng. Vả lại, 1 số bài thơ mà chúa Trịnh Cương gửi cho Đặng Đình Tướng, đều thấy ghi nguyên văn trong gia phả nhà họ Đặng tên là Đặng gia phả ký (A.633, q.6, tờ 14-15; 24-25).
Sau đây là lời chua và 1 đoạn văn bài khải, nói về việc tiến tập thơ để chứng minh thêm bản chất của tập thơ Nôm này: “… Lúc đó Cao Huy Trạc vâng mạng Dụ-tổ Thuận vương (tức Trịnh Giang là con Trịnh Cương) thu chép các thơ của Hi-tổ Nhân vương (Trịnh Cương) làm thành sách. Sách làm xong, Cao Huy Trạc viết tờ khải này tiến trình … Tôi là Cao Huy Trạc đã vâng chỉ thị biên soạn các thơ của tiên thánh vương, xin xếp theo từng loại, chữ Nôm và chữ Hán, chia làm 2 quyển”(… Thời phụng Dụ-tổ Thuận vương mệnh, biên tập Hi-tổ Nhân vương thi tập, thư thành, cụ khải tiến trình … thần Cao Huy Trạc đẳng … phụng chỉ phụng biên toản tiên thánh vương ngự chế thi tập, cẩn tòng Nam-Bắc nhị âm, li vi nhị quyển …) Xem đấy ta thấy rõ chúa Trịnh Cương có 2 quyển thơ, do Cao Huy Trạc biên soạn; 1 quyển là Việt âm thi tập bằng chữ Nôm, hiện nay mới bị mất, chỉ thấy còn ghi trong mục lục sách của Thư viện Khoa học[2]; còn 1 tập nữa, là thơ chữ Hán chưa tìm thấy, ta nên để ý sưu tầm.
Tóm lại, sách Việt âm thi tập, do Phan Phu Tiên biên tập, làm xong từ năm 1433, triều Lê Thái-tổ, nhưng chưa thấy nói đến việc in. Khỏang năm 1459, Chu Xa nối chí họ Phan, theo như chỉ thị vua Thái-tông năm 1446, biên tập thêm 1 số bài thơ nữa, nhờ Nguyễn Tấn phê điểm, dâng lên vua xem và được phép đem in. Nhưng bản in thế kỷ thứ XV có lẽ không còn, bản hiện còn là bản in lại năm 1779, gồm 6 quyển và phụ lục. Bản in lại năm Bảo-thái (1779), hiện nay cũng chỉ còn 3 quyển đầu, từ quyển 1 đến 3 và phụ di của quyển 3.
Nếu còn đủ tất cả 6 quyển, theo như bài tựa, sách Việt âm thi tập có hơn 700 bài thơ. Nay theo mục lục mà kiểm lại, thì chính xác toàn bộ chỉ có 624 bài của 119 nhà thơ. Riêng bản sách mà thư viện Khoa học còn giữ được hiện nay, lại chỉ còn 3 quyển, gồm 288 bài thơ của 54 nhà thơ khác nhau.
Về tác giả, theo các tài liệu trình bày trên đây, trên sách tuy chỉ ghi Phan Phu Tiên biên tập nhưng thực ra Chu Xa cũng có góp phần quan trọng trong việc soạn lại sách này, và nhất là việc đem in ra.
Sách Việt âm thi tập còn lại hiện nay, chỉ có thơ đời Trần, đời Hồ. Trừ các vua, sau mỗi thi gia, soạn giả có chua qua tiểu truyện và sau đề mục mỗi bài, cũng có chua qua điển tích. Đó là 1 vốn cổ quý giá, không những về văn thơ, nó cũng là 1 tài liệu hiếm quý về sử học. Thí dụ: nó cho ta biết đích xác kỹ thuật in khắc ván gỗ của ta, đã thấy xuất hiện từ đầu thế kỷ XV, mà có lẽ còn trước đó từ lâu. Ngoài ra còn nhiều sự việc khác có liên quan đến sử học Việt-nam và Trung-quốc. Những lời chú dẫn phần lớn là những tài liệu quý cho sử học.



