Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Trung Hậu Truyền Gia 忠厚傳家

忠厚傳家遠  Trung Hậu truyền gia viễn
德仁處世長 Đức Nhân xử thế trường
Dịch là:
Lấy đạo Trung Hậu để truyền lại cho gia đình
Dùng Đức Nhân để đối đãi với đời
Là đôi câu đối phổ thông, gần đây thường xuất hiện ở các xưởng Mỹ nghệ cổ truyền. Câu đối 5 chữ, đơn giản, ý nghĩa không cầu kỳ. Dễ giảng dễ đọc thuận khẩu. Nhưng chưa bao giờ tôi được nhìn thấy cặp đối này thực sự cổ kính cả. Đều là mới làm, kiểu tân thời, màu sắc lẫn chữ viết lòe loẹt.
Mới hôm, dạo mạng Facebook, anh bạn Già Ngu đăng cái bức này. Tuy không phải đối, nhưng nét chữ rất trung hậu, đẹp giản dị. Mà thực cổ từ thời các Cụ. Tôi cũng không dịch nữa. Vì ý nghĩa thuần hậu dễ hiểu, không hiểm hóc điển cố gì.
 忠厚傳家

Trung Hậu truyền gia

Chủ Nhật, 24 tháng 9, 2017

Tửu - Cầm - Phong - Nguyệt / Đền Và - Sơn Tây

Câu đối treo tại đền Và – Sơn Tây.
酒邀江口月
琴弄岸頭風

Tửu yêu giang khẩu nguyệt
Cầm lộng ngạn đầu phong
Ý là:
Cửa sông trăng mời rượu
Đầu núi gió gẩy đàn

Đây là 1 đối câu đối nhàn thú, không phải câu đối thờ thần như những câu khác. Trên nền mộc gỗ, nhưng thiếp vàng. Nhìn qua có thể thấy đây là câu đối nhàn thú, của những nhà quyền quý. Ngẫm lại, sao nó lại lọt vào đền Và?. Đầu óc miên man suy tưởng về thời kỳ xa vắng. Đền là nơi những người tu Đạo, có tinh thần của Đạo giáo, nên khẩu khí câu đối này cũng hợp lắm. Nhưng hoàn cảnh lịch sử đôi khi cũng khắc nghiệt. Là câu đối nhà dân mà trải tang thương dâu bể, chịu tiếng phong kiến, địa chủ hủ bại mà bị phát tán, trưng thu rồi lại chạy vào cửa Đền chăng? 
Không biết được nữa. Mỗi lần đến di tích thấy lạ là 1 lần cảm khái. Như chùa Quỳnh – Long Khánh tự ở Quỳnh Mai có bức hoành phi chả liên quan gì đến Phật pháp cả. Có lẽ nào nó cũng từ một nhà Nho Quân tử mà bị bể dâu lưu lạc đến cửa chùa.
 Bức là:
金玉君子
Kim Ngọc Quân Tử
Gợi cho cảm giác Nho Quân tử như Kimnhư Ngọc; Nho Tiểu nhân như Phẩnnhư Thổ.
Vàng Ngọc là những thứ thanh thuần nhã quý. Ví với đức Quân tử thật không có gì hơn. Chơi với người quân tử, như đeo vàng đeo ngọc vào mình.

Còn kẻ tiểu nhân thì như Cứt như Đất. Tầm thường bẩn tưởi. Dây với tiểu nhân thì hôi hám mình. Như dính cứt dính đất vậy.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Dự án Hán-Anh ( Phạm Thị Hoài - September 6, 2017)

Dự án Hán-Anh


Những năm cuối 80, khi thập kỷ cộng sản tương tàn ở châu Á dần kết thúc, Việt Nam sắp rút quân khỏi Cam Bốt và chuẩn bị lên đường tới Thành Đô, tôi xin đi học chữ Hán ở Hà Nội. Với giấy giới thiệu của Viện Sử học. Đó là những đêm ngay trước Đổi Mới.
Giấy giới thiệu ở Việt Nam là một thủ tục kinh dị, phiền hà và vô nghĩa ngang nhau, song lần ấy nó có vẻ không đơn thuần là hình thức. Cả lớp ba chục học viên toàn nâu sồng, ngoài tôi và ba người khác. Ba vị trần thế này thường ngủ gật. Công an mật, ni sư ngồi cạnh tôi đoán thế. Có lần tôi đến chỗ một người, hỏi thẳng, anh là an ninh à? Anh ta lườm. Ngoài các nhà sư và một nhân viên tư liệu chưa tiết lộ âm mưu viết văn là tôi, dường như cả xã hội không giới thiệu thêm ai đi học chữ Hán. “Tập đoàn phản động Bắc Kinh” khi đó không còn là một cụm từ nóng, song vẫn chưa nguội hẳn.
Động lực của tôi không có gì sâu xa. Khi ấy tôi mới đi du học về, dùng tiếng Việt còn chưa thuần thục mà ở môi trường làm việc, cứ hít vào là Lịch triều với Loại ngữ, thở ra là Toàn thư với Cương mục. Tôi phát bực, quyết đi học để khỏi ngồi nghe sấm. Sau những ngang bằng sổ thẳng đầu tiên và vài chục bộ thủ, chẳng mấy chốc tôi đã bỏ túi kha khá, từ “cử đầu hồng nhật cận, đối ngạn nhất chi mai” đến “yên ba thâm xứ đàm quân sự, dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền”, những bài khóa cơ bản của chương trình. Trừ Ngục trung Nhật ký, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh rất thích hợp cho người Việt mới nhập môn Hán ngữ.
Song tôi đã đắc chí quá sớm. Cũng chẳng mấy chốc, chữ vào thế nào lại ra tuồn tuột thế ấy. Tôi không có cách nào nhớ nổi mặt chữ, ngoài trên dưới trăm chữ tối thiểu của tối thiểu. Nghiến răng chấp nhận cả chiết tự cũng chẳng khả quan hơn, có thể vì tôi vốn không ưa đánh đố và giải đố. Những chữ có thể dùng chiết tự mà luận ra được chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ và đã bị làm thí dụ minh họa đến xơ xác; trong đó tôi ghét nhất chữ “an”, cô nàng dưới mái, nó luôn khiến tôi nghĩ đến Nora và Nhà Búp-bê của Ibsen. Phần chữ Hán khổng lồ còn lại, bạn chỉ có thể thuộc nếu bạn không làm một việc gì khác trong đời ngoài ngắm nó từ sáng đến tối và trước khi đi ngủ bỏ ra ngắm vài chục lần nữa. Nhưng thuộc không phải là hiểu. Thậm chí đọc thông viết thạo cũng chưa là một bảo đảm nào hết. Ni sư ngồi cạnh tôi có thể đọc vanh vách phần lớn văn bản Dụ chi tỳ tướng hịch văn và Thiên đô chiếu mà thực ra chưa “vỡ mặt chữ”, tức chẳng hiểu gì hết, trong khi tôi mù tịt mặt chữ, song nghe âm Hán-Việt lại hiểu quá nửa. Chúng tôi bổ sung cho nhau thật tuyệt vời, nhưng suốt đời phụ thuộc vào một nhà sư thì tôi không sẵn sàng. Sau một khóa, tôi bỏ cuộc, tạm biệt ba chú cá chìm ngáp ngủ. Không lâu nữa, tôi cũng chia tay thế giới của Lịch triềuLoại ngữToàn thư và Cương mục. Chẳng ai có thể sống hết những cuộc đời hấp dẫn.
Cùng thời điểm đó, nhà Hán học giàu ảnh hưởng John DeFrancis – cũng là tác giả của cuốn Chủ nghĩa thực dân và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam (Colonialism and Language Policy in Vietnam, 1977) – cho xuất bản cuốn Hán ngữ. Sự thật và huyễn tưởng (The Chinese Language. Fact and Fantasy, 1986). Ba thập niên sau tôi mới biết đến nó và vừa bắt tay vào đọc vừa nghe trống ngực đập thình thịch: Ở chương nhập đề, ông kể về dự án bí mật Hán-Anh (The Singlish Affair; Singlish = Sino-English, tránh nhầm với Singlish = Singapore English). Tôi xin phóng tác gọn như sau:
Trong Thế chiến II, một ủy ban do tướng Tōjō trực tiếp chỉ đạo được thành lập, với nhiệm vụ soạn thảo một dự án mật: cải cách hệ thống chữ viết ở các nước sử dụng tiếng Anh sắp bị Nhật chiếm đóng và sáp nhập vào Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, đầu tiên là Hawaii, rồi đến Úc và New Zealand, cuối cùng sẽ là Hoa Kỳ. Ủy ban gồm một giáo sư Nhật phụ trách và ba học giả, đại diện cho ba quốc gia đã đầu hàng Nhật: Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam.
Học giả Việt tên Phi trình bày ý tưởng dùng Hán tự thay thế hệ chữ cái La-tinh ở các nước nói tiếng Anh. Ông có hai lập luận. Một: thống sứ Paul Bert từng coi chính sách đô hộ văn hóa và ngôn ngữ của thực dân Pháp ở Việt Nam là phù hợp với quy luật của lịch sử, phương Tây với tàu chiến và kỹ thuật hiện đại tất yếu nắm quyền bá chủ ở phương Đông lạc hậu. Công sứ E. Aymonier còn đề nghị thay thế hẳn tiếng An Nam quá sơ khai và thiếu tương lai bằng tiếng Pháp. Nay, cũng theo quy luật vĩnh cửu ấy, lịch sử bỏ bom lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đại Đế quốc Nhật Bản, cũng với tàu chiến hùng hậu và kỹ thuật tối tân, phương Đông quay lại đè cổ phương Tây đã suy đồi lại suy thoái. Hai: Hán tự muôn phần ưu việt. Nó sâu sắc hơn hẳn những chữ cái La-tinh thuần túy ký âm vô hồn. Nó làm nên những thành tựu huy hoàng từ thuở phương Tây trọc phú còn chưa nứt mắt. Nó đủ sức ghi những ngôn ngữ khác nhau nhất, từ tiếng Hán hay tiếng Việt đơn âm đơn lập đến tiếng Nhật hay tiếng Hàn đa âm chắp dính. Vì thế nó chắc chắn chuyển tải được các ngôn ngữ hòa kết phương Tây và vô cùng thích hợp để đảm đương vai trò là hệ thống văn tự phổ quát toàn thế giới.
Học giả Trung Quốc tên Li tán đồng nhưng đề nghị thêm, rằng các nước dùng tiếng Anh nên đi đúng con đường của các dân tộc Đông Á, nơi chữ Hán từng là văn tự chính thức hàng trăm năm như ở Nhật, Hàn, hay thậm chí cả ngàn năm như ở Việt Nam. Tuy khác là tiếng Anh đã có hệ ký tự La-tinh, song đó chỉ là một mớ ký hiệu vớ vẩn, thiếu hẳn tính mỹ thuật, không thể so với trình độ văn minh của chữ Hán. Trước hết có thể tạm giữ Anh ngữ vài năm ở tiểu học, song về lâu dài sẽ thay thế bằng Hán ngữ, tuy nhiên cũng thể tất cho đám dân hạ đẳng phương Tây đó bằng việc lưu một số từ tiếng Anh sơ đẳng. Kinh Thi là tác phẩm bắt buộc mà học trò phương Tây phải học khi mới cắp sách đến trường. Con đường Hán hóa đó rất gian nan, song có thể đặt lòng tin vào giới trí thức biết tiếng Hán: họ sẵn sàng làm tất cả để cộng tác, nhằm duy trì địa vị tinh hoa của mình, như kinh nghiệm rất dễ chịu ở các nước Đông Á đã cho thấy.
Các học giả khác lưu ý rằng với thi ca, âm điệu mới là thiết yếu. Li đồng ý rằng người Mỹ nói tiếng Hán thường giống một tai nạn, và nếu để họ ghi âm tiếng Hán bằng ký tự của họ, chẳng hạn my ma (đọc: mai ma), thì đố ai biết đó là mai táng mẹ (mai ma), mua tài mà (mại mà) hay bán ngựa (mãi mã). Học giả Nhật tên Ōno và học giả Hàn tên Kim thảo luận thêm về những trường hợp tương tự trong tiếng Nhật và tiếng Hàn, cuối cùng tất cả đều nhất trí lên danh sách một vạn từ tiếng Hán cần cấy vào tiếng Anh để làm phong phú và hoàn thiện vốn từ vựng Anh ngữ.
Bước vào chủ đề chính, ban đầu các học giả có một chút bất đồng, chẳng hạn trong thảo luận dùng chữ Hán để thể hiện những diễn đạt vốn không có trong tiếng Hán. Nên viết tên Anna với chữ ān (安) bình yên tích cực hay chữ àn (暗) u ám tiêu cực. Học giả Việt khoái chí đưa ra so sánh: viết bằng ký tự Việt, tên của vị Toàn quyền Doumer sẽ là Đù-Mẹ. Song trọng tâm công việc của ủy ban là Hán tự hóa Anh ngữ. Bốn học giả soạn ra một văn bản mẫu, bắt đầu bằng dòng sau đây:
佛爾 斯國爾恩得色文伊爾斯阿鉤
Âm Hán-Việt của nó: “phật nhĩ tư quốc nhĩ ân đắc sắc văn y nhĩ tư a câu” là một sự vô nghĩa hoàn hảo, song âm Hán gốc, “Fó ěr sī guó ěr ēn dé sè wén yī ěr sī ā gōu” thì tiết lộ một trật tự nào đó. Tinh ý có thể nhận ra fó+ěr = for, sī+guó+ěr = sgour, ēn+dé = end, sè+wén = sewen, yī+ěr+sī = yirs, ā+gōu = agou. Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là sáu từ mở đầu Gettysburg Address, bài diễn văn nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Mỹ: “Four score and seven years ago…” (“Tám mươi bảy năm trước…”), viết bằng chữ Hán.
Nhưng đấy mới chỉ là phần dễ dàng nhất của công cuộc xây dựng ngôn ngữ toàn cầu Hán-Anh. Sau đồng thuận về mục đích vĩ đại đó, Nhật, Hàn, Hán và Việt bắt đầu cãi nhau về phương pháp.
Việt lấy chữ Nôm ra làm mẫu. Chẳng hạn từ four, phải được viết là四佛, gồm chữ tứ (sì) biểu ý và chữ phật (fó) biểu âm. Các học giả khác phản đối kịch liệt. Tiếng Việt có gần 5000 âm mà đã mệt lử với đam mê phức tạp hóa vấn đề của chữ Nôm, tiếng Anh có trên 8000 âm mà theo cách này thì thất bại ngay từ đầu, như chữ Nôm đã thất bại thảm hại. Nhật đề xuất hệ thống chữ Kana, Hàn yêu cầu dùng bảng chữ cái Hangul và Hoa đương nhiên đặt Hán tự cổ điển trên tất cả.
Chẳng ai chịu ai, bốn vầng trán đã thêm nhiều nếp nhăn cao quý mà cuộc chiến chữ nghĩa không tìm ra hồi kết. Nhưng bên ngoài tháp ngà của họ, cuộc chiến đẫm máu bỗng kết thúc. Hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Nhật. Tướng Tōjō bị treo cổ sau khi tự sát không thành. Khối Đại Đông Á tan tành. Ủy ban Hán-Anh lẳng lặng giải tán. Thay vì học viết Gettysburg Address bằng chữ Nho, chữ Nôm, chữ Kana hay chữ Hangul, người Mỹ soạn cho Nhật một văn bản, Hiến pháp của một nước Nhật dân chủ, thay thế Hiến pháp Minh Trị.
Ơn Trời, một kết thúc may mắn, Singlish không thay thế English. Truyện Kiều viết bằng chữ Nôm với Hán tự đã rắc rối đủ. Có mỗi bộ râu của Từ Hải mà chúng ta còn không biết là râu hầm hay râu hùm. Toàn bộ Shakespeare viết bằng chữ Hán – chứ không phải dịch sang tiếng Trung – sẽ thế nào?
*
Hồi kết thật của Dự án Hán-Anh còn vui hơn và khiến tôi ngã ngửa: mãi đến những dòng cuối, ở phần vĩ thanh, tác giả mới bật mí rằng tất cả những điều vừa kể chỉ là một câu chuyện hư cấu, song ngay cả người trong ngành phần lớn đều tin ngay là thật. Một trò đùa nghiêm túc để bước vào thanh toán cái hình dung lãng mạn ngớ ngẩn về sự ưu việt của Hán tự, rằng nó thậm chí có thể trở thành văn tự phổ quát hoàn cầu. Và ông cũng bật mí về cách đặt tên bốn thành viên Ủy ban Hán-Anh, trong đó vị học giả Việt Nam tên đầy đủ là Phi De Giua (viết không dấu trong nguyên bản Anh ngữ). Không khó để nhận ra đó là phiên âm của “fille de joie”, gái làng chơi. Chỉ riêng chi tiết đó cũng đủ để cuốn sách này sẽ không bao giờ được dịch sang tiếng Việt.
Về phần mình, sau khi đánh vật với sự thật và huyễn tưởng về Hán ngữ của John DeFrancis, tôi nhẹ nhõm tha thứ cho mình cái tội đã ngán mài đũng quần cùng công an mật, đã ghét những cô nàng dưới mái, đã chối phụ thuộc vào các nhà sư, đã sớm ra đi khi chưa hẳn bước vào. Chẳng ai có thể sống hết những cuộc đời hấp dẫn.
03/9/2017
P.T.H.

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

ĐỘNG CƠ - LƯƠNG TÂM

Nhớ lại những bài đã viết đăng Facebook. Bài từ 3 tháng 6 năm 2016.Tưởng Blog cũng có, nhưng tìm mãi không thấy. Lưu lại đây để khỏi trôi mất theo thời gian. 
ĐỘNG CƠ - LƯƠNG TÂM
https://www.facebook.com/nguyenductoan.thang/posts/1113729822033939

Ân nhân của hàng nghìn Thuyền nhân Việt Nam những năm 70 - Rupert Neudeck, nhà báo theo chủ nghĩa nhân đạo người Đức, nổi tiếng về việc làm cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông năm 1979 bằng tàu Cap Anamur. Đã qua đời ngày 31/5/2016. 


Ông còn nổi tiếng với nhiều công tác thiện nguyện khác ở I rắc, Apganistan, … Ông có 1 tác phẩm xuất bản năm 2005: "Ich will nicht mehr schweigen. Recht und Gerechtigkeit in Palästina" (Tôi sẽ không im lặng nữa. Luật pháp và Công lý ở Palestine) nhằm bênh vực những người Palestine. (https://vi.wikipedia.org/wiki/Rupert_Neudeck) Phải chăng tên tác phẩm ấy cũng gần gũi với câu: Đừng im lặng của MC Phan Anh. Câu chuyện hot. Mình ở xa, không trong cái vòng xoáy „cá -mú sắt- thép biểu -tình dân- chủ đảng- trị“ này nọ. Nhưng không khí Facebook là 1 làn không khí tự do. Một kiểu tự do mà chính con người thực sự khát khao, nhưng trong đời thường lại rụt rè không dám phô bày và phải bày ra trên Facebook. Đó là cái hấp dẫn của Facebook. Có 1 hay 2 người Đức mà tôi hỏi chuyện, khi nhắc đến Facebook thì họ phẩy tay quầy quậy, coi đó là trò con nít, nhưng thực sự thì chính họ ai cũng có 1 tài khoản mạng xã hội không hề chối cãi. Nhớ lại nững câu chuyện tình ma quái trong môn Văn học Trung đại thời Sinh viên, như vang vang lời thầy Nguyễn Kim Sơn. Rằng những chuyện dâm tình ma quái như thế, như là ẩn ức 1 khát vọng về tự do luyến ái hoan lạc, của con người trong vòng kiềm tỏa đạo đức của Nho gia phải thác gửi vào những câu chuyện tình với … Ma. Vâng con người ta muốn tự do hoan lạc, khát khao dục vọng ái tình, nhưng lại đổ thừa cho ma quỷ, để rồi 1 lát sau lại chui vào cái áo quan Nho gia vuông thành sắc cạnh. Và những tuyệt tác văn chương tình ái thì liệt vào hàng dâm thư. Nhưng kỳ lạ thay, dâm thư lại còn được lưu truyền đến ngày nay chẳng kém gì thánh thư, kinh thư cả. 
Facebook, nơi các anh các chị chụp ảnh những giây phút thăng hoa ngộ nghĩnh của đời mình, những địa danh mà anh chị mong lưu dấu, từ cái nắp cống cho đến con cái, bố mẹ anh chị lúc quây quần, các công trình thành tựu anh chị gặt hái, ý kiến này nọ ... đủ thứ khác, ... Ai mà đồng cảnh ngộ thì anh chị like cho 1 cái động viên. Vì cảm xúc nó trùng hợp kỳ lạ mà người ta gọi là đồng cảm đấy. Chả biết động cơ là gì! (nhưng chắc là có động cơ/ khoe khoang. Hay nói nhẹ hơn là đồng cảm xúc- vì là người biết thông cảm với những khoảnh khắc đăng của đối tượng.) Nhưng bên cạnh đó có nhiều người biết lợi dụng Facebook để truyền tin cho nhanh, chia sẻ gây tạo cảm xúc, biểu đạt suy tư tình cảm ... cũng ná ná như các anh các chị thôi. Chả biết động cơ là gì (nhưng chắc là có động cơ/ chia sẻ cảm xúc và suy tư/ đánh bóng tên tuổi). Cái sự đồng cảm của con người phải nói là như nhau. Nhưng cái vấn đề là ở chỗ nhận thức của con người về giá trị lợi ích thì khác nhau nên định hướng hành vi khác. 
Khi nhiều người muốn khoe khoang cảm xúc yêu nước thương nòi, đấu tranh vì môi trường, vì lợi ích nghìn năm của dân tộc. Họ vì họ ư! Đúng! Điều đó đúng cả 2 nghĩa vì được phô bày bản thân và vì lợi ích của tương lai. Và một số người khác thì bình tĩnh quan sát và tìm cách lý giải theo cách của mình, coi đó là 1 hiện tượng xã hội, tâm lý cộng đồng, đám đông, ... Họ tách mình ra khỏi cảm xúc chung để đưa nó vào trạng thái đối tượng nghiên cứu (đôi khi đối tượng nghiên cưu lại chính là nguồn cảm hứngs cho nghiên cứu đấy nhé). Họ có đầy đủ mọi chứng cứ khoa học, dịch từ Anh/Pháp/Trung/ Nhật ... Và dường như đám kia là 1 đám rảnh việc. Những triết lý họ đưa ra, từ NĂng Lực Media Litracy (1 dạng năng lực để sống trong môi trường đa truyền thông), từ Văn hóa bình tĩnh không bị nhiễm độc mạng Xã hội, ... Rồi từ ông quỷ ông quỳ nào nữa. Nhưng rồi thì Nghĩa lộ vẫn nguyên Nghĩa lộ, khi luận thuyets không đủ hấp dẫn số đông, người ta cười trừ, vin vào những thứ khôi hài, như ... Nhạc Chế chẳng hạn. những bài hát Chế ỷ ôi: Đừng đưa nhau lên Face, đừng đưa nhau lên Face, (Nhại lại bài Đừng xa em đêm nay, đừng xa em đêm nay ). Và nói chung là họ vô tư, một cách có trật tự và thờ ơ 1 cách có khoa học, phản biện có lý thuyết với trào lưu rảnh rỗi kia. Trong khi đó họ vẫn sử dụng Face để Show hàng của họ (não trạng Double – think).. Nhưng sâu xa thay là họ muốn đám kia bị phản biện và ứng dụng theo dòng lí thuyết vòng vèo của họ. Vì họ là những người ơn cao lộc nước nên cũng khó mà hiểu thấu cái tâm của đám Tiện Hạ Sĩ, họ ấm êm với vòng xoáy em dịu của cuộc đời đang càng ngày càng êm dịu (theo đúng nhạc của họ: Học giởi, ra trường, công việc, vợ con, thăng chức ... ). Đúng như Kinh Phật nhắc, đến 1 loại người ở cái xứ xử xừ xừ gì mà sung sướng đủ đầy không thấu khổ đau khó tu thành Phật quả được. 
Và quay lại tôi không hiểu cái ông người Đức theo chủ nghĩa nhân Đạo tên là Rupert Neudeck kia lập ra cái Tàu Cap Anamur để đi cứu Thuyền nhân Việt Nam vì động cơ gì ? (chắc là có. Liệu có phải là Tấm Bia Vinh Danh ông của Việt Kiều dựng ở Hamburg/ Bronzetafel in Hamburg mit Danksagung der vietnamesischen Flüchtlinge. ) 

Và những Thuyền Nhân đã sẵn sàng bỏ mạng trên những chiếc ghe bé nhỏ để ra khơi. (chắc là có động cơ. Nhưng không phải để đem cái ghe đó dựng đài tưởng niệm ở Trosdorf/ Fluchtboot, das Ende April 1984 von der Cap Anamur im südchineschen Meer aufgefunden wurde. Heute steht es als Denkmal in Troisdorf).

Và hơn hết tôi nhớ đến 1 cái thực sự không có "động cơ", nhưng nó lại là "động cơ" cho mọi hành vi đó là Lương Tâm. Đôi khi Lương Tâm bị 1 vài vấn đề nó sẽ không thể làm động cơ cho hành vi cơ bản cần phải có, và hành vi đó bị lệch pha, đó là hành vi im lặng, hoặc phát ngôn ngược với những điều Lương Tâm lành lặn phải tỏ bày.

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

Chữ Tây và chữ Hán / Cao Xuân Hạo (†)

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=83&rb=06Cao Xuân Hạo
Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn?

Từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX trở về trước, người châu Âu thường yên trí rằng mình dùng thứ chữ viết hợp lý nhất, khoa học nhất, tiến bộ nhất. Vì thứ chữ ABC của họ là thứ chữ ghi âm. Năm 1897, Hội ngữ âm học quốc tế ra đời cùng với bảng chữ cái gọi là Tự mẫu phiên âm quốc tế - International Phonetic Alphabet (IPA), được coi là lý tưởng của lối chữ ghi âm. Trong mấy thập kỷ kế theo, người ta thi nhau lên án những cái "bất hợp lý" trong hệ thống chính tả của những thứ tiếng như tiếng Pháp và tiếng Anh ("phát âm một đàng viết một nẻo") và những đề án cải cách chính tả thi nhau lần lượt ra đời.

Thế nhưng gần một trăm năm đã qua, mà không có một đề nghị nhỏ nào trong các đề án đó được thực hiện.

Thật là may, vì đó là một việc không thể làm được, và không nên làm một chút nào. Niềm tự hào ấu trĩ về lối viết ABC cũng như những cáo trạng ồn ào về tính "bất hợp lý" của chính tả Pháp, Anh và những đề nghị cải cách chữ viết đủ kiểu đều xuất phát từ một sự lầm lẫn thô thiển: lúc bấy giờ người ta chưa hiểu cho lắm là chữ viết có chức năng gì trong đời sống và trong nền văn minh, và nó cần phải như thế nào mới làm tròn được chức năng ấy ở mức tối ưu.

Kể từ những năm 30 trở đi, sau những công trình của Trường ngữ học Prague nêu rõ những chức năng và yêu cầu của ngôn ngữ viết khiến cho nó khác với ngôn ngữ nói, những tiếng kêu gào trước kia dần dần im lặng, và chẳng còn mấy ai buồn nhắc đến nữa.

Người ta đã hiểu rằng không có lấy chút cơ sở khoa học nào để khẳng định rằng chữ viết ghi âm là "khoa học nhất", và thứ chính tả lý tưởng là "phát âm thế nào viết thế ấy".

Kịp đến thập kỷ 70, những bước tiến lớn của ngành ngữ học và những phát hiện của âm vị học về khái niệm "tổ hợp âm" càng khiến cho các định kiến cũ lộ hết tính chất vô căn cứ của nó.

Số là ở phương Tây người ta nhận thấy có một số trẻ em không sao học đánh vần được, và do đó học mãi cũng vẫn không biết viết. Số này rất ít, nhưng không ít đến mức có thể bỏ mặc làm ngơ, nó chiếm khoảng 0,01% đến 0,02% số trẻ em ở lứa tuổi học tiểu học. Nghĩa là trong một triệu em có khoảng từ một ngàn hai đến hai ngàn em như thế. Người ta gọi "chứng bệnh" này là alexia (chứng không đọc chữ được) hay dislexia (chứng mất khả năng đọc chữ). Những em này thường được coi là "khuyết tật" hay thậm chí "quá đần độn" không hy vọng gì trở thành người có chút ít học thức được.

May thay, có những nhà ngữ học nảy ra cái ý nghi ngờ rằng nguyên nhân của tình trạng này không phải ở các em, mà chính là ở lối viết ABC. Năm 1978, một nhóm ngữ học Mỹ quyết định làm một cuộc thí nghiệm. Họ mở một số lớp gồm toàn trẻ em "khuyết tật" mắc chứng alexia và dạy chương trình tiểu học cho chúng bằng chữ Hán (xin bạn đọc hiểu đúng cho: dĩ nhiên các em ấy học tiếng Anh và học các môn khác bằng tiếng Anh, nhưng các từ tiếng Anh đều được viết bằng chữ Hán. Chẳng hạn, câu He came to a high mountain được viết bằng sáu chữ Hán là "Tha đáo cập nhất cao sơn"). Sau năm đầu, các em đọc và viết được 1600 từ đơn, và về khả năng hấp thu tri thức, chúng tỏ ra không "đần độn" chút nào, mà kết quả học tập của chúng lại có phần trội hơn các em học tiểu học bằng chữ ABC.

Người ta hiểu ra rằng các em này chẳng phải có khuyết tật gì, chẳng qua trong não của chúng hình như công năng của bán cầu bên phải (tri giác tổng hợp) trội hơn công năng của bán cầu bên trái (tri giác phân tích) cho nên chỉ nhận dạng được chữ Hán vốn có hình thể đặc trưng rất rõ, mà không tách được các từ ra từng âm tố - từng chữ cái.

Ðể hiểu rõ hơn hiện tượng này, ta hãy xét qua cơ chế của việc đọc chữ. Khi đọc, người biết chữ thành thục không hề đánh vần. Họ nhận ra các từ ngữ qua diện mạo chung của chúng, không khác gì ta nhận ra một vật, một người quen không phải bằng cách lần lượt nhận ra từng chi tiết (mắt, rồi mũi, rồi miệng, rồi tai ...) mà nhận ra ngay tức khắc toàn thể diện mạo của vật hay người đó [1] .

Trong tâm lý học hiện đại, khái niệm "diện mạo tổng quát" này được gọi là Gestalt. Cái Gestalt này càng gọn ghẽ (prégnant) bao nhiêu thì việc nhận dạng "tức khắc" càng dễ dàng và tự nhiên bấy nhiêu. Về phương diện này, chữ Hán hơn hẳn chữ Tây. Mỗi chữ Hán là một Gestalt tuyệt hảo, trong khi cái chuỗi chữ cái La-Tinh chắp thành một hàng dài không làm thành một hình ảnh có thể nhận diện dễ dàng trong một chớp mắt như chữ Hán. Ta thử so sánh cách viết mấy từ sau đây, trong cách viết bằng chữ Hán được đặt cạnh cách viết bằng chữ Tây (ABC)* :



Không có gì đáng lấy làm lạ nếu sách chữ Tây rất khó đọc theo cách "Nhất mục thập hàng" như sách chữ Hán.

Có khá nhiều người Việt nghĩ đến những ai đã đem chữ "Quốc ngữ" thay cho chữ Hán, chữ Nôm với một lòng biết ơn sâu xa, cho rằng việc đó đã đưa nước ta tiến vào hiện đại. Nghĩ như thế tôi e có phần vội vàng. Chẳng lẽ sự tiến bộ củaTrung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hương Cảng, Ðại Hàn, Singapore không đủ để chứng minh sự sai trái của ý nghĩ đó hay sao?
Năm 1985, trong một cuốn sách nổi tiếng, cuốn Le nouveau monde sinisé (Thế giới Hán hóa ngày nay), Léon Vandermeersch [2] khẳng định rằng sở dĩ những "con rồng" nói trên thành rồng được chính là vì họ vẫn dùng chữ Hán [3] . Chỉ còn một nước chưa thành rồng được : Việt Nam. Nước này đã bỏ mất chữ Hán mà trước kia nó đã từng dùng Dĩ nhiên, ta có thể không đồng ý với học giả này, nhưng khó lòng có thể nói rằng đó là một chuyện hoàn toàn ngẫu nhiên.
Chữ ABC đối với đa số quả có một ưu điểm lớn là họcrất nhanh. Muốn đọc chữ ABC chỉ cần học vài tháng, trong khi muốn viết 1200 chữ Hán thông dụng thôi đã phải mất một năm. Ưu điểm đó khiến cho chữ "quốc ngữ" đắc dụng trong thời Pháp thuộc, khi mà người ta cần thanh toán việc học đọc học viết tiếng mẹ đẻ cho nhanh để chuyển sang học chữ Pháp và tiếng Pháp. Nó cũng đắc dụng trong thời kháng chiến, khi cần thanh toán mù chữ cho thật nhanh để còn lo đánh giặc.

Nhưng trong hoàn cảnh độc lập, trong hòa bình, trong sự nghiệp xây dựng văn hóa, cái ưu thế này không còn lớn như trước nữa. Trong những điều kiện bình thường, dành vài ba năm tiểu học cho việc học chữ (đồng thời các môn khác), không phải là một việc gì quá phí phạm. Tốc độ và chất lượng giảng dạy ở các trường tiểu học, trung học và đại học ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Hương Cảng, Singapore không hề kém so với các nước dùng chữ Tây, trong đó có Việt Nam.

Trong hoàn cảnh lịch sử của nước ta còn có một điều làm cho chữ "quốc ngữ" đâm ra có vẻ ưu việt đặc biệt: đó là sự tồn tại của chữ Nôm hồi bấy giờ. Trước khi có chữ "quốc ngữ", ông cha ta dùng chữ Nôm để viết tiếng mẹ đẻ. Mà chữ Nôm thì khó hơn chữ Hán rất nhiều (theo một chuyên gia Hán Nôm, nó khó gấp 5 lần). Chính nhờ sự tương phản với thứ chữ phức tạp, khó học ấy mà chữ "quốc ngữ" có vẻ như "tiện"hơn hẳn.

Giá hồi ấy ông cha ta không sáng tạo ra chữ Nôm, mà cứ dùng chữ Hán để viết cả văn Hán lẫn quốc văn như người Nhật Bản đã làm (và hiện nay vẫn làm), nghĩa là mỗi chữ có hai cách đọc, Hán âm (Kan-on) và Quốc âm (Go-on) [4] , thì tình hình có lẽ đã khác.

Tiếng Nhật là tiếng đa âm tiết; thế mà người Nhật vẫn dùng được chữ Hán (Kanji) cho hầu hết các văn bản, tuy thỉnh thoảng có thêm như chữ Kana (ghi từng âm tiết) cho các phụ tố (như no: chỉ sinh cách, de chỉ vị cách , ni chỉ tặng cách v.v.). Nhưng nếu vậy làm sao người đọc biết được một chữ nào đó cần được đọc theo Hán âm hay theo quốc âm? Chẳng hạn nếu viết 
, làm sao biết lúc nào đọc là sơn, lúc nào đọc là núi? Trong đa số trường hợp, văn cảnh sẽ mách cho ta biết. Chẳng hạn nếu thấy viết 高山上 ta sẽ biết phải đọc là cao sơn thượng, còn nếu thấy 上山高, ta sẽ biết đó là trên núi cao, trừ phi có những lý do khác không cho phép đọc như vậy. Nếu cần, có thể dùng một vài dấu phụ. Kinh nghiệm hàng chục thế kỷ dùng chữ Hán để viết tiếng Nhật ít ra cũng chứng minh được rằng lối viết nói trên có thể dùng một cách có hiệu quả. Tiếng Nhật, vốn là ngôn ngữ chắp dính (agglutinating) đa tiết, đã dùng được chữ Hán như vậy, thì tiếng Việt, vốn cùng loại hình đơn lập như tiếng Hán, lại càng dễ dùng chữ Hán hơn.

Tiếng Việt có một cấu trúc ngữ âm khác hẳn các thứ tiếng châu Âu. Trên hơn 320 trang sách, người viết mấy dòng này đã chứng minh rằng âm vị học của phương Tây (vốn là nền tảng lý thuyết của cách viết ABC) không thể đem ứng dụng để nghiên cứu và phân tích những thứ tiếng đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt hay những thứ tiếng chắp dính như tiếng Nhật, hay những thứ tiếng "có sườn phụ âm" như tiếng A Rập, tiếng Do Thái v.v. Nó chỉ có giá trị và hiệu lực đối với các ngôn ngữ biến hình. Việc phân tách mỗi tiếng (âm tiết) ra thành nhiều âm tố (speech sound), rồi thành nhiều âm vị (phonems), là một hiện tượng kỳ quặc chỉ có thể có với một cấu trúc ngữ pháp trong đó mỗi tiếng có thể gồm hai ba yếu tố có nghĩa (chẳng hạn, từ shla trong tiếng Nga (1 âm tiết) gồm có ba hình vị (ba yếu tố có nghĩa): sh có nghĩa là "đi", l có nghĩa "quá khứ", a có nghĩa "giống cái" [5] .

Từ đó ta có thể thấy rõ rằng chữ viết ABC, vốn phản ánh cái cấu trúc ấy, khó lòng thích hợp với tiếng Việt và cách tri giác của người Việt đối với tiếng mẹ đẻ của họ. Tiếng Việt (và khá nhiều thứ tiếng khác ở Việt Nam), tiếng Hán, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Myanmar, tiếng Malagasy (Madagascar), tiếng Mixteko, tiếng Mazateco, v.v. là những ngôn ngữ âm tiết tính, trong đó âm tiết là một đơn vị có cương vị ngôn ngữ học minh xác, lại không thể phân tích ra thành những "âm tố" có cương vị tương đương, trong khi trong các thứ tiếng châu Âu chính âm tố mới có cương vị của những đơn vị ngôn ngữ ("âm vị") còn âm tiết lại không có cương vị ngôn ngữ học gì. Không phải ngẫu nhiên mà châu Âu chính là nơi phát minh ra chữ viết ABC. Và sở dĩ thứ chữ này được phổ biến ra khắp thế giới, khônh phải vì một nguyên nhân ngôn ngữ học, mà chính là vì địa vị thống trị của các nước đế quốc chủ nghĩa ở châu Âu.

Hiện nay tất cả các khách du lịch đến nước ta đều kinh ngạc trước tình trạng người Việt không đọc được những dòng chữ đề trên các đền đài và di tích lịch sử. Họ nói "Các ngài là những người mù chữ ngay trên đất nước mình". Nạn mù chữ Hán cũng là cội nguồn của việc hiểu sai các từ Việt gốc Hán. Cũng như người Pháp không thể giỏi tiếng Pháp nếu không biệt tiếng La Tinh, người Việt Nam cũng không thể giỏi tiếng Việt nếu không biết chữ Hán, thứ chữ đã từng được dùng để viết hơn 70% số từ của tiếng Việt, những từ mà ngày nay vẫn được dùng với một tần suất rất cao.

Việc học chữ Hán không thể không được đưa vào chương trình trung học.

Ngày nay nhiều người, trong đó có cả những nhà ngữ học phương Tây, đã thấy rõ những ưu điểm lớn lao của chữ Hán. Có người còn tiên đoán rằng chỉ vài ba mươi năm nũa, cả thế giới sẽ nhất loạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc (theo họ, đến lúc ấy các hàng rào ngôn ngữ - barrières linguistiques - xưa nay vẫn ngăn cách các dân tộc, sẽ bị vô hiệu hoá, và đến lúc ấy nhân loại sẽ giao tiếp với nhau dễ dàng gấp trăm lần so với hiện nay.quay lại với chữ Hán. Việc từ bỏ chữ Hán để chuyển sang chữ Tây là một sự kiện không còn hoán cải được nữa rồi. Nhưng, cũng như một trận hồng thủy, những tác hại của nó có thể khắc phục được: ta còn có thể học và nghiên cứu chữ Hán như một di sản của văn hoá dân tộc, và do đó mà bảo tồn một truyền thống quý giá đi đôi với những nghệ thuật cao cả như thư pháp, vốn là tài sản chung của các dân tộc Viễn Ðông và có thể làm thành một mối dây liên lạc giữa các dân tộc rất gần gũi nhau về văn hoá này.

(Ðăng lần đầu trên Kiến thức ngày nay số 14, 15-6-1994) [6] 

[1] Do đó, lối học đọc thông qua "đánh vần" là một cách làm sai trái ngay từ nguyên lý. Bây giờ trên thế giới không còn mấy nơi dùng cách học này

[2] Hiện nay là Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ (École francaise d´Extrême-Orient- trước đây ở Hà NộI, bây giờ ở Paris).

[3] Léon Vandermeersch 1985, Le nouveau monde sinisé. Paris: Seuil.

[4] Chẳng hạn, cách đọc Kan-on của chữ SƠN…* là [san], còn Go-on là [yama].

[5] Cao Xuân Hạo 1985, Phonologie et linéarité. Réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine. Paris: SELAF.

[6] Sau khi KTNN đang bài này, toà soạn có nhận đưọc nhiều ý kiến phản đối tác giả, trong đó có một bức thư viết :"... hình như ông Hạo học quá nhiều thứ vô bổ cho nên quên mất thứ quan trọng nhất: đạo làm người. Một người đã đưa nước Việt Nam từ cõi man rợ đến ánh sáng văn minh rực rỡ của châu Âu như Alexandre de Rhodes mà ông nỡ quên ơn thì thử hỏi ông đi học bấy nhiêu năm để làm gì?
Hoá ra công ơn của ông A.de Rhodes là thế. Tác giả bức thư không biết rằng vị thừa sai này tuyệt nhiên không góp một chút gì vào quá trình xây dựng chữ quốc ngữ (từ đầu đến cuối, đó là công sức của các giáo sĩ Bồ Ðào Nha, như những tài liệu mới công bố sau này đều xác nhận). Vả lại nước ta không thể coi là một nước "man rợ" trước khi có chữ "quốc ngữ", và việc Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và hàng trăm nuớc khác không la tinh hoá chữ viết mà vẫn tiến nhanh hơn ta nhiều, cũng cho thấy rằng cái "ơn" của thứ chữ này không lớn đến mức ấy. 
Nguồn: ăng lần đầu trên Kiến thức ngày nay số 14, 15-6-1994


Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2017

HOÀNG TRIỀU SỬ KÝ皇朝史記 R.2258 Thư viện quốc gia Hà Nội

HOÀNG TRIỀU SỬ KÝ皇朝史記
Tác giả: Dương Lâm楊琳
Chép sách: Trần Văn Giáp陳文 玾
Viết giới thiệu - Phiên Quốc ngữ: Nguyễn Đức Toàn阮德全

Hoàng Triều Sử Ký 皇朝史記(HTSK),(Mã: R.2258) tại Thư viện Quốc Gia (TVQG), là 1 bộ sử Nôm. Do Dương Lâm dịch soạn, được Trần Văn Giáp chép tay lại năm 1972. Nguyên bản đóng chung với tập Ức Trai Quân Trung Từ Mệnh Tập tịnh Bổ Biên Hiệu Khám biểu抑齋軍中詞命集並補編校勘表 (QTTMBB), (Mã: R.2258/2-3). 




Trong những năm còn ở trong nước, tham gia làm Thư mục sách Hán Nôm (TMSHN) tại TVQG năm 2006. Chúng tôi đã đọc qua văn bản này và sao chụp lại để nghiên cứu lâu dài. Lúc đó, chúng tôi không chụp lại QTTMBB. Đây là 1 điều đáng tiếc, về sau chúng tôi không tìm lại được mã ký hiệu này nữa. Do phía Thư viện không tìm được sách này, sau đợt Số hóa tài liệu Hán Nôm, liên kết cùng nhóm Nôm Na (Nom Foundtion). Mặc dù số lượng sách Hán Nôm tại TVQG không nhiều, và đã đưa lên online (http://www.nomfoundation.org/?uiLang=vnhttp://hannom.nlv.gov.vn/, nhưng chúng tôi cũng không tìm được dấu vết của cả 2 tập sách trên (?).
Quay trở lại vấn đề, chúng tôi đã đọc và phiên dịch toàn bộ HTSK. Qua đó chúng tôi nhận thấy đây là 1 văn bản có giá trị. Những thông tin trong đó thì chép lại tổng quát theo chính sử. Nhưng những lời bàn, lời bình trong sách thì lại là một tâm trạng yêu nước, thương dân nồng nàn. Là tinh thần dân tộc, là tâm hồn của những kẻ sĩ cuối kỳ phong kiến quân chủ Nho học. Nguyên bản chắc chắn còn đến tận năm 1972, và Trần Văn Giáp đã cẩn thận chép lại bằng giấy bản, bút sắt, mực xanh, chấm câu đỏ. Không những thế bản chép này còn được bồi dán kỹ càng. Đọc xong những dòng tâm huyết ấy. Chúng tôi như được sống lại với tâm trạng của Dương Lâm, nhìn lại lịch sử vương triều Nguyễn. Kết sách, cảm xúc như một lời cầu nguyện cho nước nhà thoát vòng nô lệ, bước lên con đường tự cường. Phải nói đây là một Bộ sử Nôm về nhà Nguyễn, dưới nhãn quan của một nhà Nho quan liêu, có tinh thần dân tộc. Từ trước đến nay, đánh giá về nhà Nguyễn, chúng ta thường quy chụp và định hướng một cách sai lầm là phân chia Công – Tội của vương triều này với vận mệnh đất nước (thường bị vu cho Công ít – Tội nhiều). Cũng như dưới sự kiểm duyệt, định hướng tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản, phủ nhận hết công lao của vương triều này. Nhưng qua ngòi bút của Dương Lâm, chúng ta thấy rõ hơn những trang sử hào hùng của nhà Nguyễn, từ chúa khai sáng đầu tiên là Nguyễn Hoàng. Và xu thế tất yếu của lịch sử đương thời. Từ đó thêm cách nhìn mới, của những người cũ về vương triều cuối cùng mà cũng là lớn mạnh nhất. Khi đọc qua tác phẩm này, chúng tôi đã có một mong ước, là phiên dịch và ấn bản. Hầu cho dòng họ Hoàng tộc nhà Nguyễn-Nguyễn Phước tộc, được thấy thêm những trang hào hùng của ông cha họ, bên cạnh những gì đã bị bôi nhòa. Mà cũng là thỏa lòng những nhà Nho cuối mùa như Dương Lâm với tâm trạng đau đáu với vận mệnh dân tộc. Tấm lòng ấy đã được Trần Văn Giáp cảm nhận, và giờ đây được chúng tôi, những thế hệ hậu sinh hiếu cổ, đón nhận trân trọng sau những thập niên im lặng. Chúng Tôi đã cố gắng tìm cách ấn bản, nhưng không hiệu quả. Có lẽ 1 bộ sách còn ưu ái vua hiền tướng giỏi nhà Nguyễn, cũng khó được hoan nghênh ở những nhà xuất bản - nơi có các Chi bộ Đảng hoạt động, làm việc theo chỉ tiêu và định hướng. Nơi tàng sách thì đã không còn. Nay tôi xin đăng lại bản phiên Quốc ngữ cũng như Nguyên văn sao chụp HTSK lên Blog yeuhannom để mọi người cùng đọc.
Các bài viết liên quan chúng tôi đã viết về tác phẩm này có:
Tạp chí Hán Nôm, Số 2 (105) 2011, Tr.76 – 80 /http://yeuhannom.blogspot.de/2017/01/gioi-thieu-van-ban-hoang-trieu-su-ky.html
Tóm tắt bài viết Nghiên cứu Thường niên 2017/ http://yeuhannom.blogspot.de/2017/09/hoang-trieu-su-ky-hoi-thao-thuong-nien.html
 Vì giới hạn của Blog, chúng tôi sẽ giới thiệu nguyên văn trong 1 bài khác (Ảnh chụp nguyên bản tại Thư Viện Quốc Gia Hà Nội - 2006: http://yeuhannom.blogspot.de/2017/09/r2258.html)





HOÀNG TRIỀU SỬ KÝ皇朝史記
Phụng dịch quốc âm: Mộng Thạch 夢石
Triệu Tổ肇祖[1]
Gia Dụ嘉裕[2]
Hiếu Văn孝文[3]
Hiếu Chiêu孝昭[4] (Từ nay trở xuống xưng là Chúa)
Hiếu Triết孝哲[5]
Hiếu Nghĩa孝義[6]
Hiếu Minh孝明[7]
Hiếu Ninh孝寧[8]
Hiếu Vũ孝武[9]
Hiếu Định孝定[10]
Cao Hoàng高皇[11] (Niên hiệu là Gia Long, ở ngôi 18 năm)
Thánh Tổ聖祖[12] (Niên hiệu Minh Mệnh, ở ngôi 21 năm, là con thứ vua Gia Long)
Hiến Tổ憲祖[13] (Niên hiệu Thiệu Trị, ở ngôi 7 năm, là con trưởng vua Minh Mệnh)
Dực Tôn翼尊[14] (Niên hiệu là Tự Đức, ở ngôi 36 năm, là con thứ vua Thiệu Trị)
Phế Đế廢帝[15] (Niên hiệu là Hiệp Hòa, ở ngôi 4 tháng)
Giản Đế簡帝[16] (Niên hiệu là Kiến Phúc, ở ngôi một năm, là con nuôi thứ ba vua Tự Đức)
Xuất Đế出帝[17] (Niên hiệu Hàm Nghi, là con nuôi vua Tự Đức)
Cảnh Đế景帝[18] (Niên hiệu là Đồng Khánh, ở ngôi 3 năm, là con nuôi vua Tự Đức)
Thành Thái成泰[19] (Là niên hiệu, ở ngôi 19 năm, là cháu vua Tự Đức, là con trưởng đức Cung Huệ[20])
Triệu Tổ là vua đời thứ nhất tổ nhà Nguyễn ta, con đức Hiếu Khang, là người làng Gia Miêu ngoại trang, Tống Sơn huyện, Hà Trung phủ, Thanh Hóa tỉnh. Họ là Nguyễn. Bây giờ xin kể Phả hệ thế thứ Đức Liệt Tổ thủa xưa. Đức tổ đầu hết là vua Triệu Tổ, khi trước làm quan nhà Lê [1a]
Chức là Hữu Vệ Tiền tướng quân. Gặp lúc nhà Lê mất nước, lánh đi ở Ai Lao. Lập  vua Trang Tôn làm vua, đem quân về đánh Tây Đô (Thanh Hóa). Hận Mạc thị cam lòng tiếm nước, Lên Ai Lao tính ước phục thù
Tìm dòng nhà Lê dựng lấy làm vua, đánh Mạc kể hơn trăm trận.
Từ đó tiếng quân lan khắp, ngọn cờ đào đã chỉ đến Tây Đô.
Hay đâu hàng tướng độc sâu, quả bầu mới lại đưa vào tướng phủ.
Hàng tướng là Dương Vân[21] để thuốc vào quả bầu dâng cho ngài, ngài ăn phải rồi ngài mất.
Âu vàng bền vững đến giờ,
Cỏ cây đòi Tống sơn hà nhớ Chu[22]
Hỏi ra trước dựng cơ đồ
Phù Lê là nghĩa phục thù là trung
Sinh Thương[23] có chúa anh hùng
Lại điều nhân nghĩa cảm trong lòng người.

Lấy câu thứ nhất làm đầu
Tôn vương là nghĩa Xuân Thu[24] đó mà
Nhìn xem phong cảnh sơn hà
Nước non vẫn nước non nhà từ xưa
Tổ tông gây dựng cơ đồ
Nặng lòng ái quốc mới là thần dân
[1b]
Gia Dụ嘉裕, đức tổ đời thứ hai là vua Gia Dụ. Khi đầu làm quan nhà Lê, phong Đoan Quận công, sau vào làm quan trấn Thuận Hóa, Quảng Nam, đóng đô ở làng Ái Tử. Nghiệp vua triều nhà Nguyễn ta từ đó là đầu, đánh được tướng nhà Mạc là ngươi Lập Bạo ở sông Ái Tử, bắt được bao nhiêu quân lính của nhà Mạc, cho ở làng Tiên Khư, đặt ra làm ba mươi sáu phố (Nay là huyện Bái Ân). Rồi lại đánh nước Chiêm Thành, đặt ra được một tỉnh Phú Yên. Trong tỉnh ấy chia làm hai huyện là huyện Đồng Xuân, huyện Tuy Hòa.
Non sông dựng Nguyễn, chính sóc theo Lê.
Núi Hoành Sơn ngăn một giải từ đây. Ông Trạng Trình có câu rằng: “橫山一帶萬代容身Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân/ Hoành Sơn một dải, dung thân muôn đời”.
Đất Thuận Hóa dõi tám truyền bởi đó.
Giặc Bắc đánh tan quân Mạc. Bảo thần đà lan khắp bốn phương.
Cõi Nam mở rộng đất Chiêm, Nghiệp Thánh lại xây dựng muôn thủa.
Ái Tử chẳng khác Thai Phần[25]. Sự Lê chẳng khác tam phần sự Ân[26]
Nghiệp thánh phải có vua thần. Đạo thông mộc bản dần dần đến Chiêm
Mới hay thanh thủy thất đàm. Xem ra dâng nước là điềm hưng bang
Dẫu rằng một giải [2a] Đèo Ngang. Mà xưa khai đó nan gian đã nhiều
Đức Gia Dụ mới vào trấn Thuận Hóa đến làng Ái Tử, người ta dâng bảy chĩnh thanh thủy, là triệu được nước.
Hiếu Văn孝文. Đức tổ đời thứ ba là Hiếu Văn, nhà Lê cũng phong cho chức Thái Bảo Quận công, mới cải họ là Nguyễn Phúc, đặt một cái đồn ở tỉnh Cam Lộ. Từ đó mới có đường thông lên nước Ai Lao, nước Vạn Tượng, tỉnh Trấn Ninh, châu Quy Hợp.
Lúc ấy nhà Trịnh làm nhiều việc tiếm Lê, ngài đã có ý muốn đánh. Lại dùng được hiền thần là ông Đào Duy Từ[27] (Người xã Hoa Trai tỉnh Thanh Hóa), ông Nguyễn Hữu Tiến[28] (Người xã Vân Trai), ông Nguyễn Hữu Dật[29] (Người Quý Hương), đều là người hay cả. Ông Từ mới dâng kế cho ngài, là đắp một cái đồn ở làng Trường Dục. Sau lại đắp một cái đồn ở Nhật Lệ. Khi ta đã phòng bị được bền chặt tử tế rồi thì đem giả sắc văn. Nghĩa là nói từ nay, không chịu thần phục nhà Trịnh nữa. Cho nên nhà Trịnh đem quân vào đánh, nhưng không được . [2b]
Nay không phục Trịnh, trước vẫn theo Lê, nghiệp nhà nối lấy vua Tiên (dân gọi Gia Dụ là vua Tiên). Trong nước khen là chúa Phật (dân gọi ngài là chúa Phật). Đắp lũy sắt mà ngăn giặc nọ (Lũy Sắt đắp từ núi Trường Dục đến  Bờ Bể). Giữ giàng đã vững biên ngoài, đúc mâm đồng mà giả sắc kia, mưu kế cũng nhờ tôi giỏi.
Ông Đào Duy Từ tiến kế cho ngài, xin đúc cái mâm đồng có đáy, rồi để sắc vào trong, có chữ
矛而不Mâu Nhi Bất Dịch/ Chữ Mâu không có nét phảy(thành chữ Dư)
覔非見跡Mịch Phi Kiến Tích/Chữ Mịch không có dấu chữ Kiến(thành chữ Bất)
愛剪心長Ái Tiễn Tâm Trường/ Chữ Ái cắt mất chữ Tâm dài(thành chữ Thụ)
力來相敵Lực Lai Tương Địch/ Chữ Lực chữ Lai cùng địch lại nhau(thành chữ Sắc)
Nghĩa là: 予不受勑也Dư bất thụ sắc / Ta Không Nhận Sắc Vậy/
Mộng Thạch 夢石 bình
Vua văn sánh mấy Chu Văn[30]
Đã hơn văn đức lại nhiều võ công
Ai Lao vạn tượng đã đong
Trấn Ninh Quy Hợp vào trong bản đồ
Lũy sắt bền lấy tân đô
Giả sắc là tỏ nghiệp vua đó rồi
Có vua thì phải có tôi
Ngọa long phi hổ thực tài ưng dương
Than ôi nhớ đức tiền vương
Xem trong lúc thịnh mà thương lúc hèn
Hiếu Chiêu孝昭, là tổ thứ tư, là vua Hiếu Chiêu. Từ đó về sau thì xưng bằng chúa vậy. Lúc ấy đem quân đánh nhà Trịnh, mà lại lấy [3a] thêm một châu Bố Chính. Rồi lại đánh nhau mấy tướng Trịnh, đuổi đến sông Linh Giang, bắt được hơn ba vạn người.
Trận ấy là võ công đệ nhất, nghiệp chúa ba đời, võ công một trận. Hận Trịnh nọ đem lòng xâm tiếm, sông Linh Giang ra sức chống phen này. Đem quân ta quyết chí phục thù. Trại Toàn Thắng đặt tên từ thủa đó (Chú: Đem đại binh ra đánh cả được, nhân đặt tên là trại Toàn Thắng)
Mộng Thạch 夢石 bình
Xem trong các nước hoàn cầu
Mấy khi một trận hiến phù[31] ba muôn
Dẫu mà sông cạn đá mòn
Nước non ghi tạc vẫn còn tiếng xưa
Bao giờ như lúc bấy giờ
Trại quân toàn thắng may nhờ uy linh
Hiếu Triết孝哲, tổ đời thứ năm là vua Hiếu Triết, đánh nước Chiêm Thành lấy được đất, ngài đặt ra làm tỉnh Ninh Hòa, tỉnh Diên Khánh, lấy sông Thanh Lang làm giới hạn. Rồi lại sai tướng đem binh ra đánh quân Trịnh ở huyện Kỳ Anh, huyện Thạch Hà. Hai bên giữ nhau như vậy, kể đã sáu năm. Sau lại cho quân vào đánh nước Chân Lạp, bắt vua nọ. Tự đấy nước ấy mới triều cống nước ta. [3b]
Khi ấy nhà Minh phải mất. Có tướng nhà Minh, Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Chỉ Xuyên, Trần An Bình không chịu thần phục nhà Thanh. Đem ba nghìn quân, năm mươi chiếc thuyền đến cửa Đà Nẵng, cửa Tư Hiền xin thần phục nước ta. Ngài đã ra thương kẻ quy hàng mà cũng có ý mở mang bờ cõi. Lúc ấy tỉnh Gia Định còn thuộc về Chân Lạp (Nay sáu tỉnh Gia Định tức là Thủy Chân Lạp; nước Cao Miên tức là Lục Chân Lạp). Cho nên ngài hiểu dụ đất Chân Lạp để cho ngươi Ngạn Địch, ngươi Hoàng Tiến vào ở đất Gia Định, đất Định Tường; ngươi Chỉ Xuyên, ngươi An Bình ở đất Biên Hòa. Tự đó phố xá một ngày một đông. Tây, Tàu, Nhật Bản, Chà Bàn[32], Ấn Độ, thuyền các nước buôn bán đã dần dần đến Gia Định.
Từ cõi nam ra sức mở mang. Được người Bắc đem lòng quy thuận. Thuyền ngoại quốc bốn phương mây hợp. Bậc phú cường đã chen chúc sánh vai. Đất trong ngoài tám cõi gió thanh. Ngôi đoan củng lại êm niềm rủ áo.
Vận hay đời có vua hay
Mở mang bờ cõi một ngày một to
Cửa Tư Hiền sóng nhấp nhô
Hàng cờ đã thấy bể Ngô vượt tàu.
Tứ phương  [4a] dạt lái anh hào
Con nai bỗng chốc chạy vào tay ai
Mộng Thạch 夢石 bình
Chốn này là chốn phồn hoa
Chốn này là chốn của ta của người
Bức tranh sơn thủy vẽ vời
Tây Âu Đông Á đua bơi những ngày
Cơ trời ẩn phục lạ thay
Nghĩ nay mà lại nhớ ngày trước nay
Xem ra lời chép đã hay
Xem ra nước mắt giọt đầy giọt vơi