[1] Xem Les chap. bibli. de Lê Quý Đôn et de Phan Huy Chú, trang 65.
[2] Xem Les chap. bibli. de Lê Quý Đôn et de Phan Huy Chú, trang 65-66.

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2016

Trần Văn Giáp/ Lược truyện các tác gia Việt Nam/ TẬP I/ CHƯƠNG I: CÁC SÁCH THAM KHẢO. II- Quốc Triều khoa bảng lục 國 朝 科 榜 錄

Sau 1 thời gian bận rộn, chúng tôi lại quay lại với chùm tư liệu của Trần Văn Giáp. Mong cho các bạn tìm hiểu có Internet mà tra tiện.

Trần Văn Giáp/ Lược truyện các tác gia Việt Nam/ TẬP I/ CHƯƠNG I: CÁC SÁCH THAM KHẢO. II- Quốc Triều khoa bảng lục
 
https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_tri%E1%BB%81u_khoa_b%E1%BA%A3ng_l%E1%BB%A5c
Tác giả Cao Xuân Dục (1842 - 1923)
4 quyển và quyển thủ, cộng 98 tờ (14+22+23+16+23), khổ giấy 26x15, đóng thành 1 quyển. Ký hiệu A.37.
Nội dung:
Trên trang đề tên sách: Quốc triều khoa bảng lục, về phía phải có ghi “Thành Thái giáp ngọ”(1894); phía tả: “Long cương tàng bản”(ván in để tại thư viện Long Cương). Thứ đến bài tựa thứ nhất của tác giả, viết năm Thành thái quý tị, năm thứ 5 (1893). Bài tựa thứ 2 của Nguyễn Trung Quân (tự Nhất Chi, hiệu Văn Phong, người Nghệ An), viết năm Thành thái thứ 5 (1893) khi làm Toản tu Quốc sử quán ở Huế. Bài tựa thứ 3 của Vũ Phạm Hàm (tự Mộng Hải), viết năm Thành thái thứ 6 (1894) khi làm Đốc học Hà Nội, kiêm Đồng văn quán. Thứ đến Phàm lệ (có 13 điều). Tổng số các khoa thi (đến Thành thái thứ 4, 1892).
Đầu quyển nhất (tờ 1), ngoài tên tác giả: Cao Xuân Dục tự Tử -phát, hiệu Long-cương, biên tập; có ghi tên người hiệu đính: con trai tác giả là Cao Xuân Tiếu tự Bạng-sa, con rể tác giả là Đặng Văn Thụy hiệu Mã-phong, Nguyễn Duy Nhiếp hiệu Lan-bình.
Mỗi khoa thi có ghi rõ thể lệ vào thi, chấm thi, tên các quan chấm thi, số và tên người thi đậu, có ghi tên, tuổi, quê quán, gia thế, chức nghiệp và tác phẩm nếu có.
Tổng số các khoa thi tiến sĩ triều Nguyễn:

 
Bộ Khoa bảng lục này của Cao Xuân Dục làm sau các bản của Lê Nguyên Trung (Chỉ- trai) và của Lê Đình Diên, kể từ Minh-mạng nhâm ngọ đến Thành-thái nhâm thin; ghi được đủ tên các Tiến sĩ triều Nguyễn, từ 1822 đến 1892. Sau đó lại tục thêm quyển IV, từ 1895 đến 1919 là khoa thi khóa sổ chế độ khoa cử ở Việt-nam. Bộ sách này lại có đặc điểm của nó, hơn các bộ cũ, là có ghi đủ tên các người đậu chánh bảng cũng như phó bảng. Nó đã phản ánh được toàn bộ các khoa thi, những người thi đậu tiến sĩ triều Nguyễn. Đem tổng số này, phụ thêm vào tổng số của bộ Đại Việt lịch triều đăng khoa lục (A.379), ta có thể làm 1 bảng tổng hợp tất cả các khoa thi tiến sĩ , những người đậu Tiến sĩ của Việt-nam, từ khởi thủy (1075) đến ngày kết cục (1919).
(chúng tôi có làm bảng Tổng hợp các khoa thi Tiến sĩ và số người đậu Tiến sĩ từ Lý, Trần, Lê, Mạc, đến Nguyễn- xin xem Phụ lục I ở cuối sách)
Chúng tôi tiện chụp ngay tại Đây
 