Bình thành công đức mấy sau
Ai ai cũng đội trên đầu biết bao
Hiếu Nghĩa. Đức tổ đời thứ sáu là vua Hiếu Nghĩa mới thiên đô vào phủ Phú Xuân, lấy núi Ngự Bình làm án, tức nay Kinh Thành
Dân mừng chúa Nghãi (lúc ở Bắc thời gọi là chúa Nghĩa). Nước lắm tôi trung, đất Phú Xuân vững đặt âu vàng, núi Bình Lĩnh dựng lên án ngọc. Một trăm dm non xanh nước biếc. Thú kinh đô đà vui vẻ hơn xưa. Nghìn muôn năm ao nung thành vàng. Ngôi thần thánh dõi truyền từ đó.
Mộng Thạch 夢石 bình
Núi Bình năm thức mây che
Sơn hà muôn dặm cũng về thần kinh
Có nước biếc có non xanh[4b]
Có người là hiểm vô hình để sau
Vận trời dẫu có bể dâu
Lòng trời còn giữ Kim âu đến giờ
Hiếu Minh孝明. Đức tổ đời thứ bảy là vua Hiếu Minh. Lúc ấy nước Chiêm Thành làm phản. Ngài sai đi đánh, cải tên nước nó làm Trấn Thuận Thành. Rồi sau lại cải là phủ Bình Thuận, phong cho con nó là Phiên vương, cai trị trong tỉnh ấy. Từ đó bắt nước nó ăn mặc theo như ta. Lại nghị định ra năm điều. Trong có một điều, hễ dân mình với dân Thuận Thành kiện nhau thì ông Phiên vương phải hội đồng với quan ta xử đoán; dân Thuận Thành kiện nhau thì Phiên Vương xử án một mình. Xem thế thì ta bảo hộ ngày trước đã khôn rồi. Ngài lại sai ông Nguyễn Văn Độ làm Kinh lược đất Chân Lạp, đặt ra làm phủ Phước Long. Kể ra đất thì được một nghìn dặm linh, mà đinh thì được hơn bốn vạn người. Lại đem những kẻ lưu dân vào mà lập xã thôn ấp phường. Làm ra sổ đinh điền. Còn bao nhiêu người Tàu ở đất Biên Hòa, lập ra xã Thanh Hà; ở đất Gia Định lập ra xã Minh Hương. Nghĩa là dẫu người Tàu mặc [5a] ý, đã ở đất ta thì cũng phải thuộc vào sổ đinh nước ta vậy.
Lúc ấy Chân Lạp hay ăn cướp. Ngài sai Nguyễn Văn Vân vào đánh. Đóng đồn ở làng Cù Úc (thuộc tỉnh Định Tường). Rồi lại cho quân khẩn điền để lấy lương thực cấp quân. Vì chốn ấy nhiều ruộng. Từ đó, tỉnh Định Tường đã thuộc về ta. Lại sai ngươi Mạc Cửu làm quan Tổng binh tỉnh Hà Tiên. Cửu là người Quảng Đông, gặp nhà Minh mất nước. Trước đến nước Chân Lạp ở tỉnh Sài Mễ, chiêu dân lập ấp, được bảy xã gọi là Hà Tiên. Nay hàng phục. Ngài mới cho chức Tổng binh, đóng doanh ở đất Phương Thành. Dân một ngày một đông. Từ đó, tỉnh Hà Tiên lại thuộc về ta. Lúc ấy ngài đúc ấn vàng, khắc chữ: “大越國阮主承鎮之寶Đại Việt quốc Nguyễn chúa thừa trấn chi bảo/ Dấu báu thừa trấn của chúa Nguyễn nước Đại Việt”. Cái ấn đấy đến đời đức Cao hoàng đã mất ba lần, rồi lại tìm được. Cho nên triều nhà Nguyễn ta lấy ấn đấy làm quốc bảo vậy.
Báo Chi 報之[33]bình
Xưa Chiêm ăn mặc theo ta
Ta nay ăn mặc còn là thói ta
Thấy hơn mà phải lo xa
Biết [5b] sau ăn mặc hóa ra thế nào
Bể Nam đã nổi phong trào
Gió Tây phất phới đưa vào văn minh
Ai ôi xem việc Chiêm Thành
Xem để nhắc nhở mừng thầm
Chữ rằng Đại Việt muôn năm dõi truyền
Ngôi thần nên có báu thiêng
Để cho những kẻ thùy diên giật mình
Trên còn cửu miếu tinh linh
Sáng nghiệp đã vậy thủ thành làm sao
Búa này Thuấn chịu Nghiêu[34] trao
Lo sao phải tính giữ sao cho bền
Mộng Thạch 夢石 bình
Ở đất ta thuộc nước ta
Chép đến câu ấy muốn sa giọt dài
Hỏi ta có ở đất ta
Hỏi ta lại hóa ra ngoài bạ ta
Nhớ xưa khai thác sơn hà
Những công liệt tổ thực là gian nan

Lòng trời nghĩ cũng sâu cay
Mượn tay hào kiệt giúp tay thánh hiền
Xem trong một tỉnh Hà Tiên
Chớ lo kẻ trước chớ phiền người sau

Nghiệp nhà dõi đến bảy truyền, ấn nước đúc ra một báu, lấy được đất Chiêm Thành, Chân Lạp. Cõi Nam đà [6a] mở rộng hơn xưa.
Đặt làm xã Thanh Hà, xã Minh Hương, người Bắc lại xum vầy từ đó.
Hiếu Ninh孝寧,  Đức tổ đời thứ tám là vua Hiếu Ninh. Lúc ấy quan Đề đốc Hà Tiên là Mạc Cửu đã chết rồi, cho con là Thiên Tích thay làm chức ấy. Lại rước những kẻ Nho học bên Tàu làm thầy, dạy dỗ cho dân nên Hà Tiên tự đó mấy biết sự học hành.
Từ mặt Bắc gặp khi yển vũ, thời phương Nam chăm việc tu văn.
Quyền Tổng binh cho con nối theo cha, mấy năm trước nhờ công khai thác. Việc cách tục lấy Hoa mà hóa Di[35], một phương dân mấy biết học hành.
Hà Tiên chức đã quen rồi, khéo khuôn nay cũng có người khéo khôn.
Hiếu Vũ孝武, Đức tổ đời thứ chín là vua Hiếu Vũ, khi trước đã mở mang được tỉnh Gia Định rồi. Đất ấy là đất bùn rây, phải đắp quan lộ, và đặt tên các xóm để thông đường. Lại đúc tiền kẽm từ đấy. Trước lúc ấy, nước Cao Miên lại làm phản, [6b] ta phải sai quân đánh, rồi sau nó lại hàng phục mà dâng đất cho ta. Trước nó dâng Tầm Phong Long, ta đã lấy được đất ấy, rồi đặt làm phủ Lương Quán (Nay là tỉnh Định Tường). Mà ở nơi Sa Đéc thì đặt làm đạo Đông Khẩu. Ở Tiền Giang thì đặt làm đạo Tân Châu. Ở Hậu Giang thì đặt làm đạo Hàm Đốc, còn doanh thự thì đóng ở làng Long Hồ, để trông các đạo cho tiện vậy. Tỉnh Định Tường từ đó mới thuộc về ta. Rồi sau nước Cao Miên lại dâng thêm năm tỉnh, giao đất ấy thuộc về Hà Tiên cai trị. Đặt nơi Giá Khê làm đạo Kiên Giang, đặt nơi Ca Mao làm đạo Long Xuyên. Từ đó chiêu dân lập ấp mà phân định về tỉnh Hà Tiên, một ngày một rộng.
Nghiệp chúa nên đà vững trãi. Đất nhà mà lại mở mang. Đắp đường quan tiện kẻ tới lui, việc nước đã nhiều ích lợi. Đúc tiền kẽm rộng bề buôn bán. Của dân từ đó lưu thông.
Mộng Thạch 夢石 bình
Xem trong các tỉnh thủa xưa
Trăm năm cõi đất một nhà mở mang
Bút hoa chép đã tỏ tường
Mà lòng càng tiếc càng thương càng dầu [7a]
Hiếu Định孝定, đức tổ đời thứ mười là vua Hiếu Định. Trước vua Hiếu Vũ muốn lập vua Hiếu Khang lên làm chúa. Khi vua Hiếu Vũ đã mất rồi. Người Trương Phúc Loan[36] lấy người còn trẻ, đổi làm tờ di chiếu lập ngài mà làm giam đức Hiếu Khang lại. Sau cũng phải chết. Lúc ấy quyền trong nước về tay người Loan cả, ai nấy đều oán hận. Vì cớ ấy giặc Tây Sơn anh em Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ mới nổi lên. Trước hết lấy phủ Quy Nhơn, sau dần dần ra đến tỉnh Quảng Nam. Nhà Trịnh trông thấy như thế, lại sai Hoàng Ngũ Phúc[37] đem quân vào. Khi quân nhà Trịnh đã đến, thì ta đã bắt được Trương Phúc Loan nạp đi rồi. Quân nhà Trịnh lại cất vào tỉnh Thuận Hóa. Ngài chạy vào tỉnh Quảng Nam. Lúc ấy ở trước mặt thì có Tây Sơn, ở sau lưng thì có quân Trịnh, ngài phải chạy vào Gia Định. Sau cũng phải Nguyễn Văn Huệ diệt đi.
Chúa còn tuổi trẻ, tôi lại quyền gian.
Rắp lòng hồ trước ở Tây Sơn. Thu lợi cá sau về Bắc Trịnh.
Bụi cát mấy phen ngưu chử[38] [7b] (Chúa chạy về Ngưu Chử). Lửa tàn do lạnh có ai nhen.
Gió mây một trận Long Xuyên (Chúa mất tại Long Xuyên). Ghánh nặng đường xa khôn nhẹ bước.
Chẳng kẻo cơ trời khéo quẩy. Cuộc bể dâu như thế cũng thường thường. Còn may gốc nước chưa lay. Cơn gió bụi có đâu mà mãi mãi.
Xem như trong mười đời ấy. Đức Triệu Tổ ta còn làm quan nhà Lê. Từ đức Gia Dụ về sau, chín đời thì đã làm chúa vậy, nhưng cũng giữ chính sóc nhà Lê. Kể từ nhà ngài vào trấn Thuận Hóa, chia đất cai trị, chẳng qua từ tỉnh Bình Định cho đến tỉnh Quảng Nam mà thôi. Trong hai trăm năm ấy, lấy được đất Chiêm Thành, lập ra được tỉnh Phú Yên, tỉnh Diên Khánh, tỉnh Bình Thuận. Lấy được đất nước Cao Miên, đặt ra tỉnh Gia Định, tỉnh Biên Hòa, tỉnh Định Tường, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Hà Tiên, thực là có công mở mang bờ cõi cho nước ta vậy. Bởi vì công đức liệt thánh dựng gây biết bao nhiêu năm. Trời cũng để phần cho đức Cao Hoàng ta được nhất thống cơ đồ vậy. [8a]
Mộng Thạch 夢石 bình
Xưa nay mấy kẻ quyền thần
Lợi về vua trẻ giữ phần quyền to
Hình thư dùng bút Xuân Thu
Diệt sao cho hết những loài Trương Loan
Nước suy lại có tôi gian
Một tay thao mãng phá tan sơn hà
Nghìn năm tính việc nước nhà
Quyền gian như thế đã ba bốn người
Mộng Thạch 夢石 bình
 Cửa trước hổ cửa sau lang
Bể Nam mới có rồng vàng bay ra
Bóng hồng mở áng mây đen
Kìa kìa Gia Định là nền đế vương

Người lợi cá, kẻ lòng hồ
Định câu thiết án đoán cho một lời
Mắt bút soi đến bong người
Lá gan cách mấy mươi đời bửa ra

Cơ trời dâu bể lạ thường
Thổi cơn gió bụi mở đường trăng trong[8b]

Gia Long嘉隆, là đức Thế Tổ Cao hoàng, ngài gọi đức Hiếu Định bằng chú. Khi đức Hiếu Định chạy vào Gia Định, thì ngài cũng đi một thuyền, lúc ấy mới có mười bốn tuổi. Về sau đức Hiếu Định sai ngài đánh Cao Miên, thì vua nước Cao Miên xin hàng. Khi Nguyễn Văn Huệ vào đánh Gia Định, thì ngài xin mấy đức Hiếu Định sang mộ quân Tống Sơn, được hơn bốn nghìn người để về mà cứu viện, đức Hiếu Định đã mất rồi. Thời tỉnh Gia Định phải Nguyễn Văn Lữ chiếm cứ. Là lần thứ hai vậy. Lúc ấy ngài mới khởi binh ở đất Long Xuyên, rồi lại thu phục được đất Gia Định. Lại từ đó mới tôn lên làm vua. Nghĩa là để nối dòng suối nhà Nguyễn ta. Mà người Nguyễn Văn Huệ đem quân vào cửa Cần Giờ, quân ta phải thua, quân Tây Sơn lại chiếm Gia Định. Nên ngài phải một lần chạy sang gò Côn Lôn, hai lần chạy sang gò Phú Quốc. Sai ông Giám Mục người nước Lang Sa[39] tên là Bá Đa Lộc[40] sang nước Xiêm cầu viện. Rồi quân Xiêm lại phải Nguyễn Văn Huệ đánh thua. Ngài lại sang nước Xiêm La lần thứ hai. Lúc ấy ông Bá Đa Lộc đem ông [9a] Hoàng tử Cảnh[41] sang nước Đại Pháp để mà cầu viện, đã đến bốn năm. Tuy rằng nước Đại Pháp nhân có việc chưa cứu viện cho ta, nhưng mà tiếp đãi ông Hoàng tử Cảnh  cùng là như con vua các nước, thế thì cũng có ý giao hảo với nước ta.
Ngài đã thu phục được đất Gia Định  thì ông Bá Đa Lộc đem ông ông Hoàng tử Cảnh ở bên Tây mà về. Lúc ấy anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đánh nhau, nên mới thu phục được tỉnh Bình Thuận, tỉnh Phú Yên, tỉnh Diên Khánh, rồi lại thu phục được   thành Quy Nhơn, mới đặt tên là Bình Định, sai ông Vũ công Tính, ông Ngô Tòng Chu[42] giữ lấy thành ấy. Lúc ấy người Trần Quang Diệu[43] đem quân vào vây thành Quy Nhơn, sự thế rất là nguy cấp. Ông Vũ Tính đưa thư cho ngài nói rằng: “Bây giờ binh tướng giặc Tây Sơn hết thảy là ở đây cả, thành Phú Xuân chắc là không hư, thì xin ngài cất ngay vào lấy thành Phú Xuân”. Ngài cũng theo như lời nói ấy, bỏ thành Quy Nhơn không cứu viện nữa, mới đem quân vào cửa Tư Hiền, rồi lại vào [9b] cửa Thuận An. Giặc Tây Sơn là Nguyễn Quang Toản[44] chạy ra. Từ đó mấy thu phục thành Phú Xuân. Lúc ấy ngài mới sai vào cứu viện Quy Nhơn. Thì thành Quy Nhơn đã phải hạ rồi, mà ông Vũ Tính mấy ông Ngô Tòng Chu cũng đã tuẫn tiết rồi. Khi tướng giặc là Trần Quang Diệu nghe tin thành Phú Xuân mất rồi thì đi đường Thượng lộ ra tỉnh Thanh Hóa, cũng phải quân ta bắt được. Rồi ngài lại ra lấy đồn Động Hải, đánh nhau mấy Nguyễn Quang Toản một trận ở sông Linh Giang. Người Toản phải chạy ra Bắc Thành. Từ đó quân ta đến đâu không ai kháng cự nữa. Ngài mới cất quân ra Bắc Thành, bắt được Quang Toản. Đã định được thiên hạ rồi, đóng kinh đô ở thành Phú Xuân, niên hiệu Gia Long, làm vua được mười tám năm.
Kể như công nghiệp lúc ngài mở dựng. Gặp lúc ấy người Nguyễn Văn Huệ là một kẻ quật cường, nên hai lần phải bỏ thành Gia Định, hai lần phải sang nước Xiêm, cũng đã nhiều phen nguy hiểm gian truân. Mà từ năm Đinh Dậu (1777) đến năm Nhâm Tuất (1802), trong hai [10a] sáu năm trời, lại thu phục cơ đồ nước Việt Nam ta, từ đó mới được nhất thống, đã hay ngài là hùng tài đại lược. Mà tôi như ông Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt[45], lũ ấy đều là tướng tài. Nhưng cũng tại ngài nhiều cách khôn ngoan. Như là mua tàu đồng, mua sung cò máy đá là những đồ cơ xảo ở bên Thái Tây. Lại dùng ông Bá Đa Lộc làm quân sư, mà đồ đảng ông ấy người nước Lang Sa, người nước Y Pha Nho[46]. Người chức nọ kẻ quan kia, thì ai ai đều cùng đồng lòng hết sức. Như thế thì chẳng những dùng tài trí nước mình mà lại dùng tài trí nước khác. Nếu sự khôn ngoan ấy một ngày một tiến bộ lên thì trong vận hội một trăm năm nay ta đã trước những nước Á Đông nay mà làm quyền tự chủ vậy.
Tán rằng:
Cơ nghiệp chín truyền, anh hùng một đấng
Tưởng than lạnh dễ đâu bừng lửa Hán; Hay cây khô mà lại nảy cành Thương [10b]
Kể từ gặp bước lưu li, thuyền một lá cũng êm dầm sóng gió.(Khi ngài theo đức Hiếu Định chạy vào Gia Định, qua bể sóng gió rất lớn, các thuyền quan quân phải áng cả. Chỉ có thuyền đức Hiếu Định mấy ngài không can chi.)
Nên phải ra tay chống dậy, quân bốn nghìn mà cất cánh non sông.
Nào hay sóng bể chưa bằng, cửa Cần khẩu[47] ai bỗng tăm kình ngạc.
Mới biết mưa trời còn đợi, miền Côn Luân[48] dừng ngấn dấu Giao Long.
Hận thù này đã nếm mật nằm chông. May giặc nọ lại lấy da nung thịt (Anh em Nhạc Huệ tàn hại lẫn nhau).
Cờ dẹp loạn dựng từ Bến Nghé (tức Ngưu Chử tại Gia Định). Biên Hòa Bình Thuận mới mở dần ra.
Giặc kinh hồn vì nghe tiếng quân Nai.(Khi giặc Tây Sơn đánh mấy quân ta, có con Nai trong rừng chạy ra. Ai cũng kêu Nai Nai. Giặc Tây Sơn nghe tưởng quân Đồng [11a] Nai đuổi theo, bỏ mà chạy hết.)
Diên Khánh Quy Nhơn cũng thu về được.
Liệu một tướng ở cô thành không cứu (Võ Tính bị vây Quy Nhơn). Đánh cờ nay mà biết nước thí xa.
Sắp mười tàu băng hải đạo vượt ra (Hạ thành Phú Xuân chỉ có mười thuyền)
Lấy vàng nọ mà trước đem gửi ngói. (Võ Tính di thư rằng: Không cứu Quy Nhơn mà lấy Phú Xuân. Là lấy ngói đổi vàng. Ngài đem quân đánh được thành Phú Xuân. Ai cũng bảo rằng đánh cờ thí xe.)
Từ đó trời Nam gió tiễn, dân con đen từng mặt chúa ta đây. (Bắc Thành nhân dân thấy gió nam nổi đều mừng nói: Chúa ta đến rồi.)
Đòi phen giặc Bắc hồn tan, thần áo trắng đánh đầu vua ngụy nọ.[11b] (Nguyễn Huệ xâm phạm lăng tẩm. Có vị thần áo trắng cầm gậy đánh vào đầu. Thức dậy đầu đau như búa bổ. Từ đấy bị chứng đau đầu một bên, không lâu sau thì mất.[49].)
Như thế cơ đồ mở rộng, gian nan trong hăm mấy năm trời.
Cũng nhờ thần thánh dõi truyền, đế tạo đã hai trăm năm trước.
Vả được tôi hiền chúa thánh. Chỉ đua khôn mà đua sức đua tài. Lại vì Nam hợp Tây hòa. Không giúp lính cũng giúp tàu giúp súng.
Việc khôn khéo mở đầu từ đó. Nước Nam ta đã gần bậc phú cường.
Cách văn minh kém bước do đâu. Gió Tây nọ trách vì ai ngăn đón.
Mộng Thạch 夢石 bình:
Chốt lại chỉ có mấy hàng
Mà xưa lịch số bản chương rõ ràng
Nào là đất cũ Nam bang
Nào là mở rộng Cao Miên Chiêm Thành
Nào là trời giữ nước mình
Nào là tổ trước để dành vua sau
Truyện Tả chép việc Lỗ Hầu[50]
Hơn hai mươi chữ cũng đâu thế này

Một tay làm đổ non sông
Đến khi dựng lại tốn công nhiều người [12a]
Nào là chinh chiến mọi nơi
Nào là cầu viện ra ngoài lân bang
May khi trời tựa Thánh vương
Vạc Chu chẳng kẻo khênh sang cõi Tần[51]
Mới hay quốc lập dĩ nhân
Có tay lo liệu có phần nở nang

Long Xuyên là tổ long hưng.
Tăm riêng đầm ngạc bể lừng sông ngưu.
Lòng người ai chẳng tư Lưu[52]
Chiến bào cởi lấy hoàng bào từ đây

Phát phu gửi mấy sơn hà
Con côi sáu thước[53] bể xa muôn trùng
Nghìn đời một đấng anh hung
Trong tay bốn bể tấc lòng năm châu
Hợp Đông á máy Tây âu
Mưu sâu mà đã lo sâu những ngày

Xưa kia một dạ tương thân
Giao lân nào phải cừu lân mà nghờ
Sự nhằm cũng bởi tại ta
Để cho thảo mộc sơn hà xác sơ

Suy ra mới biết sự đời
Mạnh ta trước phải dựa người là sau
Văn minh ai muốn bước mau
Mượn long chắp cánh dễ hầu bay ngay.

Liều một mình mấy một thành
Thành rồi lại lấy mình đành báo ân
Nghìn đời còn có Phú Xuân
Nghìn đời còn biết [12b] tướng quân anh hùng
Bình Vũ Tính, Ngô Tòng Chu

Mộng Thạch 夢石 bình:
Trong hai mươi sáu năm trời
Kể tài bát loạn gấp mười Cao Quang[54]
Biết bao hiểm trở gian nan
Giang sơn mấy có giang sơn đến giờ
Bình Gia Long hai mươi sáu năm tân khổ
Trời sinh một đấng anh hùng
Ra tay gánh vác non sông một nhà

Cầu Đông phương Bắc bể Tây
Đã vần lái đất lại xoay máy trời
Dịp cầu bắc sẵn không nơi
Để ta bước trước cho người bước sau
Nỗi niềm tưởng đến mà đau
Nào ai tự chủ làm đầu Á Đông
Văn minh trì tiến
Tiếc thay vận hội đời này
Văn minh nỡ để bước trầy vì đâu
Bình dụng xảo Thái Tây
Lòng trời cơ hội cũng hay
Đời xưa tiếng hạc đời này tiếng nai
Nghe nai đã đủ sợ người
Tiếng nai còn đó tiếng ai bây giờ [13a]
Bình quân Đồng Nai
Mộng Thạch 夢石:
Ấy ai ngọc trản tinh linh
Kim Lăng một cõi bảo thành nghìn thu
Việc này để sợ về sau
Có thần áo trắng đánh đầu còn linh
Bình Bạch Y sơn thần
Mấy bài chép việc Trung hưng
Một tầng lại thấy một tầng mới ra
Ví như thợ khéo làm nhà
Nào là cửa cẩn nào là song thưa
Nếp bao châu ngọc cũng vừa
Lại còn đất rộng để thừa về sau
Phụ chép truyện ông Hoàng tử Cảnh
Ông ấy là con đầu Đức Thế Tổ, mẹ là Đức Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Năm Canh Tý (1780), ông ấy sinh ở đất Gia Định. Năm Quý Mão (1783), quân ta bại trận ở Điệp Thạch sơn. Ông ấy chạy qua nước Xiêm. Sai ông Bá Đa  Lộc đem ông ấy sang Tây. Lúc ấy mới có bốn tuổi. Năm Ất Tỵ (1785) đến Tiểu Tây (Ấn Độ). Năm Bính Ngọ (1786) mới đến Đại Tây (Lang Sa)[13b] . Vua nước Lang Sa đãi lấy vương lễ một cách tử tế, nhưng không có ý cứu viện cho mình. Bèn mưu mấy nhau mà trở về. Năm Đinh Mùi (1787), ngài trở về Gia Định. Sai người Trần Phúc Giai, người Tống Phúc Ngọc sang đón. Năm Kỷ Dậu (1789), ông ấy ở bên Tây về. Kể từ khi đi đến khi về gian nan hiểm trở trong sáu năm trời. Trước là hiếu mấy cha, sau là trung mấy nước. Năm Quý Sửu (1793), ông ý đã mười tuổi. Ngài mới phong cho chức Nguyên Soái Quận công, ban cho ấn Đông cung, sai ông Trịnh Hoài Đức, ông Lê Quang Định sung chức Thị giảng. Lại sai ông ấy trấn đất Diên Khánh. Lúc Tây Sơn vào vây thành ấy, ông ấy đem đạo binh đánh nhau mấy giặc, quân giặc phải giải vây mà chạy. Rồi ngài sai ra đánh Quy Nhơn, đánh Quảng Nam, công lao khó nhọc không biết là bao. Năm Canh Thân (1800)[55] ngài ra cứu Bình Định, nên lưu ông ấy trấn Gia Định. Năm Tân Dậu (1801), ông ý mất, mới hai mươi hai tuổi. Ông ấy có người con, một tên là Mỹ Đường, một tên [14a] là Mỹ Thùy.
Năm Minh Mệnh thứ năm (1824), người Mỹ Đường phải tội, truất làm thứ nhân; Năm thứ bảy (1826), người Mỹ Thùy cũng phải tội.
Đến đời vua Tự Đức, con người Mỹ Đường là Li Chung mới được ân phong Cảm Hóa quận công (Theo sớ của ông Vũ Xuân Cẩn[56])
Bốn tuổi con thơ giám chịu lời
Lá xanh sóng gió lá vàng tươi
Mở cờ Nam Việt xa muôn dặm
Treo ấn Đông Cung dõi chín đời
Có nhẽ bể dâu vần lái đất
Không thường mưa nắng tiếc khuôn trời
Bây giờ nhớ đến bao giờ đó
Sông núi ta nay trách hỏi ai.
Phụ chép truyện ông Vũ Tính, ông Ngô Tòng Chu
Ông Vũ Tính là người Phú Yên xã đất Biên Hòa; Ông Ngô Tòng Chu là người huyện Phù Thanh đất Bình Định. Hai ông ấy trước theo Đức Cao Hoàng đã nhiều công lao. Từ khi phụng mệnh trấn thành Đồ Bàn (tức Bình Định ngày nay). Lúc ấy tướng Tây Sơn [14b] là Trần Quang Diệu đem quân vào vây thành ấy, rồi lại đem thuyền lấp cửa Thi Nại. Đức Cao Hoàng cũng đã cho quân cứu viện. Vì chưng tướng giặc phòng bị rất nghiêm. Ông Vũ Tính dâng thư cho ngài nói rằng: Binh tướng Tây Sơn hết ở đây cả. Thành Phú Xuân chắc là hư không. Xin ngài đừng cứu Bình Định mà cất quân ngay vào lấy thành Phú Xuân. Cũng ví như đổi ngói lấy vàng vậy.
Khi ngài được thư ấy, rồi lúc ấy quyết cất quân đường thủy đạo mà ra cửa Thuận An.
Ông Vũ Tính chịu vây trong thành ấy đã đến hai năm, quyết ý không hàng. Đến khi biết rằng thành ấy không thế giữ được, mới bảo ông Tòng Chu: Ta là chủ tướng, nghĩa không cùng giặc đều sống. Ông là văn thần chắc nó không diệt làm chi, ông lo mà tự toàn lấy.
Ông Tòng Chu than rằng: Trung quân ái quốc lòng ai cũng vậy, dẫu văn dẫu võ nào có luận chi.
Ông Tòng Chu trở về uống thuốc mà chết. Ngày ấy là hai mươi năm tháng năm năm Kỷ Mùi (1799). Ông Tính mình tới tống táng. Cách sau hai ngày, ông Vũ Tính cũng chất củi ở [15a] lầu Bát Giác, tự châm lửa mà chết. Người ta ví như ông Trương Tuần, ông Hứa Viễn[57] đời nhà Đường vậy.
Vì cớ ấy, Đức Cao Hoàng ta mấy thu phục được Thần Kinh. Kể làm công đời Trung Hưng thứ nhất.
Gần đây xem việc Nga La[58].
Mấy hay danh tướng nước nhà là hơn.
Chịu chết mà chẳng chịu hàng
Khói lầu Bát Giác cao ngang cửu trùng
Ai hay nói chuyện Á Đông
Có còn nhớ đến Tam hùng[59] ta không
Mộng Thạch 夢石 bình:
Cân chắc thành vua đổi mệnh tốt
Bên vàng bên ngói hỏi ai lời
Khác nhau văn võ đường hai ngả
Liệu mấy giang sơn nấm một vùi
Lòng sắt nước sôi hơi dậy đất
Tiết son lửa cháy khói hun trời
Xuân kinh trông lại cây cao đó
Tám góc gương treo tám cõi soi
Sáng đời xưa người Kỷ Tín thay chết cho vua Hán Cao; Người Lê Lai[60] thay chết cho vua Lê Tổ. Cũng khá gọi [15b] là trung thần. Nhưng mà hai ông ấy chẳng qua thay chết cho vua, mà ông Vũ Tính, ông Ngô Tòng Chu là thay cho nước. Vì lúc ấy giặc Tây Sơn hết ở đó, thành Phú Xuân chắc là không hư. Cho nên Đồ Bàn mà không thí xe thì cửa Thuận An xuất sĩ ra tướng không được. Vả lại, nước ta gặp giặc Tây Sơn thậm ư tàn bạo. Muốn cho dân khỏi sự lầm than, thì dầu lửa cháy nung kia cũng là mát; muốn cho dân khỏi điều cay đắng, thì dẫu uống thuốc độc nọ cũng là ngon. Trước là vì vua mà dựng cơ đồ, sau là cũng vì nước mà trừ tàn bạo, chết là chết cùng loài giống, chết là chết mấy giang sơn; Nghìn năm danh tiết rõ ràng, Sử xanh còn đó thiên vàng còn đây.
Mộng Thạch 夢石 bình:
Kẻ tử quốc, kẻ tử quân
Tử quốc còn trọng hơn phần tử quân
Chia làm hai bậc trung thần
Lời bàn đã bắc đồng cân đó rồi
Đã hay chết khó trên đời
Mà trong sự chết mấy người suy ra
Đem Tam đảo [16a] sánh nước nhà
Cái hồn ái quốc hơn ma cát điền
Lửa nào cháy được gan vàng
Thuốc nào nát được tâm trường trung lương
Lửa càng mát, thuốc càng ngon
Chết là chết mấy nước non giống loài
Xem đây chép có mấy lời
Nỗi lòng chín suối vui người năm châu
Đọc lên ai chẳng gật đầu
Phụ chép truyện ông Trung quân Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Thành là người huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên, cha là Nguyễn Văn Hiền theo vua Hiếu Định mộ quân đánh Tây Sơn phải chết trận. Ông ấy lại theo đức Hiếu Định mộ một trăm quân, theo mấy người Đỗ Thanh Nhân[61] thu phục được đất Sài Côn[62]. Xem thế thì biết cha con một dòng trung nghĩa mấy nhà Nguyễn ta. Đến khi đất Sài Côn lại mất. Đức Thế Tổ ta sang nước Xiêm, ông ấy  không kịp đi theo. Đến năm Giáp Thìn (1784), ngài trở về Gia Định, ông ấy mấy đến Trà Luật [16b] mà yết ngài. Rồi lại dụ được người Đặng Siêu là tướng giặc đem một nghìn quân quy thuận mấy ngài. Đến khi ngài lại phải sang đất Hà Tiên, đi một chiếc thuyền cá lênh đênh giữa bể, ông ý ngày đêm tựa buồm. Gặp khi hết ăn quân đói, thấy một chiếc thuyền buôn bán từ Hạ Châu lên, ông ấy đem thầy tớ sang ăn cướp, mình phải nhiều dấu, nhưng cũng cướp được để cho quân ăn. Tính lại hay đánh bạc, thường phải người ta đòi hỏi. Khi ở nước Xiêm (là lần thứ hai). Ngài sai ông ấy đem một nghìn hòn bạc mua gạo. Gặp quan quân ta những phường thua bạc, phải người nước Xiêm đòi hỏi ngặt  lắm. Ông ấy trông thấy mà thương, bèn lấy bạc ấy cho mà giả nợ. Đến khi trở về tay không, ngài lấy làm hận , nhưng cũng khen một người lạ vậy. Từ đó, khi ngài ở Mỹ Luông, ở Ba Lai, ở Hậu Giang, ở Hồi Hoạt cho đến khi khôi phục được đất Gia Định. Gian nan hiểm trở không biết là bao, mà ông ấy quyết chí theo đòi, không nề khó nhọc, đã là một người tôi trung vậy. Đến [17a] mãi năm Kỷ Dậu (1789), mới thăng chức Trung quân, tiến binh lên lấy đất Phiên Lí, rồi lại theo ngài ra đánh Quy Nhơn. Từ đó mà đi, đánh trận nào cũng là được. Khi ngài kéo quân ra lấy Phú Xuân thì ngài cho ông ấy ở lại làm quân ngoại viện cho thành Bình Định. Lúc ấy mấy đổi phong tước Quận công. Khi ngài đã định được Bắc Thành rồi, đòi ông ấy ra làm Tổng trấn Bắc Thành. Lúc ấy đất Bắc Thành, cướp giặc còn nhiều, ông ấy làm Tổng trấn đã được mười hai năm, sửa sang kinh lý không biết là bao. Vì tính vẫn chính thẳng, lại cậy mình có công lao, nên cũng còn có nhiều điều chuyên chấp. Khi trước, đức Thế Tổ ta muốn định lập Hoàng tử, có hỏi ông ấy. Ông ấy tâu rằng xin lập Hoàng tôn là người Đường, con ông Hoàng tử Cảnh. Ấy ngài không ưng. Lại có một ngày đi xem nơi sơn lăng. Đến lúc đào đất lên thấy đất ngũ sắc, ngài lấy làm hố tốt, các quan cũng đều xưng hạ, có một ông ấy không nói chi. Ngài hỏi làm sao. Ông ấy tâu rằng, thửa xưa mả mẹ tôi cũng có đất ngũ sắc, mà lại có phần tốt hơn đất ngài. Ngài lấy làm không bằng lòng. Ông ấy lại nói rằng, gần đây cũng có đất tốt ở Thù Ế[63] tốt lắm, nhưng mà chôn không được vì chôn thì phải sét đánh. Đức Thánh Tổ ta lúc ấy ngài đương làm Hoàng tử, giận nói rằng: “Tây Sơn là phường tiếm nghịch thì mấy phải sét đánh, như Thánh chúa nhà ta là trời giúp dựa cho. Sao trước mặt vua mà ngươi nói những điều bất tốn[64] như thế.”
Xem vậy thì lòng thời trung thành với nước, nói thì khinh suất ra lời. Cũng là vì một cái cớ nhỏ, làm cho ông ấy đến phải tội vậy. Ông ấy có con tên là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ Cử nhân, hay làm thơ, thường hay giao du với kẻ văn sĩ. Nghe người Thanh Hóa là người Nguyễn Văn Khuê, Nguyễn Đức Nhuận đều có tiếng hay chữ, làm một bài thơ, giao cho đầy tớ là Nguyễn Trương Hiệu sang mời. Trong câu thơ rằng:
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá ngã kinh luân chuyển hóa ki
Hồi ấy giá được người trong núi[65]
Giúp tớ kinh luân chuyển máy trời
Người Hiệu đem bài thơ ấy [18a] đưa cho người Nguyễn Tá Nghi. Người Nghi vẫn là oán ông ấy, mấy đem việc ấy cáo mấy ông Lê Văn Duyệt. Ông Duyệt cùng ông ấy vẫn không bằng lòng, lại đem cái bài thơ ấy vào tâu ngài. Ngài giáo cho đình thần tra hỏi. Lúc ấy mấy bắt ông ấy giam lại, đem ra tòa Tam pháp mà tra, hỏi ông ấy có làm phản không. Ông ấy nói rằng không; Hỏi ông ấy có biết việc thơ ấy không, cũng nói rằng không. Ông ấy trở ra nói với ông Hoàng Công Lí[66] rằng: Ngục đã nên rồi, vua bảo tôi chết. Tôi mà không chết không phải trung thần. Uống thuốc mà chết, tuổi vừa sáu mươi. Khi Án ấy dựng xong, người Thuyên phải tội chết. Đến năm Minh Mệnh thứ mười bốn (1833), tên Lê Văn Khôi[67] làm giặc, con ông ấy là tên Hàm theo làm chức Quản vệ. Lại bắt mấy đứa con ông ấy là người Kham, người Nhậm, người Huỳnh, người Tố mà diệt hết. Đến đời Tự Đức năm đầu (1848), mấy theo sớ ông Vũ Xuân Cẩn  tâu xin truy phục chức tước lại cho ông ấy[18b]
Trải mấy gian nan miếng sống thừa
Lòng như vàng đá tóc như tơ
Sương nam lạnh lẽo nồng hơi rượu
Gió bắc lung lay đứng ngọn cờ
Thương lấy tôi già trăm trận đánh
Làm chi con trẻ một câu thơ
Bây giờ trông thấy chim cao đó
Nhớ đến cung hay luống ngẩn ngơ
Lúc đánh ở trận Thị Dã, ông Thành mấy ông Duyệt đều cưỡi voi cầm cờ tướng mà chỉ huy. Ông Thành tính hay uống rượu, lúc nào đi đánh giặc cũng có mang một bầu rượu. Nhân rót đưa cho ông Duyệt, nói rằng: Hôm nay trời lạnh lắm, chúng ta uống chén rượu này để mà gắng sức lên. Ông Duyệt nói: Ai khiếp thì phải uống, tôi đây không sợ giặc, không cần phải uống. Từ đó hai ông bất bình máy nhau.
Phụ chép truyện ông Tả quân Lê Văn Duyệt[19a]
Ông Lê Văn Duyệt là người huyện Tân Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Sinh ra “ẩn cung”[68], mình nhỏ mà sức mạnh. Mười bảy tuổi theo đức Thế Tổ ta làm quan Thái Giám. Năm Quý Mão (1783), ngài đi qua nước Xiêm, ông ấy đem ba bốn người lính ra ở Cù Lao giữa bể. Năm Giáp Thìn (1784), quân nước Xiêm phải thua, ông ấy lại theo ngài đi bộ từ đất Vân Dã đến đất Thi Giang. Năm Ất Tỵ (1785), theo ngài sang Xiêm ở thành Vọng Các, thường cùng các tướng soái bàn việc binh. Ngài lấy làm khen, mới cho mộ quân mà đi đánh giặc. Năm Quý Sửu (1793), ra đánh đất Quy Nhơn thu được súng ống rất nhiều, thăng chức Vũ úy. Tự đó mà đi, đánh đâu cũng được. Năm Tân Dậu (1801), thành Bình Định phải vây. Ngài cho đòi ông ấy từ đồn Thị Dã mà về. Sai ông Vũ Di Nguy đem quân thủy đạo vào đánh đồn giặc. Khi quân ta kéo vào, giặc ở trên núi bắn xuống, đạn như mưa. Ông Nguy phải đạn mà chết, còn một mình ông ấy cứ ra sức mà đánh. Ngài[19b] thấy quân lính chết đi, ba lần ngài truyền ông ấy lui. Ông ấy nói rằng: Có lên không lui. Cứ vào không ra. Đem quân sấn vào, đánh từ giờ Dần đến giờ Dậu, mãi mới vào đốt được thuyền giặc. Trận này là ngày hai mươi sáu tháng giêng. Kể làm trận vũ công đệ nhất trong đời Trung hưng  vậy. Rồi ông ấy lại dâng kế cho ngài, bỏ thành Bình Định mà ra lấy thành Phú Xuân. Ví như là đánh cờ thí xe. Ngài sai ông ấy mấy ông Lê Văn Chất[69] đem quân ra đánh cửa Tư Hiền. Tướng giặc là Nguyễn Văn Chiểu giữ cái đồn ấy. Quân ta đánh từ giờ Thìn cho đến giờ Dậu chưa lấy được. Ông ấy đến đêm, bèn đem hai đội quân, mười chiếc chiến thuyền, đi qua bãi cát vào phá Hà Trung. Khi đã xong rồi, quân ta hai mặt đánh lại, tướng giặc bỏ đồn mà chạy. Tiến quân thành Phú Xuân thì người Nguyễn Quang Toản cũng chạy rồi. Ngài lại sai vào viện thành Bình Định, thì tướng giặc là Trần[70] Quang Diệu cũng bỏ thành mà chạy lên đường Thượng đạo. Rồi sau ngài phong [20a] cho tước Quận công. Niên hiệu Gia Long năm đầu (1802), ngài định cất quân ra đánh Bắc Thành, cho ông chức Tả quân đem quân đi trước. Từ đó quân ta đến đâu không ai giám kháng cự chi nữa, nên mới bắt được Ngụy chúa là Nguyễn Quang Toản. Kể như công lao ông ấy rất là khó nhọc. Rồi giặc Thạch Bích ở đất Quảng Ngãi lại nổi lên, cùng là đất Thanh, đất Nghệ nhiều giặc; Châu Thanh Bình, châu Thiên Quan lại có giặc Thổ. Thế mà ông ấy bốn lần đi lại đất Quảng Nghãi, một lần ra đất Thanh Nghệ, hoặc lấy uy đánh dẹp, hoặc lấy đức phủ tuy, nên giặc nào cũng phải yên mà di nào cũng là phục. Lúc ấy lại có em vua Cao Miên tên là Nặc Nguyên đầu mấy nước Xiêm. Nước Xiêm đem người Nguyên trở về làm vua. Vua nước Cao Miên là người Nặc Chân chạy sang Gia Định. Ngài sai ông ấy vào làm Tổng trấn Gia Định. Ông ấy đem quân thuyền, một vạn ba nghìn người đưa vua Cao Miên trở về thành La Bích. Tướng nước Xiêm sợ ông ấy không giám động binh[20b]. Rồi lại đắp thành Nam Vang, thành Lự Liêu. Cho ông Nguyễn Văn Thụy[71] ở lại mà bảo hộ nước Cao Miên. Đến niên hiệu Minh Mệnh năm đầu (1820), nước Cao Miên lại có thầy chùa tên là Kế nổi lên làm loạn.  Ông ấy cũng cho quân vào dẹp yên được. Rồi lại sai thầy tớ là Nguyễn Văn Độ sang nước Hồng Mao[72] mua đồ binh khí, cũng là có ý riêng thám tình hình ngoại quốc vậy. Rồi nước Cao Miên lại dâng đất cho ta ba phủ. Ông ấy tâu mấy ngài, xin rằng: Phủ Lợi Kha là xa mấy mình thì xin giả lại cho nó, còn phủ Chân Sâm, phủ Mật Luật thì gần mấy thành Châu Đốc ta, xin thâu lấy đất ấy để làm dậu che cho thành Gia Định. Từ đó hai phủ ấy lại nhập vào bản đồ nước ta. Ông ấy trước sau hai lần trấn Gia Định. Người Xiêm sợ uy ông ấy, khi nào có sứ bộ đi lại thì người Xiêm hỏi rằng: Ông Lê công có an không. Xem thế thì người ngoại quốc kính trọng như vậy. Năm Minh Mệnh thứ mười ba (1832), ngày ba mươi tháng bảy [21a] ông ấy mất. Ông ấy thửa trước đi ra kinh lược Thanh Nghệ. Có người Thổ từ đất Cao Bằng tên là Lê Văn Khôi mộ quân theo vào Gia Định. Tiết thứ hành trận đến chức Phó Vệ úy. Từ khi ông ấy mất rồi, thành Gia Định đổi làm thành Phiên An, đặt là Tổng đốc, Bố, Án. Có quan Bố chánh sứ tên là Bạch Xuân Nguyên, là một người tham lợi. Tự nói rằng, phụng mật chỉ của vua tra xét việc ông ấy, mới bắt tên Khôi giam lại, toan muốn trị tội. Tên Khôi mới mưu làm loạn. Năm Minh Mệnh thứ mười bốn (1833), đêm mười tám tháng năm, tên Khôi dụ quân Hồi Lương. Bắc Thuận[73] được hai mươi bảy người vào thành chém Bạch Xuân Nguyên, quan Tổng đốc là Nguyễn Văn Quế cũng phải chém luôn. Người Khôi bèn giữ thành viên. Lại hiếp cháu ông ấy là tên Hán cũng phải theo. Lúc ấy mấy tỉnh thuộc về thành Gia Định cũng bị giặc phá cả. Quan quân đánh dẹp gần đến ba năm mà chưa thâu phục lại được. Ngài lấy làm hận, giao cho đình thần [21b] nghị tội ông ấy. Các quan nghị ông ấy phạm có bảy điều. Chiếu luật mưu phản, án phải xử tử lăng trì. Trong dụ ngài có câu rằng: “Cái án này là cái án sắt nghìn đời”. Nghĩa là về sau không thể nào thay đổi được nữa. Nhưng ông ấy đã chết rồi thì giao cho quan tỉnh Gia Định, quốc bằng cái mả ông ấy đi mà chôn một cái bia đá lên trên, khắc tám chữ rằng: “Quyền yêm[74] Lê Văn Duyệt phục pháp xứ權閹黎文悅復法處”. Ông ấy không có con. Có con nuôi là Yến Trai, là con em ông ấy cũng phải chết cả. Đến năm Minh Mệnh thứ mười sáu (1835), thành Phiên An đã thu phục rồi. Khi trời tối đêm khuya thường nghe tiếng quỷ khóc, hoặc là tiếng người tiếng ngựa như là quân kéo. Những dân ở chung quanh không ai dám gần. Từ khi kéo bia đá ấy đi thì tiếng ấy mấy thôi. Xem thế thì biết rằng, ông ấy có công nghiệp lớn mà phải tội oan nên hiển linh như thế. Đến đời Tự Đức năm đầu (1848), cũng là theo sớ ông Vũ Xuân Cẩn tâu xin truy phục như là [22a] ông Trung quân Nguyễn Văn Thành.
Ông Duyệt mấy ông Thành vẫn không bằng lòng mấy nhau. Khi đức Thế Tổ giao án ông Thành cho ông Duyệt tra. Có quan Tham tri là Trần Văn Tuân nói mấy ông Duyệt rằng: “Ông Trung quân, ông Tả quân là người có công cũng thể như nhau. Ông Trung quân nay như thế thì ông Tả quân ngày khác khá biết.” Ông ấy nghe câu nói thế, từ đó ý giãi ra.
Trung quân ngày trước Tả quân giờ
Chim hết cung treo phải thế chưa
Lão tướng lòng vàng tròn một tiết
Quyền yêm án sắt định ngàn xưa
Lấp vầy luống những lo xe cát
Tức nước nên chi mấy vỡ bờ
Sông núi anh hùng đâu vắng tá
Mấy hàng châu lệ mấy câu thơ
Phụ chép truyện ông Bá Đa Lộc
Ông Bá Đa Lộc là người Giám mục nước Lang Sa. Trước đi sang nước ta truyền đạo Thiên chúa ở đất Gia Định, đất Chân Lạp. Năm Canh Tý (1780), đức Thế Tổ ta lên ngôi vua ở đất Gia Định, ông ấy đến yết xin để hiệu dụng mấy ngài. Năm Nhâm Dần (1782) giặc Tây Sơn vào ăn cướp, ngài chạy ra ngoài, đức Hoàng Thái hậu mấy cung quyến ngài chạy sang nước Chân Lạp. Người nước Chân Lạp toan mưu làm phản. Ông ấy biết rõ mưu ấy, mấy đem thày tớ bảo hộ cung quyến nhà ngài về đất Tam Phụ, gặp ngài đều được chu toàn cả. Năm Quý Mão (1783), ông ấy lại theo ngài ra chốn ở Cù Lao giữa bể, rồi ông ấy lại xin sang nước Xiêm cầu viện. Năm Giáp Thìn (1784), ngài đem quân nước Xiêm trở về Gia Định. Lại phải thua, ngài mấy cho người sang đất Chân Lạp đòi ông ấy về, đem ông Hoàng tử Cảnh sang Tây. Năm Kỷ Dậu (1789) ngài đã thu phục được tỉnh Gia Định, ông ấy mấy đem ông Hoàng tử Cảnh ở bên Tây mà về. Ngài mấy cho ông ấy coi các toán [23a] viện binh thủy bộ. Năm Quý Sửu (1793) theo Đông cung giữ đất Diên Khánh. Năm Kỷ Mùi (1799)[75], theo ngài ra đánh Quy Nhơn, mất ở đất Thi Nại, đem về chôn ở đất Gia Định. Ngài tặng chức Thái tử Thiếu phó Bi Nhu quận công. Ông ấy thầy tớ tên là Man Hòe (Manuel), tên là Đa Đột (Dayot), tên là Ba Ni Ê (Vannier), tên là Ô Li Vê (Victor Olivier), tên là Lê Văn Lăng (De Forcant), đều các người nước Pháp. Lại có tên là Gia Nô Bi (?), tên là Ma Nô Y (Manoah), là người Y Pha Nho. Người Man Hòe (Manuel), người Gia Nô Bi (?) đều phải chết trận; Còn người Đa Đột (Dayot), người Ba Ni Ê (Vannier), ngài cho coi hai chiếc thuyền Phi Long, Phi Phụng. Người Lê Văn Lăng (De Forcant) làm đến Chưởng cơ, người Ô Li Vê (Victor Olivier) làm đến Vệ Úy[76].
Tề vai ghánh vác việc sơn hà
Chẳng khác lòng ngay chỉ khác da
Gió bụi cành vàng phù lấy trẻ
Tuyết sương đầu bạc quản chi già
Hai châu xây đất chung làm một
Bốn tớ theo thầy chết đến ba
Ngày trước thế này giờ thế khác
Thôi thôi ta lại tiếc cho ta [23b]
Minh Mệnh明命, là vua đời thứ hai triều nhà Nguyễn ta, là vua Thánh tổ, niên hiệu Minh Mệnh, con thứ ba vua Thế Tổ. Khi đức Thế Tổ còn sống, các quan đại thần như là ông Nguyễn Văn Thành, ông Lê Văn Duyệt ý muốn lập con ông Hoàng tử Cảnh, nhưng đức Thế Tổ lập ngài. Vì chưng ngài là một người thông minh tài trí, tính nết nghiêm khắc vậy. Khi đã lên làm vua, dùng các ông văn thần như là ông Trịnh Hoài Đức, ông Trương Đăng Quế, ông Hà Tông Quyền, ông Hà Duy Phiên[77]. Là vì cách cai trị đời thái bình thì phải dùng những người văn học như vậy. Nhưng dầu thế mặc lòng, những người võ tướng đã có công lao thì ngài cũng đều kính trọng. Lúc ấy ông Nguyễn Văn Thành đã phải tội rồi, còn ông Lê Văn Chất làm Tổng trấn Bắc Thành, ông Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định. Các ông ấy vốn là kẻ võ thần nên làm việc nhiều điều chuyên chấp, nhưng ngài cũng lấy lượng bao dung, trong đời hai ông ấy đều được tử tế cả. Vì chưng năm Minh Mệnh thứ mười bốn (1833), tên [24a] Lê Văn Khôi làm giặc, lấy thành Gia Định, nó lại sang thông với nước Xiêm. Quân ta phải khó nhọc, đánh đến bốn năm rồi mấy thu phục lại được. Tên Khôi là thầy tớ ông Duyệt, vì cớ ấy, ông Duyệt, ông Chất phải tội duyên tọa. Từ đó chức Tổng trấn Bắc Kỳ, Nam Kỳ không đặt nữa. Trong lúc ấy, ở trong thì sửa sang về học hành, ở ngoài thì mở mang việc nơi bờ cõi. Như là lấy đất Chiêm Thành đặt ra tỉnh Ninh Thuận, huyện Tuy Định, huyện Tuy Phong. Nước Chiêm Thành từ đó không còn di giống nữa. Nước Vạn Tượng phải nước Xiêm La xâm chiếm thì ngài cho quân sang bảo hộ , tỉnh Trấn Ninh từ đó lại thuộc về ta vậy. Lại như đánh nhau mấy nước Xiêm mà tranh sự bảo hộ nước Cao Miên, sau lại đặt ra làm tỉnh Trấn Tây. Sai ông Trương Minh Giảng[78], ông Lê Văn Cương đem quân đóng đồn ở thành Nam Vang, chia nước Cao Miên đặt làm mười tỉnh, hai mươi ba huyện, hai Mường. Sự sắp đặt như thế, nước Cao Miên từ đó đã thuộc quyền ta cai trị [24b] Trong đời như thế thực là ví mấy đời Hồng Đức nhà Lê. Tiếc vì sự văn minh nước Tàu, ta một ngày một tiến; Sự văn minh Thái Tây ta một ngày một xa. Mà người Nguyễn Văn Thắng (Tức là Ba Ni Ê), người Nguyễn Văn Chấn (tức là Đa Đột) đã giúp đức Cao Hoàng ta. Hai người ấy là người nước Pháp, cho họ là Nguyễn, làm chủ tàu Long, tàu Phụng. Lúc ấy nhân già mà về. Hai người ấy, Minh Mệnh nguyên niên (1820) hồi lão, nên cái việc khôn ngoan tấn tới của bên nước Tây từ đó tai mình ngơi nghe, mắt mình cũng không thấy nữa. Ngài làm vua được hai mươi mốt năm.
Phúng Trương, Hà[79] nho thần
Chữ Nho bên có chữ Nhu
Cũng Nhu thì loạn lại Nhu thì bình
Trương Hà gặp hội thánh minh
Ngọn cờ chư tử dẹp thành ngũ vân
Tiếc nay nói đến nho thần
Chẳng mũ Thù Tứ thời quần Đường Ngu[80]
Nghìn đời cũng một chữ Nho
Khi sung khi sướng khi lo khi mừng
[25a]
Phúng nhị Lê công[81]
Lượng cả xét có bao dung
Tướng thần mấy biết được lòng thánh minh
Xưa nay gặp nạn Hàn Bành
Tại đâu cũng có tại mình ba phân
Lúc suy suy cả văn chương
Lúc hay hay cả mọi đường hay đi
Phúng Chiêm Thành
Mấy câu chép việc Chiêm Thành
Thương ai mà lại giật mình cho ta
Hồng Bàng còn lại giống nhà
Lo gần cũng phải lo xa thế nào
Phúng Bảo hộ[82]
Hai chữ Bảo Hộ từ đâu
Tại ta đặt trước mà sau có người
Vòng quanh là cái cơ trời
Đã xoay xoay mãi cuộc đời chưa thôi
Giờ ta cũng mắc vì ai
Ông xanh đáo để trêu người thế ru
Phúng Long Phụng thuyền chủ
Rồng về Phượng cũng bay xa
Chim âu muốn đậu ốc nhà ai đây
Nghĩ mình riêng một [25b] phương trời
Hơi đâu tính đến việc người xa xôi
Mộng Thạch 夢石 bình
Việc đời lắm kẻ họa xà
Lại còn cõng rắn cắn gà nhà chơi
Câu này cũng để răn đời
Kìa trong tay áo có người nuôi ong
Tán rằng
Trời sinh vua thánh, nước dõi nghiệp thần
Việc thủ thành dẫu phải dụng tôi văn, công khai sáng cũng nên ơn tướng võ
Thình lình lúc trời trong dậy sét. Tay áo kia hận bởi kẻ nuôi ong
Nóng nảy cơn lửa cháy bờ dầu. Thêm chân nọ trách vì ai vẽ rắn
Nước Việt Nam tưởng phú cường bởi đó. Nào ai nghĩ vận đỏ hóa ra đen
Gió Thái Tây mà ngăn đón từ đây. Cũng là sợ loài vàng chung mấy trắng.
Thiệu Trị紹治, vua đời thứ ba, là vua Hiến Tổ, là con đầu lòng vua Thánh Tổ, niên hiệu Thiệu Trị. Từ năm Minh Mệnh [26a] thứ mười lăm (1834), ta đã nhận bảo hộ nước Cao Miên. Vì chưng các quan ta sang cai trị không dùng cách khôn ngoan, làm cho nước nó ai nấy cũng không bằng lòng. Em vua Cao Miên là người Nặc Đôn. Trước trốn ở nước Xiêm La, nhân dịp ấy trở về làm loạn. Lại có Xiêm giúp đỡ. Ta cũng đã nhiều phen đánh dẹp mà cũng không yên. Lòng ngài thương dân, không muốn sinh sự làm chi, nên từ đó quân ta rút về. Thời người Nặc Đôn cũng đã dâng biểu tạ tội. Năm thứ sáu sai người vào cống. Năm thứ bảy ngài phong cho người Nặc Đôn làm vua Cao Miên. Ngài làm vua được bảy năm.
Bảo hộ là sự khó khăn
Khôn ngoan rất mực dễ bằng lòng ai
Đã là khác giống khác loài
Ở trong họ Nặc ở ngoài Xiêm La
Bỏ đi cũng tiếc công ta
Ôm vào lại thiệt cho ta bằng mười
Chi bằng đất người giả người
Làm cho thần phục trên đời là hơn
Thánh nhân có dạ phi thường
Ngày nay mấy biết Nam Vang phúc dầy
[26b]
Tán rằng
Đời dõi ba truyền, nghiệp theo một mối
Nước Chân Lạp đã dâng thư tạ tội. Ấn phiên vương cũng sai sứ sang phong
Muốn yên dân mà tính cách an dân
Lo sảnh sự[83] chẳng làm điều sinh sự
Bốn bể tăm kình lặng ngắt. Trong quần lê đều vui vẻ cơm Nghiêu[84].
Bảy năm ưng phượng dõi truyền. Trên chín bệ đã êm niềm áo Thuấn[85].
Kể từ ta bảo hộ nước Cao Miên từ năm Minh Mệnh thứ mười lăm (1834) là đầu. Xét ra lúc ấy vua nó dẫu mất cũng nên đặt vua khác. Con trai không có cũng nên đặt em trai nó lên.
Vua nó tên là Nặc Chăn, chết không có con trai, chỉ có bốn gái mà thôi. Còn em là Nặc Đôn, Nặc Nguyên chốn sang Xiêm La cho nên ta phải bảo hộ. Khác nào thả diều cao vẫn cho bóng cao mà dây ở mình.
Vì chưng nước có vua, trước là dễ việc phục tùng cho nó, sau là cũng dễ việc cai trị cho ta. Thế mà quan [27a] ta không dùng cách khôn ngoan, lại làm những sự tàn bạo. Như là người Nặc Nguyên xin về, thì lại đem giải ngay về Huế. Người Nặc Nguyên nghe tin người Nặc Chăn chết, đem ra mười chiếc thuyền, dân chín nghìn người về hàng, có ý cầu để mà làm vua. Ông Trương Minh Giảng mật tâu xin chém. Ngài không cho, dân thì đem ra ở các khu bể, còn người Nguyên thời bức về Huế.
Nàng Ngọc Vân, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên là con gái vua Cao Miên, thì bắt về ở tỉnh Gia Định.
Nàng Ngọc Thư cũng là con gái vua Cao Miên, vì chưng có mẹ tên là Mao sang ở Xiêm, muốn về hàng, gửi lời cho người Dương Quan Thảo. Bèn mưu mấy nàng Ngọc Thư viết tờ bảo người Mao về. Người Mao về thì người Quan Thảo bắt mà nộp, nên nàng Ngọc Thư cùng người Mao đều phải tội mà chết. Vì cớ ấy nàng Ngọc Vân, Ngọc Thu, Ngọc Nguyên cũng phải bắt về ở tỉnh Gia Định [27b]
Người Trà Long, người Nhâm Tý, người La Kiên, đều là người đầu mục nước Cao Miên thì bắt đem ra ở Bắc Thành. Ba người ấy về kinh chúc hỗ, Hộ Bộ hỏi số đinh nước Cao Miên bao nhiêu, ba người ấy không nói thực, bèn giáng chức đi bắt ra ở Bắc Thành.
Đầm trì thi đặt ra thuế quan tân, điền thổ thì làm ra thuế đại lượng.
Lúc ấy quan Khâm sai là ông Lê Văn Đức[86] hội đồng mấy quan tướng quân Trương Minh Giảng đặt ra thuế quan tân, điền thổ.
Nếu mà khắp cả hoàn cầu
Đất đâu giả đấy binh đâu rút về
Trăm năm một cuộc bình huề
Có khi trời bể tuần về Chuyên Mông[87]
Mấy người tham thưởng ân công
Để mất danh tiếng cũng không thiếu gì
Lấy lính nó mà đặt ra cơ nọ đội kia [28a]
Đặt làm hai mươi lăm cơ, voi một cơ, cộng cả thảy là một vạn một nghìn bảy trăm sáu mươi chín người. Đem dân nó mà chia thành huyện này châu nọ. Một nghìn hai trăm người giữ ở Nam Phương gọi là dân mới. Nghĩa là muốn cho nó không dân không nước, để giữ lấy quyền mình mà không biết nó hãy còn giống còn nòi, chưa dễ hóa ra cho hết. Nên trong thì người Nặc Đôn dấy lên, ngoài thì nước Xiêm La xui dục. Ông Trương Minh Giảng đã phải liều mình mà tự tử, ông Lê Văn Đức cũng đã đánh dẹp mà không yên. Tiền không biết mất là bao, lính không biết chết là mấy, chẳng khỏi đất nó lại giả cho nó, quân ta lại rút về ta. Thế mấy biết các quan ta muốn cầu lấy phần thăng thưởng mà làm nước ta mang tiếng tàn bạo.
Thăng thưởng là đáng mấy mươi
Làm cho để tiếng chê cười cho ai. [28b]
Xem như nước Pháp bảo hộ Cao Miên đã hơn bốn mươi năm nay. Thời vua nó là Tô Đôn đã chết lại đặt em nó là Hồng Li Sồ Ba nối lên ngôi vua. Tiếng rằng Cao Miên có vua, nhưng thực là nước Pháp làm chủ. Trước đã phần được tử tế, sau cũng dễ trông nom vậy. Thời ta xem nước Đại Pháp Bảo hộ Cao Miên bây giờ mà ta lại tiếc cho ta bảo hộ Cao Miên ngày trước. Vả lại ta xem ta Bảo hộ Cao Miên lúc trước, cũng nên ơn Lang Sa bảo hộ ta vậy.
Dễ còn khô lại mọc lên
Than còn lửa tắt lại liền cháy ngay
Cầm quyền thời phải bằng tay
Buộc cho chặt quá sợ dây đứt liền
Vành ngoài pháo đã tra ngòi
Vành trong lại có thầy dùi đánh theo
Chung quanh ai cũng nước Xiêm
Ông Trương khó nghĩ cho êm sự này
Tự Đức嗣德, vua đời thứ tư là vua Dực Tông, ngài con thứ hai vua Hiến Tổ, niên hiệu Tự Đức. Ngài là người [29a] thông minh ham học. Năm thứ tư (1851) ngự lên tế Văn miếu, lại ngự lên nhà Di Luân, sai các quan giảng sách. Việc ấy cũng là vận sự trong một đời. Lúc ấy chắc là nước ta sẽ được sự bình yên lâu ngày, nên chi trên dưới ai nấy cũng đều chăm việc văn thơ mà không cần chi việc võ bị nữa.
Mộng Thạch 夢石 bình
Xưa nay thông hiếu mấy Tàu
Thơ văn là sự ở đầu giao lân
Tác nhân lại gặp thánh quân
Phương Nam đã thấy Khuê văn rõ bừng
Cuộc đời khi giáng khi thăng
Thịnh đường văn sự suy đường võ công
Chẳng qua một giải Á Đông
Văn chương chung một vận cùng mấy nhau
Năm thứ mười, tàu nước Đại Pháp vả nước Y Pha Nho đến cửa Tu Đoan[88], đem thư xin ta ba việc. Việc thứ nhất là xin giảng đạo; Việc thứ hai là xin thông thương; Việc thứ ba là xin mở phố ở núi Trà Sơn. Theo như các khoản [29b] đã xin mà cho ngoại quốc được thông thương, nghĩa là đem sự tiền bạc đến cho mình, đem sự khôn ngoan đến cho mình, thực là những việc ích lợi. Tiếc là thửa trước các quan đều là những người thủ cựu, ai ai cũng đều xin đừng.
Báo Chi 報之
Người đà khôn khéo đến nhà
Vì ai ngăn đón hóa ra phụ lòng
Ngài mấy sai ông Nguyễn Tri Phương[89] vào làm Tổng thống đóng quân Quảng Nam. Đến năm thứ mười hai, nước Đại Pháp, nước Y Pha Nho đem tàu binh vào cửa Cần Giờ đánh phá thành Gia Định, rồi lại đưa tờ xin đất từ Bến Thành cho đến Bến Cây Mai, để mà lập phố thương mại. Nhưng ta cũng không cho, lại sai ông Nguyễn Tri Phương đem quân vào Gia Định. Lúc ấy nước Đại Pháp còn đương mắc việc nước Tàu, chỉ lưu ít tàu bè quân lính mà thôi. Đến năm thứ mười bốn (1861), việc nước Tàu đã yên rồi, thì nước Đại Pháp, nước Y Pha Nho cất quân trở lại, đánh phá ở đại đồn. Thời việc [30a] đồn lũy súng ống của ta đã phòng bị trong ba năm trời, chẳng qua trong một hai giờ đã hóa ra một áng đất than vậy. Lúc ấy ở ngoài Bắc Kỳ, tên Lê Duy Phụng[90] lại nổi giặc lên. Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Yên đâu đâu cũng dậy. Vì cớ ấy, ta phải xin cắt đất ba tỉnh Nam Kỳ giao cho nước Đại Pháp để đền sự phí tổn. Nước Đại Pháp chịu nhận đất mà giả tiền phí tổn cho nước Y Pha Nho.
Mộng Thạch 夢石 bình
Nhà giàu đóng cửa đã quen
Thấy ai người lạ thì liền xua nghe
Lo rằng kẻ cắp ban ngày
Nào nghi dâng của trong tay cho người
Tang thương dễ tính cuộc đời
Sau này chắc cũng có người cười ta
Báo Chi報之
Trách người một, trách ta mười
Vì chưng sàm sỡ  nên người dẻ run
Năm thứ mười lăm (1862), sai ông Phan Thanh Giản[91] sang nước Đại Pháp, lần ấy là thứ nhất. Lúc ấy tỉnh Gia Định, tỉnh Biên Hòa [30b] tỉnh Định Tường là ba tỉnh ngoài đã giao cho nước Đại Pháp. Ấy là lần thứ nhất. Còn tỉnh Vĩnh Long, tỉnh An Giang, tỉnh Hà Tiên là ba tỉnh trong còn về nước ta cai trị. Thời ngài cho ông Phan Thanh Giản làm chức Kinh lược, vì chưng lúc ấy nhân Trương Công Định[92] nổi lên mà dân lục tỉnh có ý thông đồng. Nên chưng nước Đại Pháp lấy cả ba tỉnh nữa. Khi ông Phan Thanh Giản đã ký tờ giao rồi, thì không chịu ăn mà chết.
Mộng Thạch 夢石 bình
Cờ hòa nào phải thí xa
Sống trong sáu tỉnh sơn hà hổ ngươi
Ký xong ba chữ đi rồi
Đứt chín khúc ruột rụng mười lá gan
Hận nay để lại giang san
Làm hồn tinh vệ lấp ngang bể ngoài
Đã đành không ích chi đời
Nhưng mà cũng để cho người biết ta
Khi việc Nam Kỳ đã xong, thời ngài lại sai ông Nguyễn Tri Phương làm Tổng thống Bắc Kỳ. Trong khoảng bốn năm, thì tên [31a] Phụng, tên Ước, tên Độ cũng đều bắt được. Năm thứ mười tám (1865), ngài làm điện ở Khiêm Lăng. Tên Đoàn Văn Trưng[93], tên Đoàn Văn Trực nhân dịp ấy nửa đêm kéo vào Khiêm Lăng, kiểu khứng ngài, nói rằng ngài sẽ nhường ngôi cho Hoàng tôn. Kéo quân vào cửa Tả dịch. Vì trời còn giữ ngài, ông Hồ Uy[94] coi thấy mà đóng cửa lại, nên bắt hết chúng nó. Vì cớ ấy, Hoàng tôn là ông Đinh Đạo là con ông Đinh Bảo cũng phải chết oan.
Năm thứ hai mươi (1867), giặc Tàu là Ngô Côn[95] kéo sang nước ta. Nó có hai đảng, một  đảng gọi là Cờ Vàng tên là Hoàng Sùng Anh, một đảng gọi là Cờ Đen tên là Lưu Vĩnh Phúc[96]. Lúc ấy quân ta và quân Tàu đánh nhau đã bốn năm mà cũng chưa yên. Nhân dịp Lưu Vĩnh Phúc xin hàng thì ta lại dùng quân Cờ Đen để đánh quân Cờ Vàng. Rồi ngài cho nó chức quan, cấp lương thực cho nó, lại cho nó riêng một đất Lào Cai. Nhưng mà tiếng rằng nó hàng phục mấy mình, mà mình có sai nó việc chi nó không muốn làm thì thôi. Nghĩa là  [31b] mình không kiềm chế được nó vậy.
Gặp khi chủ nhược nô cường
Dọc ngang mặc kẻ mượn đường dọc ngang
Tiếng hàng thì phải ra hàng
Chú Đen cũng mấy chú Vàng đồng môn
Năm thứ hai mươi hai (1869), có người Tây buôn nước Đại Pháp tên là Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)[97], cầm thư ông Nguyên soái Gia Định ra Bắc Kỳ xin sự thông thương đường Vân Nam. Quan Tổng thống Nguyễn Tri Phương không cho. Đến năm thứ hai mươi sáu (1873), ông Nguyên soái Gia Định sai ông quan ba Ngạc Nhi[98] đem một trăm quân ra Hà Nội, chỉ là có ý sai ra xem xét mà thôi. Khi ông ấy đã đến rồi, trông thấy ta làm ra sự ngăn trở, ông ấy mấy đánh thành Hà Nội. Ông Nguyễn Tri Phương chết ở trong thành. Rồi lại lấy luôn tỉnh Hải Dương, tỉnh Ninh Bình, tỉnh Nam Định. Chỉ có một trăm quân mà trong một tháng lấy được bốn tỉnh như vậy. Khi ngài đã biết tin rồi thì sai ông Trần Đình Túc, ông Nguyễn Trọng Hợp[99] ra Bắc Kỳ. Sai ông [32a] Nguyễn Văn Tường[100] vào Gia Định. Ông Nguyên soái Gia Định tên là Du Bi Lê (Dupré) sai ông Hoắc Đạo Sinh (Philastre) đi mấy ông Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kỳ mà giao giả bốn tỉnh lại. Khi quan Tây quan Nam chưa đến Hà Nội, ông Ngạc Nhi cưỡi ngựa lên đường Sơn Tây, phải quân Cờ Đen giết chết. Lúc ấy, quân thứ Sơn Tây, người phong tước Tử, kẻ được phong Nam. Nhưng mà nước Đại Pháp cũng không thù oán cũng vẫn ký hòa ước mấy ta. Trong tờ này, ta phải nhận nước Đại Pháp được đặt Khâm sứ ở Kinh và đặt Lãnh sự ở Hà Nội, Hải Phòng. Tờ hòa ước có câu rằng: Vua An Nam từ nay mà đi, có quyền tự chủ không phải thần phục nước nào, nghĩa là không phải thần phục nước Tàu như trước nữa. Tờ hòa ước đã ghi rồi, thời bốn tỉnh lại giả lại cho ta. Nước ta mấy nước Đại Pháp, lần hòa này là lần thứ hai, nhưng cũng còn quyền tự chủ của mình, cũng có thì giờ mà sửa sang việc trong nước vậy. Rồi nước Đại Pháp lại cho năm chiếc [32b] tàu ống khói, hai nghìn khẩu súng nạp hậu. Nhưng mà súng thì nhiếp vào kho Vũ khố, tàu thì không mượn người Tây xem máy, chiếc thì đắm ở Đà Nẵng, chiếc thì đắm ở Thuận An.
Năm thứ ba mươi lăm (1882), ông quan năm nước Đại Pháp tên là Lê Vi Y Dư (Rivière )[101], đem hai trăm quân đến tỉnh Hà Nội, nói rằng có ý đi đường Vân Nam. Ông Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu[102] đóng cửa thành không cho vào. Rồi ngài sai ông Nguyễn Chính làm Kinh lược Bắc Kỳ kéo quân đi đường Mỹ Đức lên Sơn Tây. Quan năm nghi rằng ta có ý đánh nhau, nên lại hạ thành Hà Nội. Ông Hoàng Diệu tự tận ở trong thành. Khi đã biết tin, ngài sai ông Trần Đình Túc, Nguyễn Hữu Độ[103] ra Hà Nội để mà thương giảng các việc.
Tay không mà đánh hùm già
Thế gian ai cũng biết là không xong
Cô thành một trận ruổi rong
To gan mấy biết anh hùng là đây
Nhật Nga[104] khai hấn phen này
Thử đem Lữ Thuận[105] sánh tày mà coi
Chiến quân kể mấy muôn [33a] người
Hay sao tướng soái chen vai ra hàng
Tính xem ai nhược ai cường
So xem dạ sắt gan vàng ai hơn
Thời quan năm có xin ba việc. Thứ nhất là xin Bảo hộ nước Nam; Thứ hai là xin đất ở ngoài thành Hà Nội, từ Ô Hàng Đậu cho đến Cửa Nam; Thứ ba là đặt nhà Thương Chính ở Lạng Giang, ở Bạch Hạc. Các quan ta kêu rằng, khoản thứ nhất thì nặng lắm, xin chịu khoản thứ hai, thứ ba mà thôi. Xem ý ông ấy cũng muốn dừng. Vì chưng khi đã tâu về thì các đình thần không ai ứng cả. Ngài mấy sai ông Phạm Thận Duật[106] sang Thiên Tân kêu mấy ông Lý Hồng Chương[107] để xin nước Tàu cứu viện cho ta. Nước Tàu không dám ra mặt chống mấy Đại Pháp, nhưng mà sai ông Đường Cảnh Tùng sang tỉnh Sơn Tây, ông Từ Diên Húc[108] sang tỉnh Bắc Ninh, là có ý đợi khi nào nước Đại Pháp có lấy nước ta rồi thì chiếm các phần đất ấy cho nước Tàu. Nhưng mà ta chắc rằng người ta có lòng cứu viện [33b] cho mình, nên mấy đổi cục hòa ra cục chiến. Sai ông Hoàng Kế Viêm[109], người Lưu Vĩnh Phúc đem quân đóng phủ Hoài. Nghĩa là tỏ ra đánh nhau vậy. Ông quan năm ở thành Hà Nội đã hơn một năm. Các việc ông ấy xin cũng không được điều giả lời chi cả
Trước còn tự chủ đãi ta
Đến đây Bảo hộ đã ra cuộc người
Lời hòa thay đổi như chơi
Xin cho Bảo hộ đứng sai sau này
Năm thứ ba mươi sáu (1883) tháng hai, ông ấy mấy đem quân xuống hạ thành Nam Định. Đến tháng tư kéo quân lên đánh Phủ Hoài[110]. Khi quân đi đến Cầu Giấy, hai bên gặp mà đánh nhau, thì tướng của Lưu Vĩnh Phúc là Ngô Phụng Điển đã phải tử trận. Quân Đại Pháp lấy được xác ấy, mấy kéo ngay lên cách Cầu Giấy độ hai trăm thước tây. Quân người Hoàng Thủ Trung hai bên ruộng lúa vây lại, ông quan năm phải chết trận ở đó. Quân Đại Pháp kéo về thủ thành Hà Nội. Khi tin [34a] đã về đến Kinh Thành thì treo cờ Hồng kỳ báo tiệp ở bộ Binh ba ngày. Ai nấy cũng đều lấy làm trận này là sự vinh hiển cho nước ta mà không biết sự nguy hiểm cho nước ta vậy.
Mộng Thạch 夢石
Chết đuối vớ phải cánh bèo
Ốc nào mang nổi cục rêu bao giờ
Đương cơn lửa lớn cháy nhà
Láng giềng cứu hỏa lại ra than đồ
Thôi thôi tạ chú Đường Từ
Nam Quan từ đó cuốn cờ Đại Thanh
Lúc nước Đại Pháp đã được tin ấy rồi, thì đòi các quan Khâm Sứ, quan Lãnh Sự trở về mà sai ông Hà Đa Mang (Harmand) làm Toàn quyền. Từ đó ta đứng trên núi Đồ Sơn mà xem, thì hết áng khói đen nọ lại đến áng khói đen kia. Thực là tàu chiến Đại Pháp đã từng đoàn từng lũ mà kéo đến Bắc Kỳ ta vậy.
Đến tháng sáu năm Quý Mùi (1883), ngài mất, làm vua được ba mươi sáu năm. Ngài không có con, lấy em ông con ba người làm con nuôi. Khi ngài gần [34b] mất, di chiếu lập đức Cung Huệ[111] là con ông Kiến Thụy làm vua mà cho ông Trần Tiễn Thành[112], Nguyễn Văn Tường, ông Tôn Thất Thuyết[113] làm Phụ chính. Mới được ba ngày, ông Tường, ông Thuyết đã đổi ngay mà làm đức Cung Huệ. Về sau cũng phải giết.
Ta thì khi chiến khi hòa
Người thi khi lấy, khi là giả ngay
Một bên cầm sẵn trong tay
Một bên lúng túng khó xoay bên nào
Tán rằng:
Ấy trời bình trị, lòng thánh ưu cần
Nhà Di luân đã kể việc tu văn. ài Thuận tấn cũng quen rày giảng võ
Những chắc cõi Việt Nam một dải. Núi Hoành Sơn mà dõi sấm muôn đời.
Nào nghĩ năm Tự Đức thứ mười. Cửa Đà Nẵng đã dâng thư hai nước.
Thảng thốt xem qua trước mắt. Còn nghi hai chữ Thông Thương.
Vội vàng nghe lọt trong tai. Lại ngỡ mấy câu thỉnh chiến.
Gặp lúc ong nhà vừa nổi dậy. Nhân khi cáo hóa lại trườn qua.
Việc quyền nghi phải giữ một chữ Hòa. Tình giao hảo cũng ghi hai lần ước.
Từ đó Vân Nam ngăn lối. Giữ thành Sơn vẫn chắc có Cờ Đen.
Rồi ra [35a] Cầu Giấy gây thù. Đến đất Bắc có bao nhiêu mão trắng.
Việc nước còn đương bối rối. Việc nhà lại lắm đun chen.
Con em nuôi cả ba người. Những e nổi dòng kia ra khác nọ.
Tuổi mẹ đã hơn bảy chục. Lại lo phần quả nọ chín trên cây.
Gian nan đã ba sáu năm trời. Kể sao xiết non sông ghánh vác
Ân trạch khắp mười lăm triệu chúng. Nỡ nào quên núi bể cao sâu.
Mộng Thạch 夢石
Sinh đời loạn tiếc vận hèn
Trải phen thế biến trải phen chiến trường
Mắt trông tai cũng nghe tường
Tin không ai biết nói càng thêm đau