 
 

Thứ Tư, ngày 17 tháng 8 năm 2016

Lại Tứ quân tử : Mai – Lan – Cúc – Trúc trên đồ khảm trai.

Lại Tứ quân tử : Mai – Lan – Cúc – Trúc trên đồ khảm trai.
Nhân ngày đọc đồ khảm trai trên trang Facebook Hán Nôm kinh … kỳ, lôi lại mấy bức ảnh của bạn Face Từ Quang Đức đã gửi từ lâu lắm. Vận não so tìm trên Internet ra được đủ xuất xứ 4 bức. Thế mới thấy nghề khảm trai Ta thật là Kinh Kỳ. Chỉn chu chữ nọ chữ kia thì nói làm chi, đây là chữ nọ sọ chữ kia mới Lạ. Người không gắng mà lịch duyệt … sao chơi được đồ khảm trai.

Mai:

山中
Tuyết mãn sơn trung cao sĩ ngọa
Nguyệt minh lâm hạ mỹ nhân lai
Xuất xứ từ câu Tuyết mãn sơn trung cao sĩ ngọa/ Nguyệt minh lâm hạ mỹ nhân lai trong bài Mai hoa của Cao Khải đời Minh:
琼姿只合在瑶台,谁向江南处处栽?雪满山中高士卧,月明林下美人来。
寒依疏影萧萧竹,春掩残香漠漠苔。自去何郎无好咏,东风愁寂几回开。
 Lan: 

何妨
来未肯
Khai xứ hà phòng y tiên triệt,
Chiết lai vị khẳng luyến kim bình.
Xuất xứ từ câu Khai xứ hà phòng y tiên triệt/ Chiết lai vị khẳng luyến kim bình trong bài Lan của Lưu Khắc Trang đời Nam Tống
深林不语抱幽贞,赖有微风递远馨。开处何妨依藓砌,折来未肯恋金瓶

Cúc: 

也销造化无多力
未受阳和一点恩.
Dã tiêu tạo hóa vô đa lực
Vị thụ dương hòa nhất điểm ân
Xuất xứ từ câu Dã tiêu tạo hóa vô đa lực/ Vị thụ dương hòa nhất điểm ân trong bài Cúc của Lý Sơn Phủ đời Đường:
篱下霜前偶得存,忍教迟晚避兰荪。也销造化无多力未受阳和一点恩。栽处不容依玉砌,要时还许上金尊。陶潜殁后谁知己,露滴幽丛见泪

Trúc:

移得萧骚从远寺
洗来疏净见前峰
Di đắc tiêu tao tòng viễn tự,
Tẩy lai sơ tịnh kiến tiền phong
Xuất xứ từ câu Di đắc tiêu tao tòng viễn tự/ Tẩy lai sơ tịnh kiến tiền phong trong bài Trúc của Trịnh Cốc đời Đường:
宜烟宜雨又宜风,拂水藏村复间松。移得萧骚从远寺,
洗来疏净见前峰。侵阶藓拆春芽迸,绕径莎微夏荫浓。
无赖杏花多意绪,数枝穿翠好相容


                              Rằm tháng 7 theo Á lịch. Hàn dạ vô liêu, nhớ mẹ ốm nơi quê xa. Chắc mẹ lo cái lễ Cúng cô hồn tháng 7. Vất quá sinh lao lực. Mong mẹ tin Chúa Jesus là cứu Chúa của cuộc đời, để từ bỏ những thói tục mê hoặc đè lên vai dân tộc hàng nghìn năm qua. Con yêu mẹ nhiều.