Cùng nhau trên đội ơn sâu
Cùng nhau một niệm ái ưu đến già
Trông xa bốn cõi sơn hà
Tân đình giọt giọt còn sa đầm đầm

Thực là lòng thánh ưu cần
Bấy lâu hậu trạch thâm nhân ở đời
Sức đâu tranh lại mấy trời
Nỗi nhà việc [35b] nước bời bời như tơ

Dẫu rằng gầy nửa sơn hà
Nhưng mà nghiệp lớn còn nhờ đến nay
Nếu bằng đời có tôi hay
Có đâu đến nỗi thế này xót xa

Từ ngày cung trụy ô hào
Trông lên vân hán mây cao mấy trùng
Cựu thần gặp thửa phi long
Thương vận hội nước nhờ công đức ngài
Xem trong bài tán mấy lời
Có khi thần ở trên trời biết cho
Bây giờ lấy Vua Thánh Tôn nhà Lê[114] cùng Đức Dực Tôn ta so lại mà xem. Kể ra một dòng lối. Thời Lê, từ vua Thái Tổ[115] đuổi giặc nhà Minh mà làm ra hùng cường tự chủ. Vua Thái Tông, vua Nhân Tông cũng là đời kế thể thủ thành; Đời Nguyễn ta, từ đức Thế Tổ diệt giặc Tây Sơn mà làm ra nhất thống dư đồ. Vua Thánh Tổ, vua Hiến Tổ cũng là đời thành quy thịnh trị. Thế thời hai ngài đều vâng lấy công nghiệp đời trước mà làm [36a] việc, rủ mối đời sau vậy. Nói về gia đình, bà Thái Hậu nhà Lê[116] giữ việc cách đoan trang; đức Từ Dụ ta[117] chăm việc đức kiệm cần, gia đình thực là chính, từ huấn thực là nghiêm. Nên chưng hai ngài cũng theo lời mẹ dạy, hết lòng phụng sự. Điện Thừa Hoa có khi đau yếu, thuốc dẫu đắng cũng là nếm mà dâng (Lê Thánh Tông), cung Gia Thọ có lúc phạt giận, dẫu phạt lâu cũng là lạy mà chịu (Đức Dực Tông).
Trước đi chơi ngài không tâu đức Thái Hậu. Đức Thái Hậu biết mà giận, mấy trách phạt lâu lắm. Càng lâu ngài càng lạy. Đức Thái Hậu mấy thôi giận. Từ đó đi bắn thì phải tâu, hễ có cho người mấy đi.
Thế thời cũng lấy hiếu đạo mà trị thiên hạ vậy. Nói về việc hình phạt, vua  Thánh Tông vì anh  người Nghi Dân[118] làm loạn mà ngài mới vâng mối chính. Thời trước hết phải diệt kẻ gian thần là người Lê Đắc Ninh[119]; Vua Dực Tông [36b]  thời vâng lời di chiếu mà anh là người Đinh Bảo[120] còn giám mưu gian, thời cũng phải diệt những kẻ thông đồng là người Đào Trí Phú. Việc hình phạt như thế cũng là công bình vậy. Nói về luật lệ thời nhà Lê từ lúc khai sáng còn đương nhiều việc, pháp luật lắm điều lạo thảo. Đến đời Hồng Đức mới định ra nhiều điều so với nhà Đại Thanh mà không kém. Nhà Nguyễn ta, đời đức Thánh Tổ đã định ra luật lệ. Đến đời Tự Đức thì lại nhiều điều bổ nghị, sánh mấy nhà Đại Thanh cũng không thua. Thế thì luật lệ nước ta trong hai đời ấy thực là đủ vậy. Nói về văn chương thì vua Hồng Đức học vấn uyên bác làm ra tập Thiên Nam Dư Hạ Lục[121], mà xướng họa thì có ông Đỗ Nhuận, ông Thân Nhân Trung[122]; Đức Dực Tông thì học vấn tinh tường, làm ra tập Ngự Chế Thi Văn[123], mà xướng họa thì có ông Tùng Thiện, ông Tuy Lý[124]. Thế thì việc văn chương nước ta không có khi nào mà thịnh được như hai đời ấy vậy [37a]
Tổng bình
Ông thánh trước ông thánh sau
Mười điều ta đã như nhau cả mười
Suất về vận hội mà coi
Khác nhau chỉ việc đạo trời thịnh suy
Lời bàn thực đã cao kỳ
Cấp kì khí vận sưu về thi văn
Gọi là liệt sử nguyên huân
Gọi là hai thánh công thần cùng nên
Nói về việc đãi thần hạ. Vua Thánh Tông thì khai phục cho ông Nguyễn Trãi[125] là kẻ tội oan, mà người Lê Xí, người Lê Lăng[126] thì liệt vào kẻ trung thần, người Hi Cát, người Quyết Trung[127] thì dùng làm quan tướng soái; Đức Dực Tông thì khai phục cho ông Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt là người công lớn. Mà ông Trương Đăng Quế, ông Vũ Xuân Cẩn thì đãi là bực huân cựu. Ông Nguyễn Tri Phương, ông Võ Trọng Bình[128] thì khen là người cần kiệm. Thế thì hai ngài đãi thần hạ như thế là hậu, dùng người như thế là tinh vậy. Nói về việc hưởng niên thì hai ngài đều sống năm mươi sáu tuổi [37b]. Một ngài làm vua được ba mươi tám năm, một ngài làm vua được ba mươi sáu năm. Làm vua như thế cũng đã lâu dài, hưởng niên như thế cũng là trung thọ. Vì trưng hai ngài đều là nhiều lòng ân cần mà ít lòng thị dục. Xem thế thì công đức hai ngài đều giống nhau cả, khác nhau chỉ có một cái vận hội mà thôi. Xem đạo trời trong mười năm thì có một lần một tiểu biến, trăm năm thì có một lần trung biến, năm trăm năm thì có một lần đại biến, nên cái thịnh suy trị loạn từ đó mà ra. Từ đời nhà Đinh đến cuối nhà Trần đã hơn bốn trăm năm, nên chưng phải có một lần suy loạn. Vua Lê Thái Tổ dẹp loạn mà sang trị, thời vua Thánh Tông là nối lấy sau lúc thịnh trị vậy. Từ đời nhà Lê cho đến đời Đức Dực Tông cũng đã gần năm trăm năm, cũng đã từ một đời tự trị mà vào loạn. Thế thời Đức Dực Tông chính đương lúc vận hội suy vậy. Vận hội có khi thịnh có khi suy, nên cái cảnh ngộ [38a] có khi thuận có khi nghịch. Vua Thánh Tông  gặp buổi thịnh thì cảnh chi cũng ra thuận. Ở trong nhà thì mẹ đã già mà báo hiếu được, con đã đông mà dạy bảo đều nên. Đức Thánh Tông được mười bốn người con, một gia đình như thế cũng là vui vẻ; Ở ngoài thì đánh được nước Chiêm Thành mà mở ra đất Quảng Nam, đánh được nước Ai Lao mà thêm được châu Quy Hợp. Bờ cõi như thế thực cũng mở mang, nên chưng dạo chơi khắp nơi danh thắng, vịnh đề khắp hết non sông mà thơ văn lại thêm hùng hồn cao mại.
Đức Dực Tông gặp thời suy thì cảnh cũng ra nghịch, ở trong thì mẹ tuổi đã già, con trai không có, xem tình cảnh cũng là buồn dầu; Ở ngoài thì giặc cướp hết nơi này đến nơi nọ, hòa ước hết lần nọ đến lần kia. Xem công việc nhiều điều vất vả nên chi đau yếu đã luôn ở mình, thuốc thang cũng luôn ở miệng, mà thi văn lại càng thảm đát bi thương. Xem thế thì biết vận thịnh suy là vận chung của trời đất, thuận nghịch là cảnh riêng trong một đời [38b] Cảnh nghịch thì là găph vận suy, cảnh thuận thì là gặp vận thịnh. Đọc sách phải lấy thịnh suy mà xem việc vận hội, không nên lấy hơn thua mà bàn đấng anh hùng.
Mộng Thạch 夢石 bình
Cung Gia Thọ, điện Thừa Hoa
Hai vua Thuấn hiếu hai bà Khương nhâm
Cách nhau hơn bốn trăm năm
Đế vương một nết cổ kim một nhà
Vẽ ra nét bút như hoa
Cũng là danh đối cũng là danh ngôn

Năm trăm năm một vận trời
Năm trăm năm cũng một đời thánh sinh
Tính ra đến vận hà thanh
Hay là số ấy ông xanh quên rồi
Thơ văn chung một tính trời
Bên thì hào mại bên thời bi thương
Thịnh suy là kiếp văn chương
Khéo đem cảnh ngộ buộc sang tính tình
Điều nay tiên đế tinh linh
Chắc khen nghị luận là tinh trong đời
Đọc lên đã khá lòng rồi
Biết người làm sách là người khổ tâm [39a]
Hiệp Hòa, vua đời thứ năm, là vua Phế đế, em đức Dực Tông, niên hiệu Hiệp Hòa. Ngài trước phong làm Văn Lãng công. Ông Nguyễn Văn Tường, ông Tôn Thất Thuyết lập ngài làm vua, mới được một tháng thì tàu chiến Đại Pháp  đã kéo vào mà đóng ở cửa Thuận An. Ông Vũ Văn Sĩ, ông Lâm Hoằng phải tử trận. Khi ấy Tử cung[129] đức Dực Tông còn ở trong điện. Ngài sai ông Trần Đình Túc, ông Nguyễn Trọng Hợp ra cửa Thuận An xin hòa. Ông Toàn quyền Hà Đa Mang (Harmand) định lời hòa ước mấy ta cả thảy hai mươi bốn khoản. Trong có một khoản nói rằng, nước An Nam phải nhận nước Đại Pháp là nước Bảo hộ, tự nay về sau không được thần phục nước Tàu nữa. Lần này là lần hòa ước thứ ba. Theo như tờ ấy thì nước ta từ đó mà đi đã thuộc về quyền nước Đại Pháp bảo hộ vậy. Ông Tường, ông Thuyết mượn lấy cớ ấy mà chết ngài. Quan đại thần là ông Trần Tiễn Thành có ý nói rằng, ký việc hòa ước là tại ngài, không phải tại [39b] các ông ấy vậy. Làm vua được bốn tháng mà thôi.
Chú: Năm thứ ba mươi sáu tiên đế thăng hà, trước đó hai tháng, (có) Kê tiên[130] ban dược phương, ám chỉ thời sự. Lời Kê rằng:
王不流行三十錢[131]Vương bất lưu hành tam thập tiền, chỉ năm ấy nhà vua mất;
劉寄奴陰乾不用Lưu ký nô âm càn bất dụng. Chỉ Lưu Vĩnh Phúc;
陳皮碎骨補Trần bì toái cốt bổ, chỉ Trần Tiễn Thành bị nạn;
使君子去仁Sử quân tử khứ nhân, chỉ Lại bộ Nguyễn Văn Tường;
兵榔去殼Binh lang khứ xác, chỉ Binh bộ Tôn Thất Thuyết;
蒼耳子十八錢晒乾Thương nhĩ tử thập bát tiền sái can;
細辛同煎Tế tân đồng tiễn.
Coi vua như ngói trên tay
Coi nước như thể con quay của mình
Từ ngày vương bất lưu hành
Sử quân tính độc dụ duềnh Tân lang
Ký nô nên để âm càn
Trần bì thuốc bổ có cơn cớ gì
Tán rằng:
Vua chưa mấy ngày, nước vừa nhiều nạn.
Tàu sắt ghé vào tám chiếc, bể hải vân coi dật khói đen [40a]
Súng đồng bắn suốt ba ngày (Đến ngày thứ ba Thuận An thất thủ), cửa Thuận tấn mấy treo cờ trắng (Ngài sai các quan treo cờ trắng xin hòa).
Thảm thiết Tử cung còn đó, gặp cơn nguy khôn xiết kể đau lòng.
Bụi vàng sứ quán giục sang (Ông Toàn quyền đem tờ hòa ước hai mươi bốn điều chờ phải giả lời), ký tờ ước cũng liều mà nhắm mắt.
Vua bốn tháng làm chi ra lỗi lớn, chiến vì đâu mà hòa cũng vì đâu.
Bút nghìn thu trách những kẻ lộng quyền, thí phải chép mà phản đành phải chép.
Kiến Phúc, vua đời thứ sáu là vua Giản Tông, con ông Kiên Quốc công, mà làm con nuôi thứ ba đức Dực Tông, niên hiệu là Kiến Phúc. Khi vua Phế Đế đã bị giết rồi, thời lập ngài làm vua mà ông Nguyễn Văn Tường, ông Tôn Thất Thuyết làm phụ chính. Lúc ấy, ta nhận sự bảo hộ mấy nước Đại Pháp nhưng còn mong nước Tàu cứu viện cho nên sai quan đi [40b] lại Thiên Tân để nghe tin tức. Tháng mười năm Tự Đức thứ ba mươi sáu (1883), quan Nguyên soái Đại Pháp tên là Lạc Bi kéo quân lên đánh Sơn Tây. Thời quan Tàu là Đường Cảnh Tùng mấy Lưu Vĩnh Phúc bỏ chạy. Rồi lại đem tàu sang đánh tỉnh Phúc Châu, cũng là chiếm được. Tháng hai năm Kiến Phúc nguyên niên (1883), quân Đại Pháp lại kéo sang đánh tỉnh Bắc Ninh. Ông Từ Diên Húc bỏ thành mà chạy. Từ đó trong hai năm trời, lúc thì Đại Pháp lấy được tỉnh Lạng Sơn, lúc thì quân Tàu thu phục tỉnh Lạng Sơn lại, cũng chẳng qua chỉ tranh nhau sự bảo hộ nước ta mà thôi. Đến khi nước Tàu biết rằng không thể địch được nước Đại Pháp, thời chịu nhận nước Đại Pháp là Bảo hộ ta, mà Đại Pháp giả lại Phúc Châu cho Tàu. Tờ Hòa ước ấy ký ở Thiên Tân. Từ đó, cái ấn của Tàu phong cho ta thì nộp lại Đại Pháp, mà ông Tường, ông Thuyết vẫn mong về sự nước Tàu cứu viện. Ngài làm vua được một năm rồi mất [41a].
Than rằng:
Vua dẫu đức hiền, tôi còn thế lớn.
Mấy lần thay thay đổi đổi, đau lòng vì năm tháng đặt ba vua.
Nhiều phen được được thua thua, mặc sức để hai nhà tranh một nước.
Nhân lúc Thiên Tân ký ước, lầu Tây kia sứ quán đã nộp ấn phong vương.
Từ đây Đại Pháp cầm quyền, cửa Nam nọ mấy treo cờ Bảo hộ.
Mới biết đem vàng đi đổ, nghìn năm dại ấy kể là bao.
Lại toan đánh bạc liều thua, hai lũ tôi quyền còn chưa chịu.
Tục ngữ có câu: Ghánh vàng đi đổ sông Ngô. Nghĩa là ta đem vàng đi cống nước Tàu.
Bình:
Vận sao gặp lúc ba đào.
Ngôi vua như thể ngôi sao thay vì
Nước sao nước chẳng một bề
Trăm tên đâu lại một bia bắn vào
Quyền gian tội kể xiết bao
Nhà treo ốc giột mưa dào mấy phen
Xét nước ta nhầm mấy nước Tàu có hai việc. Điều thứ nhất là nhầm việc học hành. Kể ra việc văn minh đời trước [41b] thì nước Tàu đã hay, việc văn minh thời nay thì nước Tàu lại là giở. Vì chưng ta học sách Tàu đã hơn nghìn năm nay. Như nói trời là xoay mà không biết là khí, nói đất là vuông mà không biết là tròn; Giống người có năm sắc mà không biết là sắc chi; Khí hậu chia làm ba mà không biết mình là khí nào; Học vấn đã ít tinh thông, công việc lại nhiều sai ngộ; Tin lấy chữ Thành chữ Tín mà bảo rằng Thành khả dĩ hóa hùm beo; Tin lấy chữ Nghĩa chữ Nhân mà bảo rằng khả dĩ thay tàu súng. Cho nên một lần đánh nhau thì thêm một lần hòa ước, ký một lần thì thêm mấy mươi điều. Lúc đương đánh thì duy tân chắc ở phen này, khi đã hòa thì thủ cựu lại hơn lúc trước. Ông Phạm Phú Thứ[132] cũng có dâng sách xin cho các nước thông thương, nhưng mà bàn đi tính lại, nói tốn thì ai nấy cũng không ưng. Người Nguyễn Trường Tộ[133] cũng có dâng sớ xin biến pháp [42a]
Thế thì ta chẳng dại đâu
Có người biết trước lo sau đó rồi
Chẳng qua còn mặc vận trời
Một người tuấn kiệt mười người hèn ngu
Nguyễn Trường Tộ, người tỉnh Nghệ An, đi học bên Tây, dâng một tờ sớ thậm dài mà xin biến pháp. Ấy là nói rằng, không chịu thay pháp thì trong mười năm nữa sẽ mất nước. Tờ sớ ấy dâng ở thời năm Tự Đức thứ hai mươi ba. Ngài dục vào Tả vu phúc cứu hai ba lần, sau cũng không dùng. Tờ sớ rằng, Thức kim thời vụ vị chi kiệt tuấn, thức cổ thời vụ vị chi dung ngu.
Nhưng mà phúc đi phúc lại, nói rằng theo Tây, sau cũng không dùng. Cũng có người Nguyễn Đức Hậu, đi mời nước Phổ Lỗ Sĩ[134] về. Khi tàu đã đến Tu Đoan thì đuổi đi mà nói rằng mình không mời.
Giám đâu tỏ mặt ra mời
Sợ ông khách trước còn ngồi như kia. [42b]
Cũng có người Đinh Văn Giản sang sứ nước Xiêm La, vậy mà trong thư gọi người ta là Vương mà xưng mình là Đế. Công việc sai ngộ như thế cũng bởi vì học hành không suy ra.
Không tiền lên bực đàn anh
Lúc nghèo tính quẩn tính quanh sinh nhầm
Ai xem mà chẳng cười thầm
Những ông Tử Sản, Tỳ Thầm[135] nước ta
Điều thứ hai là nhầm việc thế lực. Nước Tàu ở đời trước thì vẫn là mạnh. So mấy các nước bây giờ thì thế lực lại là hèn. Vì chưng ta thần phục nước Tàu từ đời nhà Đinh cho đến nay đã gần tám trăm năm. Vì sợ nước Tàu người nhiều đất rộng, nên phải giữ chữ nội thần ngoại đế. Dẫu mà có phen đánh nhau mà quân Tàu mới chạy về đất ải quan[136], thời đã dâng biểu tạ tội, sứ ta theo rõi cửa Nam Quan (hai nước giáp nhau). Đời trước đã bày ra đời sau cũng theo thế. Cho nên dẫu có giao hảo mấy Đại Pháp mà vốn còn giữ câu thần phục nước  [43a] Tàu vậy, mà không nghĩ rằng nước Ta, nước Tàu cùng cách học hành hủ hoại như nhau, thời cũng một cách suy đồi vậy. Từ năm Tự Đức thứ mười (1857) về trước, nước Tàu đã mất Hương Cảng mà vua Hàm Phong[137] phải chạy. Cũng là nước ta lúc đã mất ba tỉnh Gia Định rồi. Có đi học sao không học thầy hay mà cứ học thầy giở, có đi vay sao không vay nhà giàu mà cứ vay nhà nghèo.
Mượn anh yếu dắt anh gầy
Hai anh không gậy có ngày lăn pheo
Trông theo dở thẹn dở chào
Chú trê đổ dại cho nheo mấy lần
Giặc Ngô Côn thời cũng xin nước Tàu viện binh. Giặc Lý Lương Tài[138] thời cũng xin nước Tàu sai tướng. Đường Đình Canh[139] là người Tàu mà sang buôn nước ta, lại tôn là quan Khâm phái, nói rằng Lý Hồng Chương sai sang nên ta đều gọi là Khâm phái. Lưu Vĩnh Phúc là giặc Tàu mà thú mấy nước ta, lại cho cả đất Lào Cai. Vẫn chắc rằng có Tàu để [43b]chống lại mấy Tây, cho nên cuộc hòa mấy trở ra cuộc chiến. Ông Ngạc Nhi chơi Cầu Giấy có một mình, vậy mà khi quân Lưu Vĩnh Phúc đã bắt được thời kể như là một tướng Liễu Thăng[140]. Ông quan năm cũng lên phủ Hoài chỉ có bốn trăm quân, mà khi quân Lưu Vĩnh Phúc đã đánh thua thì kể như là trận Yên Ngựa (Chi Lăng)[141]. Còn như nước Tàu sai ông Đường Cảnh Tùng, ông Từ Diên Húc sang nước ta, là có ý chia đất mấy nước Đại Pháp, mà ta cứ nói rằng cứu viện cho mình. Ông Lý Hồng Chương ký hòa ước ở Thiên Tân, thực là lấy đất ta mà bán cho nước Đại Pháp. Thế mà vẫn giữ câu thần phục. Công việc sai nhầm như thế, cũng bởi vì nhầm việc thời thế mà ra.
Giám hỏi rằng nước Tàu sao lại không mất?
Nói rằng nước Tàu không mất vì có hai cớ. Một là đất nước Tàu rất rộng, dẫu mà các nước có chia nhau, thì cũng không thể nào cai trị cho khắp được. Hai là vì nước Tàu giao thông mấy nhiều nước. Dẫu nước này có muốn lấy, nhưng nước khác cũng không ưng. Xem như các nước đã lấy được Bắc Kinh rồi về sau cũng phải giả lại. Mới biết nước Tàu là một nước người nhiều đất rộng. Nếu mà biết lo đường tự chủ, thời hai mươi năm nữa không nước nào địch được. Mà không biết lo đường tự chủ, thời trong năm mươi năm nữa cũng chẳng khác chi Ấn Độ, Triều Tiên mấy ta vậy.
Vịnh ông Nguyễn Đức Hậu:
Tài cao tỏ việc sau xưa
Xét tình vạn quốc dâng từ đế hôn
Nước đời bực ấy làm khôn
Kể ra là vượt nghìn muôn những người
Lượng trên ví có nghe lời
Hưng suy xoay lại cơ trời đã lâu
Trảo cân nhân vật toàn cầu
Tai kia mắt ấy kém đâu Y Đằng[142]

Tiếc ai là vì non sông
Khen ai là vì nhẽ công trên đời

Tiếc thay vượt bể qua rừng
Ông xanh nỡ dạ để thương anh hùng

Vịnh Lý Hồng Chương
Hồng Chương là chú phú thương
Cũng tay buôn bán cũng phường sỏ xiên
Đã toan sâu xé láng giềng
Của người thì vét cho yên của mình
Hàm Nghi, vua đời thứ bảy, là vua Xuất đế, con ông Kiên Quốc công, niên hiệu Hàm Nghi. Ngài mới mười một tuổi, ông Nguyễn Văn Tường, ông Tôn Thất Thuyết lời rằng, vua hãy còn trẻ, cho nên lập ngài, để các ông ấy làm phụ chính. Lúc ấy, quân nước Lang Sa đã đóng ở Trấn Bình đài[143], mà hai ông ấy chắc rằng có thể đánh được, đặt ra làm quân Phấn nghĩa, tập quân ở vườn Hậu Phố. Rồi lại chuyên kho tàng của cải ra đồn Lao Bảo để làm đường hậu đạo.
Đến tháng Giêng năm Hàm Nghi nguyên niên (1885). Quan Toàn quyền kéo quân vào Kinh, chỉ có ý vì nước ta trừ những kẻ quyền thần mà thôi. Nhưng khi đã tới Kinh, ông Nguyễn Văn Tường thì sang yết, ông Tôn Thất Thuyết thì không chịu yết.
Đêm hai mươi ba tháng năm, quân ta phát hiệu đánh trước. Khi súng đã bắn rồi, thời thấy quân Đại Pháp [45a] không động dạng chi cả, cho nên hồng kỳ báo tiệp, rao khắp trong thành, nói rằng, lầu nhà sứ đã đổ rồi, Tây Mang Cá đã chết hết rồi. Chắc trận này là thu phục kinh thành của ta lại.
Chẳng ngờ, khi trời đã gần sáng, tàu xà lúc ấy từ cửa Thuận An kéo lên mà bắn trái phá vào điện. Quân Trấn Bình đài đổ ra, chia làm hai mặt, trong một giờ đồng hồ thì tiếng súng ta tức ngay. Vì trông lên cột cờ cửa Nam đã thấy treo một lá cờ Tam Tài[144]. Lúc ấy, Nguyễn Văn Tường chốn ra nhà thờ Kim Long, ông Tôn Thất Thuyết đem ngài và lưỡng cung chạy ra Quảng Trị. Chỉ lấy được một cái ấn Ngự Tiền Chi Bảo đem đi mà thôi.
Ngày hôm sau, ông Tường mượn ông Giám mục Lộc đem ra thú nhà Sứ, đổ là việc ấy là tại ông Thuyết chủ mưu vậy. Lúc ấy quan Tây theo ra Quảng Trị thì chỉ đón được lưỡng cung trở về. Còn ông Thuyết đi đường Thượng đạo mà đem ngài ra sơn phòng tỉnh Hà Tĩnh. Lúc ấy, nước ta trông thấy [45b] như thế, đâu đâu cũng đều dậy cả lên. Dẫu ông Tường cũng đã ra tờ hiểu dụ nhiều lần, nhưng cũng không ai nghe.
Ông này quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau
Kiến bò miệng chén không lâu
Mưu sâu lại mắc họa sâu đó mà
Đã đến hạn trong hai tháng rồi mà vua thời chưa tìm về được.
Quan Toàn quyền hạn cho ông Tường trong hai tháng phải đón vua về.
Lỗi này tại ông Tường mà ra. Cho nên quan Toàn quyền mấy đầy ông ấy đi mà đem ông Nguyễn Hữu Khánh, ông Phan Đình Bình[145]  vào Kinh. Thực là có ý nhiếp đặt ngôi vua nước ta vậy. Ngài làm vua được một năm. Về sau ông Thuyết chốn sang nước Tàu, dấu ngài ở châu Quy Hợp. Có quan Đại Pháp tìm được đem về, xem như công [46a] việc lúc ấy sinh sự ra là tại ông Tường, ông Thuyết. Ngài là một người bé dại mà thôi. Nhân vì lúc ấy có đức Đồng Khánh đã làm vua rồi, không có nhẽ một nước hai vua. Tại cớ ấy, nước Đại Pháp phải đem ngài sang ở thành An Dê (Algéria)mà cung cấp khoản đãi cho ngài. Thời cũng được là một ông vua nước khác vậy.
Trông theo nào thấy thúy hoa
Bể xanh man mác đâu là An Dê
Thôi về thời cũng như đi
Loạn li chịu bước lưu li tính dần
Hẵng cho rộng mắt rộng chân
Biết đâu con tạo xoay vần đến đâu.
Than rằng:
Một ngôi ấu chúa, hai kẻ quyền thần.
Một nước nhà xem đà giống đồ chơi, ghánh vua chúa cũng liều như đánh bạc
Đài cửa bắc súng liên thanh phút dậy, thình lình cơn sét đánh lưng trời.
Cột thành nam cờ ba sắc kéo lên, vắng vẻ nỗi rêu in mặt đất.
Tưởng những lúc cháy thành mà lây cá, bởi vì ai trọc tổ để trêu ong.
Kể từ gặp bước [46b] lưu li, nghìn muôn dặm đã đau lòng nước cũ.
May lúc nhờ tay tế độ, mấy mươi năm vui thú quê người
Thôi thôi đâu cũng đất trời, đường một bước thử liều mà nhắm mắt.
Sẽ sẽ từ xem dâu bể, cuộc trăm năm khá dễ trêu ngươi.

Giang sơn một cuộc tàn cờ
Nhờ tay nâng bổng hàm trì dễ ai
Tiếng quên thưa nhặt canh dài
Sương sao chốc đã hai mươi năm trời
Tấc niềm riêng những ngẩn ngơ
Hoa in điện cũ mây mờ dặm xa
Trêu ngươi trách những trời già
Rồng thiêng nỡ để bay gia mặt ao
Mênh mông bể rộng trời cao
Ngựa kia đã biết năm nào mọc răng
Đồng Khánh, vua đời thứ tám, là vua Cảnh Tông. Con đức Kiên Quốc công, làm con nuôi thứ hai đức Dực Tông, niên hiệu Đồng Khánh. Lúc ngài làm vua thì may gặp Bôn Be (Paul Beau) sang làm Toàn quyền đại thần. Mới sang tới nơi thì giao giả Kinh thành lại cho ta. Đặt ông Nguyễn Hữu Độ ra làm Kinh lược Bắc Kỳ để thay mặt cho nhà nước ta. Còn Trung Kỳ mười hai [47a] tỉnh thời cũng thuộc về quyền ngài cai trị. Đến năm Đồng Khánh thứ tư (1888), ta lại làm một tờ Hòa ước mấy nước Đại Pháp, mà giao thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Tu Đoan, Ba Ni ấy làm nhượng địa. Ngài làm vua được bốn năm.
Đương cơn bốn biển chiêm ô
Mặt trời vén hết mây mù mọc ra
Kìa thành quách, nọ sơn hà
Cơ đồ còn lại ấy là nhờ ai
Vua hiền tiếc phải vắn đời
Lòng trời chưa muốn thương người An Nam
Than rằng:
Vận nước chưa nguy, lòng trời còn đợi
Gặp lúc vua Hàm Nghi ra chạy, ba tháng nay là vắng vẻ ngôi trời
Nhớ từ lúc Đức Thế Tổ dựng nên, bốn đời trước vẫn dài lâu nghiệp thánh.
Vua chúa năm lần dời đổi, trải gió mưa mà lá ngọc còn tươi.
Non sông muôn thửa vững bền, dẫu binh hỏa cũng thành vàng như cũ
Mười hai tỉnh quyền hành tự chủ. Vạc nay đã chia đất làm ba.
Trong bốn năm công nghiệp chưa bao, rồng nọ bỗng chầu trời một phút [47b]
Thành Thái, vua đời thứ chín, con đức Cung Huệ, cháu Đức Dực Tông, niên hiệu là Thành Thái. Lúc ngài lên làm vua mới có mười tuổi. Ông Nguyễn Trọng Hợp, ông Trương Quang Đản[146] làm phụ chính. Lúc ấy ở Bắc Kỳ, việc giặc cướp chưa yên. May có ông A La Nát San (De Lanessan ) lại làm Toàn quyền, dùng nhiều sự khôn ngoan, giao quyền phép cai trị lại cho quan ta. Được phép mà đặt lính cơ, được phép dùng súng đạn. Vả lại phát súng cho dân Thượng du để cho nó chống lại mấy những quân ăn cướp bên Tàu. Từ đó, việc giặc cướp một ngày một yên. Nước Đại Pháp trông thấy như vậy, mới chịu cho nước ta vay tiền để làm đường xe hỏa là những việc có ích lợi. Theo như khi ông ấy làm Toàn quyền, thì quan dân ta ai cũng bằng lòng cả. Năm Thành Thái thứ bảy, bãi chức Kinh lược Bắc Kỳ. Vì ông Đô Mê (Doumer) sang làm Toàn quyền, thấy lúc ấy Bắc Kỳ đã yên rồi, thời không đặt nữa.
Năm Thành Thái thứ mười chín (1907), [48a] kể từ Hồng Bàng cho đến bây giờ, hợp cũng bốn nghìn bảy trăm sáu mươi tám năm.
Mộng Thạch 夢石 bình
Ta không biết cách học cách buôn, cho nên sự khôn ngoan ta một ngày một kém, sự tiền của ta một ngày một nghèo. Như thế thì nước Đại Pháp không lấy, nước khác cũng lấy mà thôi. Nước Đại Pháp việc bảo hộ cũng vì cớ ấy vậy. Dẫu mà nước Lang Sa có giao lại cho ta, không diệt nhau trong việc quyền thế thì cũng diệt nhau trong việc tiền bạc. Vì chưng chưa biết nghĩa đồng bào, chưa biết câu đoàn thể. Thế thì nước Đại Pháp chưa giao lại cho dân ta cũng vì cớ ấy vậy. Thôi thôi tôi cũng không giám trách tại ai, chẳng qua lòng trời xui khiến như thế mà thôi. Khi bĩ rồi có khi thái, khi dại lại có khi khôn. Từ nay mà đi thì xin ai nấy đều lo việc học hành. Trước thì phải học sử mình để mà thương lấy loài giống. Sau [48b] thì học sách người ta để học lấy khôn ngoan. Người nước ta không phải là người man di, xin cứ chăm chỉ theo duy một đường. Nước Pháp là nước văn minh, chắc khôn ngoan mà đãi cho ta ngang bậc. Ấy là bảo rằng, nước dò nguồn thì sạch dòng mà thuận. Ấy là bảo rằng, cây vun gốc thì cành lá mấy tươi.
Lại nói về việc khí giới, thì nào là tàu cột buồm, nào là súng cò máy đá, là những đồ dùng những bao giờ. Nói về việc học hành, nào là Kinh Nghĩa, nào là Thi Phú, là những đồ hủ đã lâu nay, đến nỗi trong một nước không được một người nào ra ngoại quốc đi học. Hễ có thông dịch việc chi chăng nữa, thì phải mượn người Linh mục. Cư trong một nước không được một người nào ra ngoại quốc thông thương. Hễ có mua bán cái chi, thời phải nhờ người Nguyễn Đức Hậu. Nói về việc học trò, thì ai cũng lo chi đi học, ai nấy cũng muốn làm quan [49a]. Nghĩa là làm quan để nuôi vợ nuôi con, không phải đi học để thương loài thương nước. Nói về việc canh nông thì chen chúc nhau trong một làng một xóm, tranh cạnh nhau trong một tấc một sào. Nói về việc xuống bể thì chê rằng nước mặn đồng chua. Nói về lên rừng thì chê ma thiêng nước độc. Nói về việc thuyền thợ thì vốn một muốn bán ra mười, chưa kéo thì đã làm giả dối. Đồ sơn thì mới mua về đã lở gióc, đồ khảm thì mới dùng đã long. Nói về buôn bán thì chạy quanh trong tỉnh này hoặc tỉnh khác. Đồ thì mua của chú Khách không thì ông Tây. Cao su thì đem lộn mấy đá, lúa ngô thì đem tẩm nước. Việc học hành như thế, việc làm ăn như thế, muốn cho nước mạnh mạnh được làm sao, muốn cho dân giàu giàu làm sao được.
Suốt một cây gốc nguồn dòng
Hồi long cố tổ nghĩa trong sách này
Từ Hồng Bàng đến thủa nay
Có thay  thời thế chẳng [49b] thay giống loài
Có ta cùng lẫn có người
Có thời có vận có trời chủ trương
Thịnh suy bĩ thái là thường
Sau đây ta biết tang thương thế nào
Kìa kìa sơn thủy thanh cao
Xin ai nhớ lấy Nam Giao cõi này
Tôi nay đã trải đắng cay
Phong trần chẳng kẻo chống tay vào giàm
Giám đâu khoát luận cao đàm
Lạc Long còn giống nước Nam là mừng
Rút giây vẫn biết động dừng
Bút nghiên nhờ nghiệp cao tằng thửa xưa
Cho nên kẻ chép người phê
Ái ưu một bụng chê khen mặc người
Kẻ trước khóc kẻ sau cười
Một câu thời thế nghìn đời như nhau

Nếu xưa sớm biết nghe ra
Chẳng bằng Nhật Bản cũng bằng Xiêm La
Chỉ vì đóng cửa giữ nhà
Ngoài ra nào biết ai là mấy ai
Suy ra tính trước một hai
Nỗi mình nhầm lỡ nỗi người đắn đo
Ngả tay bưng lấy sơn hà
Hơn năm sáu tỉnh vẹn ba bốn đường[50a]

Nay ta kể hết bệnh ta
Mượn thầy mượn thợ thuốc tra ma cầu
Vì là nguyên khí hồi mao
Hồng Bàng giống trước sinh sau muôn đời
Bằng ta cũng phải lo người
Tính đường vận khí liệu bài liệu phương
Khí hư thuốc mấy lưu hoàng
Lấy bệnh trợ bệnh bệnh càng thêm lên
Cổ phương thập bổ đại toàn
Những phương bất dị xin chàng nhớ cho
Mây câu tâm huyết dặn dò
Nào ai có thấy ta lo cuộc đời
Phụ chép truyện ông Đào Duy Từ
Ông Duy Từ là người Hóa Trai, rộng thông Kinh Sử mà lại tinh học Tượng Vĩ, Thuật Số. Lấy cớ con nhà Hát xướng cho nên không được vào thi. Ông ấy lấy làm tức giận. Nghe Nguyễn chúa ta là người thương dân trọng sĩ, quyết chí đi theo. Vào đất Hoài Nhân xã Tùng Châu, ở mấy ông nhà giàu chăn trâu. Thường làm bài Ngọa Long Cương. Ý là [50b] muốn ví mấy ông Gia Cát. Ông nhà giàu thấy thế, nói mấy quan Khám lý Trần Đức Hòa. Ông Đức Hòa mấy đem dâng đến ngài, rồi ngài cho làm chức Nội tán, giúp đỡ trong tám năm trời, công nghiệp kể thực là nhiều. Từ đó, Nam Bắc mấy chia làm hai. Ông ý kể trong đời thời là nhất đẳng công thần vậy.
Tán rằng:
Phi long gặp hội Ngọa Long tài
Nhớ đến vua hiền phải nhớ tôi
Sơn thủy mới hay đàn có bạn
Phong trần dám rẻ hát không loài (Tục ngữ nói rằng: Ca xướng vô loài)
Lũy Thầy ngăn chống chia hai đất
Ngôi chúa nghênh ngang đứng cõi trời
Cuộc thế hơn thua người nặng nhẹ
Khen ai mà lại tiếc cho ai.
Hoàn
Nhất thiên cửu bách thất nhị niên tứ nguyệt sao hoàn (4/1972)
Đóng dấu: Trần Thúc Ngọc, ký ghi rõ họ tên: Trần Giáp[51a]






[1] Nguyễn Kim (阮淦; 1468-1545) một danh tướng của nhà Hậu Lê. Khi nhà Hậu Lê bị nhà Mạc cướp ngôi, năm 1527, con cháu nhà Lê chạy trốn sang Lào. Lúc bấy giờ, hầu hết các cựu thần nhà Lê ngả về họ Mạc hoặc bỏ đi nơi khác, chỉ có Nguyễn Kim là lo chiêu tập hào kiệt bốn phương lánh lên Sầm Châu (vùng biên giới Thanh Hoá) lập bản doanh phù Lê diệt Mạc. Ông tìm được con vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh ở Ai Lao đưa về tôn lên ngôi là vua Lê Trang Tông (1533-1548). Ông giúp vua Lê tiến binh về nước, từng bước đánh chiếm các huyện ở Thanh Hóa, xây dựng hành điện ở xã Vạn Lại, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Nguyễn Kim được vua Lê phong làm Thái sư, Hưng Quốc công, nắm giữ binh quyền. Năm 1545, Nguyễn Kim bị một hàng tướng họ Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết. Dương Chấp Nhất mời ông ăn dưa có độc rồi bỏ trốn. Khi đó ông 77 tuổi. Vua Lê Trang Tông truy tặng cho ông tước Chiêu Huân Tĩnh Vương. Ông có hai con trai đều là tướng giỏi được phong chức Quận công: Nguyễn Uông (cũng bị Trịnh Kiểm đầu độc) và Nguyễn Hoàng. Người con gái lớn nhất của ông là Nguyễn Thị Ngọc Bảo lấy Trịnh Kiểm; Nguyễn Kim sau được nhà Nguyễn truy tôn miếu hiệu  Triệu Tổ, thụy hiệu là Di Mưu Thùy Dụ Khâm Cung Huệ Triết Hiển Hựu Hoành Hưu Tế Thế Khải Vận Nhân Thánh Tĩnh hoàng đế.
[2] Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558, có 10 con trai và 2 con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Sau được truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.
[3] Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi hay Chúa Bụt (1563-1635), con trai thứ sáu của Chúa Tiên, kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ tại Đàng Ngoài, có 11 con trai và 4 con gái. Chúa Sãi là người đầu tiên trong dòng họ mang họ Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mẹ ngài có thai chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc". Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc". Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Sau được truy tôn ông là Hi Tông Hiếu Văn hoàng đế.
[4] Nguyễn Phúc Lan tức Chúa Thượng (1601-1648), con trai thứ hai của Chúa Sãi, kế nghiệp năm 1635 vì anh trưởng chết sớm, có 3 con trai và 1 con gái. Sau này được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu hoàng đế
[5] Nguyễn Phúc Tần tức Chúa Hiền (1620-1687), con trai thứ hai của Chúa Thượng, kế nghiệp năm 1648 vì cả anh lẫn em đều chết sớm, có 6 con trai và 3 con gái. Sau được truy tôn là Thái Tông Hiếu Triết hoàng đế
[6] Nguyễn Phúc Thái tức Chúa Nghĩa (1650-1691), con trai thứ hai của Chúa Hiền, kế nghiệp năm 1687 vì anh trưởng chết sớm, có 5 con trai và 5 con gái. (Nhiều sách chép là Nguyễn Phúc Trăn) Chúa Nghĩa là người dời đô đến Huế. Nhà Nguyễn sau truy tôn là Anh Tông Hiếu Nghĩa hoàng đế.
[7] Nguyễn Phúc Chu tức Chúa Minh (còn gọi là Quốc Chúa) (1675-1725), con trai trưởng của Chúa Nghĩa, kế nghiệp năm 1691, có 38 con trai và 4 con gái. Chúa Minh là người đầu tiên sai sứ sang nhà Thanh để xin phong vương nhưng không được nhận vì nhà Thanh vẫn xem vua Lê của Đàng Ngoài là vua của toàn xứ Việt lúc đó. Sau nhà Nguyễn truy tôn ông là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế
[8] Nguyễn Phúc Chú tức Chúa Ninh (1697-1738), con trai trưởng của Chúa Minh, kế nghiệp năm 1725, có 3 con trai và 6 con gái. Sau này được truy tôn là Túc Tông Hiếu Ninh hoàng đế.
[9] Nguyễn Phúc Khoát tức Vũ Vương (còn gọi là Chúa Vũ) (1714-1765), con trai trưởng của Chúa Ninh, kế nghiệp năm 1738, có 18 con trai và 12 con gái. Lúc này Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã xưng vương nên Nguyễn Phúc Khoát cũng xưng mình là Vũ Vương vào năm 1744 và xem Đàng Trong như một nước độc lập. Sau được nhà Nguyễn truy tôn là Thế tông Hiếu Vũ hoàng đế.
[10] Nguyễn Phúc Thuần tức Định Vương (còn gọi là Chúa Định) (1754-1777), con trai thứ 16 của Vũ Vương, kế nghiệp năm 1765, không có con. Khi còn sống, Vũ Vương đã có ý định cho con trai thứ chín là Nguyễn Phúc Hiệu nối ngôi. Sau vì Nguyễn Phúc Hiệu chết sớm, và con ông hãy còn quá nhỏ, Vũ Vương định cho con trai thứ hai của mình là Nguyễn Phúc Luân (là cha của vua Gia Long sau này) nối ngôi. Khi Vũ Vương chết, một vị quan lớn trong triều là Trương Phúc Loan giết Nguyễn Phúc Luân và lập Nguyễn Phúc Thuần để dễ kiềm chế lúc đó mới 12 tuổi, lên ngôi. Năm 1777, ông bị quân Tây Sơn giết khi ở tuổi 26, chưa có con nối dõi. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Duệ Tông Hiếu Định hoàng đế.
[11] Vua Gia Long (1762-1820), là con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Luân, lên ngôi năm 1802, có 13 con trai và 18 con gái. Vua Gia Long cũng là người đặt tên nước là Việt Nam. Miếu hiệu là Thế tổ Cao hoàng đế
[12] Vua Minh Mạng (1791-1841), là con trai thứ tư của vua Gia Long, lên ngôi năm1820 (ngày 1 tháng giêng âm lịch) vì người anh cả là hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh lúc đó đã chết (các anh thứ hai và thứ ba chết lúc còn nhỏ), có 78 con trai và 64 con gái. Vua Minh Mạng cũng là người đặt tên nước là Đại Nam. Miếu hiệu là Thánh tổ Nhân hoàng đế.
[13] Vua Thiệu Trị (1807-1847), là con trai lớn của vua Minh Mạng, lên ngôi năm 1841 (ngày 1 tháng giêng âm lịch), có 29 con trai và 35 con gái. Miếu hiệu là Hiến tổ Chương hoàng đế.
[14] Vua Tự Đức (1829-1883), là con trai thứ hai của vua Thiệu Trị, lên ngôi năm 1847, vì không có con nên nuôi 3 người cháu. Cả ba sau đều lên làm vua: Dục Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc. Miếu hiệu là Dực tông Anh hoàng đế. Vì kiêng húy vua cha Thiệu Trị tên là Tông, nên hay đọc là Dực Tôn. Trong nguyên bản có chỗ chép là Tông có chỗ chép là Tôn.
[15] Vua Hiệp Hòa (1847-1883), là con trai thứ 29 của vua Thiệu Trị (tức là em của vua Tự Đức), lên ngôi ngày 30 tháng 7 năm 1883 nhưng 4 tháng sau bị Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết giết chết, không có con. Không có miếu hiệu
[16] Vua Kiến Phúc (1869-1884), là con trai thứ ba (con nuôi) của vua Tự Đức, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883 nhưng 8 tháng sau thì bị bệnh rồi chết, mọi việc đều được lo bởi Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, không có con. Miếu hiệu là Giản tông Nghị hoàng đế
[17] Vua Hàm Nghi (1872-1943), là cháu gọi vua Tự Đức là chú, em ruột vua Đồng Khánh, lên ngôi năm 1884 nhưng bị Pháp truất phế 1 năm sau đó vì mưu lược chống họ, có 1 con trai và 2 con gái. Sau khi bị truất phế vua Hàm Nghi tiếp tục việc chống Pháp nhưng bị bắt vào năm 1888 và bị Pháp đày sang Algérie. Không có miếu hiệu
[18] Vua Đồng Khánh (1864-1889), là con trai thứ hai (con nuôi) của vua Tự Đức, lên ngôi năm 1885 nhưng sau 3 năm thì bị bệnh rồi chết, có 6 con trai và 3 con gái. Miếu hiệu là Cảnh tông Thuần hoàng đế.
[19] Vua Thành Thái (1879-1955), là con trai thứ bảy của vua Dục Đức (người làm vua chỉ trong 3 ngày), lên ngôi năm 1889 nhưng bị Pháp truất phế vào năm 1907 vì chống lại họ, có 16 con trai và nhiều con gái. Vào năm 1916 vua Thành Thái (cùng con là vua Duy Tân) bị Pháp đày sang đảo Réunion, nhưng được đón trở lại Việt Nam vào năm 1947. Không có miếu hiệu.
[20] Cung Huệ 恭惠: tức Dục Đức, con nuôi lớn của Tự Đức, mới lên ngôi được 3 hôm thì bị phế, chưa kịp đặt định gì.
[21] Sử sách chép là Dương Chấp Nhất.
[22] Tống – Chu: Hai triều đại nổi tiếng thịnh vượng văn trị lễ nhạc, sau bị ngoại bang xâm lấn, quyền thần tiếm ngôi, nhân dân ta oán. Thơ văn cổ thường lấy hình tượng câu thơ “nhớ Tống, mong Chu” để tỏ ý hoài quốc, yêu nước.
[23] Sinh Thương: Lấy nghĩa câu trong 《诗经·商颂·玄鸟》曰:天命玄鸟,降而生商。 Kinh Thi/ Thương tụng/ bài Huyền Điểu: Thiên mệnh huyền điểu; Giáng nhi sinh thương/ Trời sai chim huyền điểu; Sinh ra nhà Thương. Ý cả cụm muốn tỏ là điềm sinh dòng thánh chúa, dựng nghiệp mở mang đất nước như dòng nhà Thương, do chim Huyền điểu sinh ra.
[24] Nghĩa Xuân Thu春秋大義: Tức nghĩa lớn của Kinh Xuân Thu, có ý tôn phù chính thống, tôn phù nhà Chu. Ở đây mượn sánh với việc Nguyễn Kim tôn phù nhà Lê.
[25] Thai, Phần: tức đất Thai và đất Phần, là nơi đất phát nguyên của nhà Chu. Ý nói đất khởi thủy của nghiệp đế vương.
[26] Ân: tên khác của nhà Thương.
[27] Đào Duy Từ (陶維慈, 1572-1634) là nhà quân sự  văn hóa, danh thần thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, ông chỉ làm quan với Chúa Nguyễn có tám năm. Nhưng trong tám năm đó, ông đã xây dựng cho họ Nguyễn một cơ sở xã hội vững chắc, và một quân đội hùng mạnh. Vì vậy ông được coi là đệ nhất khai quốc công thần của họ Nguyễn và được thờ ở nhà Thái miếu.
[28] Nguyễn Hữu Tiến (阮有進, 1602-1666), là một danh tướng của chúa Nguyễn  Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
[29] Nguyễn Hữu Dật (阮有鎰,16031681) là đại công thần của chúa Nguyễn tại Đàng Trong thờiTrịnh Nguyễn phân tranh. Ông là người có công phó tá nhiều đời chúa Nguyễn, đánh lui nhiều cuộc nam tiến của chúa Trịnh, giữ vững lãnh thổ Đàng Trong, được phong chức Chiêu Vũ hầu.
[30] Chu Văn周文: Ý chỉ chúa Hiếu Văn sánh mấy vua Văn vương nhà Chu, người gây dựng cơ sở để hình thành Vương triều Chu.
[31] Hiến phù: Là lễ dâng nộp tù binh ở nhà Thái miếu để báo công lao.
[32] Chà Bà: tên gọi khác của nước Indonesia
[33] Báo Chi: tên hiệu khác Nguyễn Thượng Hiền (阮尚賢; 1868-1925) tên tự: Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, tên hiệu: Mai Sơn còn được gọi là Ông nghè Liên Bạt. Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết, cha ông là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Phiên. Nguyễn Thượng Hiền kết giao với các nhân sĩ trí thức yêu nước như Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, ... tích cực hoạt động Đông Du đưa thanh niên sang Nhật học tập, thành lập Việt Nam Quang phục hội. Sau khi Việt Nam Quang phục hội thất bại, Nguyễn Thượng Hiền xuống tóc vào tu ở một ngôi chùa ở Hàng Châu, Chiết Giang và mất tại đây.
[34] Nghiêu – Thuấn: là hai vị vua sáng thời cổ đại của Trung Quốc, trao truyền ngôi vị cho nhau, tỏ ý truyền chính thống
[35] Hoa hóa Di: Quan niệm Hoa là văn minh, Di là man di. Ý nói lấy cái văn minh để khai sáng cho man di.
[36] Trương Phúc Loan (張福巒; ? - 1776) là một quyền thần cuối thời các Chúa Nguyễn  Đàng trong. Trong hơn mười năm cầm quyền bính, Trương Phúc Loan đã lạm dụng quyền hành vì quyền lợi cá nhân, khuynh đảo chính sự ở Đàng Trong, là nguyên nhân chính khiến chính quyền các Chúa Nguyễn sụp đổ.
[37] Hoàng Ngũ Phúc  (黃五福, 17131776) Người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng. Là danh tướng thời Lê Mạt, xuất thân là hoạn quan, nổi tiếng là người có nhiều mưu kế. Trước ông giữ chức Tả thiếu giám, sung giữ chức Nội sai trong Hình phiên. Ông có công lớn trong việc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài và là tổng chỉ huy cuộc nam tiến đánh Đàng Trong, mở mang đất đai Bắc Hà tới Quảng Nam.
[38] Ngưu Chử牛渚: Tức Bến Nghé
[39] Lang Sa郎沙: tức nước Pháp
[40] Giám mục Bá Đa Lộc 百多祿còn gọi là Cha Cả, nguyên tên là Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine , thường viết là Pigneau de Behaine (2 tháng 2 năm 1741- 9 tháng 10năm 1799), là một vị giáo sĩ người Pháp được Nguyễn VươngNguyễn Phúc Ánh trọng dụng trong việc lấy lại đất nước từ tay nhà Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18.
[41] Nguyễn Phúc Cảnh阮福景, con cả của Nguyễn Ánh, sinh ngày 6 tháng 4 năm Canh Tý 1780 tại Gia Định. Mùa hạ năm Quý Mão (1783), Nguyễn Ánh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, cho Hoàng tử Cảnh (khi đó mới 3 tuổi) theo làm con tin.
[42] Võ Tính武性sinh tại huyện Phước An, tỉnh Biên Hoà. Là người chống Tây Sơn ngay từ những ngày đầu. Về sau theo Nguyễn Ánh và lập được nhiều công lớn. Đóng vai trò quan trọng trong cuộc tử thủ thành Quy Nhơn, giúp cầm chân hai tướng nhà Tây Sơn là Trần Quang Diệu  Võ Văn Dũng để Nguyễn Ánh mang đại quân ra bắc chiếm Phú Xuân năm 1802; Ngô Tòng Chu 吳從周(? - 1801) là công thần thời chúa Nguyễn Phúc Ánh. Cùng với Võ Tính, ông đã ra sức cố thủ thành Quy Nhơn trong nhiều tháng dài, cầm chân được đội quân hùng mạnh của đối phương, tạo cơ hội cho chúa Nguyễn đánh chiếm được kinh đô Phú Xuân của nhà Tây Sơn
[43] Trần Quang Diệu (陳光耀; 17461802) là một võ tướng tài ba trong Tây Sơn thất hổ của nhà Tây Sơn.
[44] Nguyễn Quang Toản (阮光纘, 1783 1802) hay Cảnh Thịnh hoàng đế (景盛皇帝), là con trai thứ của vua Quang Trung. Lên ngôi tháng 8 năm 1792, sau khi Quang Trung mất, năm sau đổi niên hiệu thành Cảnh Thịnh. Tháng 8 năm 1801 ông đổi niên hiệu thành Bảo Hưng. Nguyễn Quang Toản là Hoàng đế thứ hai và cũng là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Tây Sơn.
[45] Nguyễn Văn Thành (阮文成; 1758  1817) là một trong những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn và là một trong những người có công lớn nhất trong việc đưa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, trở thành vị vua đầu tiên của triều Nguyễn (1802-1945); Lê Văn Duyệt (黎文悅,1764-1832) là một công thần trụ cột của nhà Nguyễn. Ông đã theo tòng chúa Nguyễn Phúc Ánh từ năm 17 tuổi, cùng với chúa Nguyễn Phúc Ánh và các tướng lĩnh khác lấy thành Bình Định, chiếm thành Phú Xuân, thâu đất Bắc Hà về cho nhà Nguyễn, giữ chức Tổng trấn Gia Định Thành.
[46] Y Pha Nho衣坡儒Tên gọi khác của Tây Ban Nha
[47] Cần Khẩu: Cửa biển thuộc huyện Cần Giờ, phía Đông Nam thành Gia Định
[48] Côn Luân: tức Côn Đảo
[49] Theo một số sách ghi chép, thì Nguyễn Huệ cho người xâm phạm lăng tẩm nhà Nguyễn ở Thanh Hóa. Tối về mơ thấy có vị thần áo trắng cầm gậy đánh vào đầu. Thức dậy đầu đau như búa bổ. Từ đấy bị chứng đau đầu một bên, không lâu sau thì mất.
[50] Truyện Tả: tức Tả truyện左傳, sử của nước Lỗ.
[51] Vạc Chu: tương truyền nhà Chu kế nhà Thương thu được các bảo khí truyền quốc là chín cái đỉnh lớn. Về sau gọi đó là Trấn quốc chi bảo. Đến đời nhà Tần thống nhất thiên hạ, người ta gọi đó là “Vạc Chu về Tần” là như thế.
[52] Tư Lưu: tức là nhớ Lưu, nhớ về nhà Hán vậy. Đây tỏ ý nhớ vua cũ.
[53] Con côi sáu tháng là chỉ chuyện ông Hoàng Tử Cảnh theo thầy Giám mục Bá Đa Lộc sang Tây cầu viện.
[54] Cao Quang高光: tức Hán Cao tổ và Hán Quang Vũ là hai vua đời Tây Hán và Đông Hán có tài dẹp loạn yên đời, thống nhất đất nước.
[55] Nguyên văn là Giáp Thân, chắc chép nhầm của Canh Thân
[56] Vũ Xuân Cẩn 武春瑾(1772 - 1852), là một đại thần của nhà Nguyễn, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử quán. Trong quãng đời làm quan của ông, có hai việc làm nổi bật, đó là: Xin phép thực hiện việc quân điền tại Bình Định; dâng sớ xin gia ơn cho con cháu thái tử Nguyễn Phúc Cảnh và xin bổ dùng con cháuNguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Lê Chất.
[57] Trương Tuần張巡, Hứa Viễn許遠 là hai tướng nhà Đường thời loạn An Lộc Sơn, không theo giặc, không đầu hàng, chống giặc kiên cường cho đến lúc bị bắt, bị giết. Được sử sách Trung Quốc khen ngợi là gương trung nghĩa tiết liệt.
[58] Xem việc Nga La: Tức là Nga La Tư俄羅斯, tên phiên âm theo chữ Hán gọi nước Nga. Trong thời kỳ các nước Đế quốc bành trướng tìm kiếm Thuộc địa mới, xảy ra các cuộc đụng độ giữa các nước Đế quốc với nhau, trong đó có cuộc chiến tranh Nga – Nhật mà phần chiến thắng về phía Nhật Bản, dường như được xem là giành lại danh dự cho nòi giống da vàng, cho các quốc gia bị xâm lược ở Châu Á. Ý tác giả muốn nhắc đến chuyện này chăng?.
[59] Tam hùng: tức Gia Định Tam Hùng, gồm có: Đỗ Thanh Nhân, Châu Văn Tiếp, Vũ Tính.
[60] Kỷ Tín紀信, người đời Hán chịu chết thay cho Hán Cao tổ thoát vòng vây Hạng Vũ; Lê Lai黎來, tướng của nghĩa quân Lam Sơn, chịu thay áo bào lên voi ra trận chết thay cho Lê Lợi, để Lê Lợi đem quân chủ lực thoát khỏi vòng vây, bảo toàn lực lượng, xây dựng cho kháng chiến lâu dài. Về sau hai tấm gương này được nhắc đến biểu tượng cho lòng trung thành, hy sinh vì nghĩa lớn.
[61] Đỗ Thanh Nhân  (? - 1781) là một danh tướng  dưới thời Nguyễn Ánh. Cùng với Võ Tánh, Châu Văn Tiếp, ông được người đương thời xưng tụng là "Gia Ðịnh tam hùng".
[62] Sài Côn: tức là Sài Gòn - Gia Định vậy
[63] Thù Ế銖繄: Theo một số ghi chép thì là tên địa danh, nơi có mộ tổ của nhà Tây Sơn. Tương truyền, mộ nhà Tây Sơn táng vào đây, đến đêm bị sét đánh bật cả lên.
[64] Bất tốn不遜: từ Hán Việt, nghĩa là không khiêm tốn, trái lễ.
[65] Tích xưa kể lại rằng: Đào Hoằng Cảnh陶宏景, người Trung Quốc đời Lương Vũ Đế (502 - 549) tài cao học rộng, không ra làm quan mà ở ẩn trong núi, mỗi khi nhà vua có việc gì khó khăn, phải sai người vào núi hỏi ý kiến. Vì thế người đương thời gọi là Sơn trung Tể tướng (quan Tể tướng trong núi). Sau gọi điển đó như  là người tài giúp nước.
[66] Hoàng Công Lý 黃公理 (? - 1821) là võ quan cao cấp của nhà Nguyễn trong, có con gái được tuyển vào cung, được vua Minh Mạng phong làm Huệ Phi. Năm 1819, ông được cử làm Phó tổng trấn Gia Định thành, có công trong việc dẹp loạn Sư Kế ở Chân Lạp. Về sau, vì phạm tội tham nhũng mà bị xử chết
[67] Lê Văn Khôi 黎文  (?–1834) tên thật là Bế-Nguyễn Nghê, còn được gọi là Hai Khôi, Nguyễn Hựu Khôi hay Bế Khôi, người gốc Cao Bằng là con nuôi của Lê Văn Duyệt và là người thủ lĩnh cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn  thành Phiên An (tức vùng Gia Định cũ).
[68]Ẩn cung: ý nói thân thể người đàn ông bị khiếm khuyết, không có khả năng làm chồng, làm cha, như là Hoạn quan, Thái giám vậy
[69] Lê Văn Chất黎文質, có sách chỉ chép là Lê Chất, hay Lê Công Chất. Vì cha vợ là Trấn thủ Quy Nhơn bị bè phái của vua Cảnh Thịnh giết chết, nên quyết chí đầu hàng Nguyễn Ánh. Là người giỏi đánh trận lập được nhiều công lớn. Sau khi thống nhất, giữ nhiều chức vụ quan trọng, làm đến Tổng trấn Bắc thành.
[70] Nguyên văn chép nhầm là Nguyễn
[71] Thoại Ngọc Hầu (瑞玉侯), tên thật là hay Nguyễn Văn Thụy (阮文瑞), (1761 - 1829) là một danh tướng nhà Nguyễn, theo chúa Nguyễn lập nhiều công, trong đó có công lớn trong việc khai khẩn mở mang về phía các tỉnh An Giang, Châu Đốc. Trong cuộc đời làm quan, ông 7 lần sang Xiêm La, 2 lượt sang Lào và 11 năm giữ trọng trách bảo hộ Cao Miên.
[72] Hồng Mao紅毛: tức là nước Anh Cát Lợi英吉利, cũng có khi gọi các nước phương Tây nói chung là Hồng Mao.
[73] Hồi Lương là những tội phạm cũ, nay được tha, được đưa vào quân đội để chuộc tội; Bắc Thuận là những người trốn tránh lao dịch, bỏ làng xã, không có tên trong sổ bạ ở Bắc Thành được tuyển mộ vào quân ngũ, tức là khác với những binh lính quân dịch thông thường.
[74] Quyền Yêm: Nguyên văn chữ Yêm là chỉ Hoạn quan.
[75] Nguyên văn chép là Quý Mùi
[76] Theo Trần Trọng Kim. Việt Nam sử lược: Bấy giờ những người Pháp tên là Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng), tc là chúa tàu Long, Vannnier, (Nguyễn Văn Chấn), tức là chúa tàu Phụng, De Forcant (Lê Văn Lăng), Victor Ollivier (ông Tín), Dayot v.v... cả thảy đến non 20 người theo ông Bá Đa Lộc sang giúp Nguyễn Vương; vương phong quan tước cho cả mọi người để luyện tập quân sĩ, làm tàu, đúc súng, và chỉnh đốn mọi việc vũ bị. (tr.163)
[77] Trịnh Hoài Đức (鄭懷德; 1765-1825), Người gốc Hoa, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Là một công thần của triều Nguyễn, đã giúp cho vua Gia Long  về các phương diện ngoại giao, chính trị  kinh tế. Và là một nhà thơ, nhà văn và là một sử gia nổi tiếng. Tác giả của Gia Định thành thông chí một trong những sử liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu sử học  địa lý của miền Nam; Trương Đăng Quế (張登桂, 1793-1865) là Đại thần nhà Nguyễn, phụng sự trong bốn triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị Tự Đức, từng là thầy học của vua Thiệu Trị, là Phụ chính cho vua Tự Đức; Hà Tông Quyền, (何宗權, 1798 -1839), sau phải đổi là Hà Quyền do kỵ húy với vua Thiệu Trị, các tên hiệu là Hải Ông, Liễu Đường, Phương Trạch, Mộng Dương, tên tự Tốn Phủ, người làng Cát Động huyện Thanh Oai phủ Ứng Hòa. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm 1822 thời Minh Mạng, làm quan đến chức tham tri bộ Lại sung đại thần Viện cơ mật, được vua Minh Mạng tin cậy, nhưng cũng bị thăng giáng thất thường, từng bị biệt phái sang Indonesia; Hà Duy Phiên (何維藩; ? - 1853), danh thần đời Minh Mạng, người huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá. Năm Kỷ Tỵ (1809), ông đỗ Hương cống sau đó thăng dần đến chức Tham tri bộ Lại. Năm Bính Thân (1836), Quách Tất Công dấy binh khởi nghĩa ở Ninh Bình, ông lại sung chức Tham tán đi ngăn chống, rồi thăng Thượng thư bộ Công. Đời Thiệu Trị, ông làm Hiệp biện đại học sĩ, đổi lãnh bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần kiêm Tổng Tài Quốc sử quán. Tham gia soạn bộ Đại Nam hội điển. Mất năm Quý Sửu (1853), phong Thiếu bảo, Văn minh điện đại học sĩ, được thờ tại đền Hiền Lương.
[78] Trương Minh Giảng 張明講(?-1841) là một danh thần nhà Nguyễn. Ông được đánh giá là một người "văn võ song toàn", là công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, vừa là một võ tướng vừa là một sử gia, từng giữ chức Tổng tài Quốc sử giám. Có công rất lớn trong việc dẹp loạn Lê Khôi và thiết lập bảo hộ của nước ta đối với Cao Miên, được khắc tên trên bia Võ Miếu ở Kinh thành.
[79] Trương – Hà: Trương Đăng Quế và Hà Tông Quyền.
[80] Thù Tứ洙泗: Là tên hai dòng sông chảy qua nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử, sau để dùng chỉ mạch nhà Nho; Đường Ngu唐麌: tức nói tắt của hai triều đại cổ xưa của Trung Quốc là Đào Đường thời vua Nghiêu, Hữu Ngu thời vua Thuấn. Ý nói sự thịnh vượng văn minh, thái bình của Nho học.
[81] Nhị Lê công: tức chỉ Lê Văn Duyệt và Lê Chất
[82] Bảo hộ: là bảo hộ cho nước khác. Ở đây là muốn nói sự Bảo hộ của ta với Cao Miên.
[83] Sảnh ư sự  省事: từ Hán Việt, nghĩa là bớt việc, giảm bớt công việc.
[84] Quần lê群黎: từ Hán Việt, tức chỉ nhân dân; Nghiêu: tên vị vua thời cổ đại của Trung Quốc. Thời ấy dân chúng hưởng thái bình.
[85] Chín bệ: dịch Nôm từ Cửu bệ九陛, chỉ ngôi vua; Thuấn: tên vị vua thời cổ đại của Trung Quốc, kế nối vua Nghiêu.
[86] Lê Văn Đức 黎文德(1793-1842) là người ở huyện An Bảo nay thuộc tỉnh Bến Tre. Năm Gia Long 12 (1813), Lê Văn Đức thi đỗ cử nhân khoa Quý Dậu, được bổ làm tri huyện ở Tri Viễn. Ông là danh tướng trải hai triều vua Minh Mạng  Thiệu Trị. Có tham gia đánh dẹp Nông Văn Vân, trấn áp nổi dậy của Chân Lạp. Có quân công lớn được khắc tên trên bia Võ Miếu.
[87] Chuyên Mông颛蒙: từ Hán cổ, ý nói ngu muội, hoang dại. Đây muốn nói dân Cao Miên chưa được sự giáo hóa văn minh, nhưng lòng trời vẫn có ý nghiêng về, nên để cho cuộc Bảo hộ của ta bị trở ngại.
[88] Tu Đoan: tên phiên âm của Đà Nẵng tiếng Pháp là Tourane. 
[89] Nguyễn Tri Phương 阮知方(1800-1873) là một đại danh thần Việt Nam thời nhà Nguyễn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873)
[90] Lê Duy Phụng 黎維奉(? - 1865), còn có các tên là  Bảo Phụng[, Tạ Văn Phụng , Lê Duy Minh. sinh tại huyện Thọ Xương, thuộc Hà Nội, trong một gia đình theo Thiên Chúa giáo. Trước đây, ông được một giáo sĩ đưa đi nuôi dạy ở nước ngoài, sau lại theo đoàn quân viễn chinh Pháp về đánh Quảng Nam. Đến tháng chạp năm Quý Dậu (1861) thì ông ra Bắc Kỳ tự xưng mình là Lê Duy Minh, thuộc dòng dõi nhà Lê (mạo nhận là hậu duệ vua Lê Trang Tông) để làm cuộc gây rối lật đổ nhà Nguyễn (sử cũ thường gọi là "giặc biển") ở Bắc Kỳ (Việt Nam). Cuộc khởi nghĩa từ cuối năm 1861 đến cuối năm 1865 thì kết thúc
[91] Phan Thanh Giản (潘清簡; 11 tháng 11 năm 1796-4 tháng 8 năm 1867) tự là Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Ước Phu, Lương Khê; là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn.
[92] Trương Định (張定; 1820 - 1864) hay Trương Công Định, là một lãnh tụ nghĩa quân chống Pháp giai đoạn 1859-1864, thời vua Tự Đức.
[93] Theo Sử ghi thì là do anh em Đoàn Văn Trưng, Đoàn Văn Trực. Nguyên văn chép là Hà Văn Trưng.; Đoàn Văn Trưng còn có tên Đoàn Hữu Trưng (1844 - 1866) hay Đoàn Trưng, tên trong gia phả là Đoàn Thái, tự Tử Hòa, hiệu Trước Lâm, thủ lĩnh cuộc nổi dậy ngày 16 tháng 9 năm 1866 tại kinh thành Huế, nhằm lật đổ vua Tự Đức, đưa con trai Hồng Bảo là Đinh Đạo lên thay. Người ta quen gọi là Loạn Giặc chày vôi.
[94] Hồ Uy 胡威, còn gọi là Hồ Oai: Chức Chưởng vệ Long Võ quân, thời Tự Đức, có công bảo vệ vua, đánh dẹp loạn Đoàn Trưng. Trong đợt ấy, quân Đoàn Trưng đã chiếm được Điện Cần Chánh, đang tìm đường sang điện Càn Thành để bắt vua Tự Đức thì Hồ Uy xuất hiện, chạy sang đóng chặt cửa điện. Đoàn Hữu Trưng đuổi theo sát, chém sượt qua tai mà Hồ Uy vẫn gắng giữ chặt cửa. Quân nổi dậy không vào được điện Càn Thành nên tập trung ở điện Thái Hòa. Khi ấy Hồ Uy kịp triệu tập quân đến đánh. Đang lúc giao tranh, thì Đoàn Trưng bị chứng đau bụng phát tác, kiệt sức, bị bắt. Quân nổi dậy tan vỡ.
[95] Ngô Côn 吳棍: Dư đảng Thái Bình Thiên quốc của Hồng Tú Toàn bị quân nhà Thanh đánh tan dạt về các vùng biên giới phía bắc nước ta. Lúc đầu xin hàng phục, sau lại đánh phá các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh. Trong trận đánh thành Bắc Ninh giao tranh với quân của Ông Ích Khiêm, Ngô Côn bị giết. Dư đảng là bọn Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh, Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Trắng Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi vẫn còn tiếp tục quấy phá các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
[96] Lưu Vĩnh Phúc (劉永福) (18371917), tự Uyên Đình, người Khâm Châu, Quảng Đông (nay thuộc Quảng Tây), theo đảng Ngô Côn sang nước ta, sau đầu phục triều đình giúp dẹp quân Cờ Vàng, tham gia đánh Pháp các trận ở Cầu Giấy, Sơn Tây, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Sauk hi Hòa ước Pháp Thanh được Ký kết, Lưu phải về Trung Quốc, giải tán quân Cờ Đen, phái đi làm Tổng binh ở Đài Loan. Trước sự tấn công của quân Nhật, Lưu phải trốn về Trung Quốc, được giao chức Tứ thạch Tổng binh ở Quảng Đông. Sau Cách mạng Tân Hợi, giữ chức Tổng chưởng quân đoàn Quảng Đông, có tinh thần chủ chiến với quân Nhật, Lưu mất năm 1917. Trong cuộc đời, Lưu Vĩnh Phúc có quan hệ khá thân thiết với nhân vật võ thuật huyền thoại Hoàng Phi Hồng.
[97] Jean Dupuis(1829-1912): Thương gia, nhà thám hiểm người Pháp. Kinh doanh bán các vật tư chiến tranh với Trung Quốc ở Thượng Hải, từng tham gia nỗ lực cho thiết lập tuyến buôn đường sông ngược lên Vân Nam, gây ảnh hưởng của Pháp tại Bắc Kỳ không thành công, dẫn đến việc quân Pháp tấn công thành Hà Nội lần thứ nhất.
[98] François (Francis) Garnier ( 1835? - 1873) là sĩ quan Pháp tham gia chiến dịch đánh thành Hà Nội lần thứ nhất. Bị quân Cờ Đen giết chết ở Cầu Giấy. Sử Ta thường phiên âm tên Ngạc Nhi.
[99] Trần Đình Túc (1818-1899), quê làng Hà Trung  Gio Châu huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị, thi đỗ cử nhân năm 1842, là đại thần thời Tự Đức, từng giữ các chức Tổng đốc Hà Ninh, Hiệp biện Đại học sĩ. Là một trong những đại thần chủ chốt trong việc nghị hòa với người Pháp. Tháng 12 năm 1873, khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất, Trần Đình Túc cùng Nguyễn Trọng Hợp được cử ra Hà Nội nghị hòa với Garnier, nhưng chưa có kết quả thì Francis Garnier đã bị quân của Lưu Vĩnh Phúc giết chết ở Cầu Giấy; Nguyễn Trọng Hợp (1834 - 1902), hiệu là Kim Giang, tên thật là Nguyễn Tuyên, sau dùng tên tự là Trọng Hợp nên thường được gọi là Nguyễn Trọng Hợp, người xã Kim Lũ, huyện Thanh Trì, nay là phường Đại Kim quận Hoàng Mai Hà Nội, thi đỗ Cử nhân tại trường Hà Nội, khoa Mậu Ngọ  năm Tự Đức thứ 11 (1858) . Sau đó ông đỗ Tiến sĩ khóa Ất Mùi (1865), từ tri phủ đến chức kinh lược Bắc Kỳ (1886), Thượng thư bộ Lại (1887), Tổng tài Quốc sử quán, Đại thần Cơ Mật viện, Văn Minh Đại học sĩ, Phụ chánh vua Thành Thái (1889-1897). Nguyễn Trọng Hợp thuộc phe chủ  hòa với người Pháp.
[100] Nguyễn Văn Tường ( 阮文祥; 1824-1886), là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn. Sauk hi Kinh thành thất thủ, thương lượng với Pháp không thành. Ông cùng Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính bị đày đi Tahiti, mất năm 1886.
[101] Henri Laurent Rivière(1827- 1883): đại tá hải quân, chỉ huy đánh chiếm Hà Nội, Nam Định. Tháng 5 năm 1883, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã bao vây Hà Nội. Rivière đã hai lần tìm cách đánh ra vào ngày 16 và ngày 19, kết quả là bị quân Cờ Đen giết chết.
[102] Hoàng Diệu (1829 - 1882) tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai. Sinh ngày 10 tháng 2 năm Mậu Tý (1829), trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Là Tổng đốc Hà Nội, người đã quyết tử bảo vệ thành khi Pháp tấn công năm 1882.
[103] Nguyễn Hữu Độ (1813- 1888) Đại thần đời vua Đồng Khánh, tự Hi Bùi, hiệu Tông Khê, quê xã Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đỗ cử nhân 1837, đỗ tiến sĩ năm 1883. Làm quan từ Thượng thư đến Phụ Chính đại thần, Cơ mật viện đại thần… Năm 1880-1883 ông giữ chức Kinh lược Bắc Kì khi quân Pháp chiếm Hà Nội. Sau này ông là người giữ một vai trò quyết định cho việc Đồng Khánh lên ngôi (vì con gái ông là chánh phi của vua Đồng Khánh) nên được phong làm cố mệnh lương thần gia hàm Thái sư, Cần Chánh điện đại học sĩ kiêm Cơ mật đại thần. Nguyễn Hữu Độ là người có liên hệ mật thiết với Pháp, nên lời nói ông được Pháp nghe hơn cả.
[104] Chiến tranh Nga-Nhật (1904   1905) là cuộc chiến giữa Đế quốc Nga  Đế quốc Nhật Bản trong việc giành quyền kiểm soát Mãn Châu  Triều Tiên.
[105] Lữ Thuận: thành phố cảng trên bán đảo Liêu Đông, nằm phía nam Mãn Châu, nơi có hạm đội hùng mạnh của Nga nhằm kiểm soát đường biển và tiếp sức cho chiến tranh trên bộ của Nga ở Châu Á. Trong cuộc chiến Nga – Nhật, Nga đã mất cảng Lữ Thuận về tay Nhật Bản. Đặc biệt Tư lệnh phòng thủ bỏ cảng chạy không báo cáo với chỉ huy. Hải quân bị đánh tan tác, một số đầu hàng.
[106] Phạm Thận Duật (范慎遹, 1825–1885) là một đại thần triều Nguyễn. Ông là người cùng với Tôn Thất Phan thay mặt triều đình vua Tự Đức ký vào bản Hòa ước Giáp Thân 1884 (Hòa ước Patenotre). Ông cũng là một nhà sử học nổi tiếng, từng giữ chức vụ Phó tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc tử giám, là người duyệt cuối cùng bản Quốc sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục, từng là thầy dạy học cho hai hoàng thân là vua Dục Đức và Đồng Khánh sau này.
[107] Lý Hồng Chương (李鴻章), (1823-1901), là một đại thần triều đình nhà Thanh. Người tỉnh An Huy, xuất thân gia đình quan lại. Trong cuộc đời quan trường của mình ông đã tham gia trấn áp phong trào Thái Bình Thiên Quốc. Vì có công lao to lớn, ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Trực Lệ kiêm Bắc Dương thương vụ đại thần. Là người có thế lực lớn trong triều đình, thâu tóm cả ngoại giao, nội chính, quân sự. Thành lập hải quân Bắc Dương, xây dựng xưởng quân khí hiện đại. Là người thay mặt nhà Thanh trong cuộc tranh chấp Trung - Pháp về vấn đề Bắc Kỳ, kí các điều ước Thiên Tân 1885.
[108] Đường Cảnh Tùng, Từ Diên Húc: Hai quan lại cao cấp của nhà Thanh đem quân sang nước ta chiếm đóng các tỉnh trung du miền Bắc để giữ lợi thế với quân Pháp.
[109] Hoàng Kế Viêm tên thật là Hoàng Tá Viêm (1820-1909), tự Nhật Trường, hiệu Tùng An, là phò mã và là một danh tướng nhà Nguyễn, người làng Văn La, tổng Văn Đại, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông là con của Hoàng Kim Xán, Bố chánh tỉnhKhánh Hòa. Sau khi Hoàng Kế Viêm thi đỗ cử nhân vào năm 1843 thời vua Minh Mạng, ông được bổ Tư vụ, hàm Quang Lộc tự khanh. Kết duyên với con gái thứ năm của vua Minh Mạng là công chúa Hương La. Đời Thiệu Trị, năm 1846, ông làm Lang trung Bộ Lại. Đến thời Tự Đức (năm 1850), sung chức Án sát tỉnh Ninh Bình (1852). Năm 1854, ông thăng Bố chính Thanh Hóa, Bố chánh kiêm Tuần phủ Hưng Yên (1859), Tổng đốc An Tĩnh (1863). Suốt thời gian trên, ông có công trị an, mở mang kinh tế, thủy lợi... Có công trong việc chiêu hàng quân Cờ Đen, gây dựng sự kháng Pháp ở Bắc Kỳ.  Là người kiên quyết chủ chiến, kể cả sau khi Bắc Kỳ về tay Pháp, ông kiên quyết không hợp tác với phe chủ hòa.
[110] Phủ Hoài: thời bấy giờ Sơn Tây lệ vào Phủ Hoài Đức, Hà Nội, nên gọi Sơn Tây là phủ Hoài.
[111] Cung Huệ: tức Dục Đức, chưa làm vua được ngày nào, bị phế làm Cung Huệ.
[112] Trần Tiễn Thành (1813-1883), hiệu Tốn Trai, trước có tên là Dưỡng Độn, sau đổi là Thời Mẫn. Người làng Minh Hương, Gốc người Phúc Kiến (Trung Quốc), đến lập nghiệp tại Hương Trà từ nửa sau thế kỷ 17. Năm 1838, đời vua Minh Mạng, thi đỗ tiến sĩ.sau nữa được vua Tự Đức ban tên là Tiễn Thành. Ông là một đại thần triều Nguyễn. Trần Tiễn Thành, cùng Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết nhận di mệnh làm Phụ chính đại thần sau khi vua Tự Đức qua đời. Nhưng bất đồng chính kiến nên bị phe chủ chiến sát hại trước khi quân Pháp tấn công kinh thành Huế.
[113] Tôn Thất Thuyết (尊室説; 1839  1913) là Phụ chính đại thần của nhà Nguyễn. Ông là một trong những quan nhà Nguyễn chống Pháp tiêu biểu nhất, cùng vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Nguyên văn chỗ chép là Tông , chỗ chép là Tôn. Thực ra phải đọc là Tôn Thất, vì theo lệ kiêng húy từ thời Thiệu Trị, húy chữ Tông cải thành Tôn.
[114] Lê Thánh Tông (黎聖宗;  1442 –  1497), là vị Hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1460 đến 1497. Tên thật  Lê Tư Thành (黎思誠). Vua nổi tiếng là minh quân, đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông cũng được xem là một nhà văn hoá và một người coi trọng hiền tài. Trong lúc trị vì, Lê Thánh Tông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sự, hành chính, kinh tế, giáo dục  luật pháp. Ngoài ra, ông đã mở mang bờ cõi Đại Việt về phía Chiêm Thành, Ai Lao. Đặt hai niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Đức (1470 - 1497).
[115] Lê Thái Tổ (黎太祖), húy Lê Lợi (黎利), là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng quân Minh, trở thành vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hậu Lê, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm 1385 và mất năm 1433, ở ngôi gần 6 năm, thọ 49 tuổi.
[116] Ngô Thị Ngọc Dao (1421-1496?), là vợ thứ năm của vua Lê Thái Tông, là mẹ của Lê Thánh Tông, thuộc nhà Hậu Lê.
[117] Thái hậu Từ Dũ tên Phạm Thị Hằng (1810-1902), là vợ vua Thiệu Trị và là mẹ vua Tự Đức. Bà nổi tiếng là người đức hạnh, biết yêu quí dân và giỏi nuôi dạy con cái.
[118] Lê Nghi Dân (黎宜民; 1439  1460) là vua thứ tư nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1459 đến 1460. Lê Nghi Dân là con trưởng vua Lê Thái Tông, Lê Nghi Dân được lập làm thái tử (ngày 21 tháng 1 năm 1440). Mẹ Nghi Dân là Dương phi có ý tự mãn. Vua bèn giáng làm Minh nghi. Giáng cả Nghi Dân làm Lạng Sơn vương và lập con thứ là Bang Cơ do vợ khác sinh làm thái tử, sau là Lê Nhân Tông. Năm 1459, Lê Nghi Dân cùng viên chỉ huy sứ Lê Đắc Ninh làm nội ứng, cùng các thủ hạ tin cậy là Phạm Đồn, Phan Ban, Trần Lăng và hơn 100 quân ban đêm bắc thang chia làm ba đường vào cung cấm giết chết Lê Nhân Tông ở tẩm điện. Hôm sau, nhóm quân đó giết thái hậu Nguyễn Thị Anh. Sau các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Lê Nhân Quý, Trịnh Văn Sái, Nguyễn Đức Trung… cùng bàn nhau làm binh biến truất Nghi Dân làm Lệ Đức hầu và bị thắt cổ chết. Tôn Lê Thánh Tông lên ngôi.
[119] Lê Đắc Ninh: Xem chú 111.
[120] Đinh Bảo: tức Nguyễn Phúc Hồng Bảo (1825 - 1854) tên gọi tắt là Hồng Bảo, là con trưởng vua Thiệu Trị, nhưng không được truyền ngôi. Sau hai lần mưu sự (1851  1854) để giành lại ngôi vị không thành, ông bị giam và chết thảm trong ngục. Dòng dõi con cháu. Bị bắt đổi họ theo họ ngoại là họ Đinh, nên có chỗ chép ông là Đinh Bảo.
[121] Thiên Nam dư hạ lục: tức bộ Thiên Nam dư hạ tập (100 quyển), do Lê Thánh Tông và các quan Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận soạn tập. Phỏng theo sách Hội yếu của các đời Đường, Tống.
[122] Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, là hai văn thần nổi tiếng dưới thời Lê Thánh Tông, cùng vua dựng đặt nên hội thơ Tao đàn nhị thập bát tú.
[123] Ngự chế thi văn: tức bộ Ngự chế Việt sử tổng vịnh của vua Tự Đức vịnh hàng trăm nhân vật trong lịch sử Việt Nam.
[124] Tùng Thiện vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Tuy Lý vương Nguyễn Phúc Miên Trinh là con thứ 10 và thứ 11 của vua Minh Mạng. Đương thời vua Tự Đức suy tôn là thơ văn 2 người là trác tuyệt: Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường. Cùng với người em thứ 12 là Tương An quận vương Nguyễn Phúc Miên Bửu, thành lập Tùng Vân thi xã, người đời khen là Tam Đường.
[125] Nguyễn Trãi (阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 13801442, là đại thần nhà Hậu Lê, là nhân vật lịch sử vĩ đại về nhiều mặt. Có công lao sự nghiệp rất lớn lao. Đạo đức phong cách của ông rất cao đẹp. Là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc.
[126] Lê Xí, Lê Lăng: tức Nguyễn Xí, Lê Lăng, hai người có công lớn trong việt lật đổ Nghi Dân suy tôn Lê Thánh Tông lên ngôi. Nguyễn Xí được đổi sang Quốc tính, nên có chỗ chép là Lê Xí.
[127] Hy Cát, Quyết Trung: đều là võ tướng dưới thời Lê Thánh Tông.
[128] Võ Trọng Bình  (1808-1898) tự Sư Án, Ông sinh tại làng Mỹ Lộc, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, đỗ cử nhân năm Minh Mạng (1834) là một đại thần thời Nguyễn. Làm quan trải chín đời vua, nổi tiếng là người có tính cương trực, thanh liêm và biết quí trọng dân. Từng tham gia đánh giặc Tàu Ngô Côn, đánh Pháp giữ thành Nam Định.
[129] Tử cung 梓宮: từ Hán Việt, nghĩa là quan tài. Đây nói quan tài vua Tự Đức hãy còn trong điện.
[130] Kê tiên乩箋: lối giáng bút, kiểu lên đồng viết chữ mượn lời tiên thánh ban phương thuốc, hay tỏ ý giáo huấn, …
[131] Chữ Tiền trên và dưới đều viết lối tháu bằng hai nét phiết:
[132] Phạm Phú Thứ (范富恕; 18201883) là một đại thần dưới triều Tự Đức. Ông cùng với Nguyễn Trường Tộ là những người có quan điểm canh tân đất nước trong những năm cuối thế kỷ 19.
[133] Nguyễn Trường Tộ (阮長祚; 1828  1871) là một chí sĩ, danh sĩ, kiến trúc sư và là một tín đồ Công giáo yêu nước.
[134] Phổ Lỗ Sĩ: tức nước Phổ, cách gọi nước Đức ngày xưa.
[135] Tử Sản子产: Tể tướng nước Trịnh thời Xuân Thu, Tỳ Thầm裨谌: Đại phu nước Trịnh. 《论语》:宪问篇第十四/ 子曰:为命,裨谌草创之,世叔讨论之,行人子羽修饰之,东里子产润色之。Luận Ngữ/ Hiến vấn: Khổng tử noí: Ra chiếu mệnh thì có Tỳ Thầm, thảo luận có Thế Thúc, sai khiến có Tử Vũ, sửa sang có Tử Sản. Ý đây muốn nói các quan nước ta hủ mọn không thức thời, chỉ cỏn con việc chữ nghĩa nhỏ mà ra vẻ đạo mạo quân tử như hàng Tử Sản, Tỳ Thầm thôi.
[136] Nguyên văn chép chữ Hán là Dật quan溢關. Dật quan là một phép nghiệm trong xem mạch của Đông y, chắc không có liên quan gì mà do chắc là chép nhầm của Ải quan 隘關.
[137] Hàm Phong hoàng đế (1831 – 1861),  là vị Hoàng đế thứ  8 của nhà Thanh, trị vì từ năm 1851 – 1861 với niên hiệu là Hàm Phong.
[138] Lý Lương Tài cũng là giặc cướp vùng biên phía Bắc nước ta, hoành hành cả dải Lạng Sơn, Cao Bằng, quan quân đánh dẹp không hết, phải nhờ quân nhà Thanh sang đánh giúp.
[139] Đường Đình Canh: sứ thần nhà Thanh sang giao thiệp với ta thời vua Tự Đức, để thương giảng các việc liên quan đến Bắc Kỳ.
[140] Liễu Thăng (柳昇, ?-1427) là một danh tướng nhà Minh, tử trận tại Việt Nam trong trận Chi Lăng năm 1427.
[141] Hay còn gọi là trận Mã Yên sơn, quân ta chém đầu Liễu Thăng ở đây.
[142] Y Đằng: tức Y Đằng Bác Văn (Ito Hirobumi 伊藤 博文 )  (1841   1909), là một chính khách nổi tiếng của Nhật Bản thời kỳ Minh Trị. Từng đi học hỏi ở các cường quốc Anh, Mỹ, Châu Âu, quyết tâm xây dựng đường lối theo Phương Tây. Là Phó đoàn Sứ tiết Iwakura đi vòng quanh thế giới, để tìm hiểu, phục vụ cộng cuộc hiện đại hóa Nhật Bản sau một thời gian bị cô lập với phương Tây. Làm Toàn quyền Triều Tiên, trở thành Thủ tướng Nhật Bản đầu tiên và bốn lần được giữ chức vị này,  là một nguyên lão đại thần của Nhật Hoàng Minh Trị, đứng đầu Cơ mật viện. Là người xây dựng Hiến pháp, Chính phủ đầu tiên của Nhật Bản. Năm 1909, bị một thanh niên cách mạng Triều Tiên ám sát nhằm chống lại sự sáp nhập Triều Tiên vào Đế quốc Nhật Bản.
[143] Trấn Bình đài: tức là đồn Mang Cá.
[144] Cờ Tam tài tức là cờ Ba sọc của Pháp, ta hay gọi là cờ Tam tài, cờ Ba que.
[145] Phan Đình Bình (1934-1968) Danh sĩ, đại thần đời Tự Đức, tự Nhẫn Trai, hiệu Nguyệt Đình, quê làng Phú Lương, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là tỉnh Thừa Thiên, Huế). Năm Canh Tuất 1850, ông đỗ cử nhân, Bính Thìn đỗ tiến sĩ, lúc 25 tuổi. Năm Ất Dậu 1885, sau khi Hàm Nghi xuất bôn, ông làm Thượng thư, sung Đại thần Viện cơ mật, cùng Vĩnh Lại Quận Công Nguyễn Hữu Độ lo việc đàm phán với Pháp. Năm Đinh Hợi 1887, có người tố cáo ông chống đối triều đình, ông bị bắt giam rồi bị bức tử trong ngục  vào năm 1888, hưởng dương 57 tuổi. Cái chết của ông là do Nguyễn Hữu Độ và Đồng Khánh bức hại. Sau, vì ông là quốc thính (nhạc phụ vua Dục Đức), nên đời Thành Thái đã truy phục hàm tước cho ông như cũ. Đến năm 1892, lại truy tặng ông là Thái bảo, tước Phù Quốc Công, lập nhà thờ tại quê ông.
[146] Trương Quang Đản: tự Tử Minh, hiệu Cúc Viên, người Mỹ Khê, Bình Sơn, Quảng Ngãi. Là con Trương Đăng Quế. Đỗ Tú tài đời Tự Đức, làm quan chức Đông Các đại học sĩ, quản Quốc Tử Giám.