Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

BIA AM TUỆ MINHchùa Đại Khánh (chùa Vồm) làng Đại Khánh.Nay là xã Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

https://www.facebook.com/notes/178530525998488/BIA%20AM%20TU%E1%BB%86%20MINH/214941729024034/
Phiên âm và dịch nghĩa: Sa môn Thích Nguyên Đạt
Cẩn án: Cư sỹ Chân Thanh

Thác bản văn bia Tuệ Minh am, thuộc am tháp Tuệ Minh, chùa Đại Khánh (chùa Vồm) làng Đại Khánh, tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hoá. Nay là xã Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá. Kí hiệu thác bản Viện Nghiên cứu Hán Nôm 9408. Bia 1 mặt, khổ 84cm x 43cm, không trang trí, tên và văn bia viết bằng chữ Khải rất đẹp. Toàn văn 29 dòng, tổng cộng 700 chữ, được khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717).

Phiên âm:
Tuệ Minh am
Cái văn: Tâm nguyên trạm tịch sơ vô thượng - hạ chi sai thù, giác hải thanh trừng hà hữu vị kinh chi phán đoán. Thảng nhất xuyến tâm châu bất muội, tất liễu minh tội tính giai không. Lương do thiện - ác, mê - ngộ chi bất đồng; sở dĩ thánh phàm, thăng trầm chi hữu dị. Cố, cử nhất niệm thiện nhi thiên đường trực chí, tạo nhất niệm ác nhi địa ngục lập thành. Mê giả vĩnh kiếp trầm luân, ngộ giả đa sinh giải thoát. Hội thử chính sở vị, vi thiện tại nhân, phúc thiện tại thiên. Thiên nhân chi báo ứng, khởi năng sai hồ?
Việt dĩ, Hoàng cung giáng chất, tuyết lĩnh tu nhi quả chứng chân thường; ngọc diệp đản sinh, phổ môn hiện nhi viên thông tại tự. Đệ đệ tương thừa tổ giáo, miên miên vĩnh trấn từ phong. Khắc tuân tượng giáo phong song, bái hạ thiền môn tông chủ.
Kính duy tông sư, ma ha Tì kheo Chân Hỷ Tuệ Minh Hoà thượng, phúc tuệ trang nghiêm, liễu vô sở đắc, hoá thân Bồ tát, gia truyền y bát, tâm ngộ chân không. Thác tích tùng lâm, song mẫn thị phi chi cảnh; thê tung vân quật, lưỡng vong danh lợi chi tràng. Cư trần bất nhiễm trần duyên, tại thế bất ki thế thái. Thiền hà tĩnh vong hung bất động, thu nguyệt hiện minh trí kính viên. Trần nghiệp vật xâm, tịch quang phổ chiếu. Huề vạn vựng đồng tu Tịnh độ, tiếp tứ chúng cộng chủng thiện duyên. Nhận không hoa nhi quả chứng Niết bàn, cao du giác ngạn; nhiên tuệ cự nhi trà tì huyễn tướng, hỗn nhất thái hư. Thanh công đức bất khả tư nghị, sử chân tục cụ giai khát ngưỡng.
Tư thần đệ tử: Sa di tự Như Ngọ cập đạo tràng Tục đế: Như Tĩnh, Như Hiểu, Như Bân, Như Tuyển, Như Công. Chân đế: Tính Hoàn. Tục đế: Tính Thuyên, Tính Nghiêm, Tính Bảo, Tính Truy, Tính Hồ, Tính Tường, Tính Dung, Tính Trường, Tính Khoan, Tính Trạm, Tính Bổng, Tính Hân, Tính Thuỷ, Tính Thống, Tính Đăng, Tính Trinh, Tính Trụ, Tính Hiển, Tính Tùng, Tính Trì, Tính Điểm, Tính Chuyên, Tính Quỳnh, Tính Kính, Tính Trọng, Tính Hoành, Tính Truyền, Tính Cục, Tính Thận.
Sinh phùng thịnh thế, trưởng ngộ minh sư. Mông pháp nhũ chi trạm trạm, quyên ai vị báo; mộc sư ân chi miểu miểu, nhuận trạch vô nhai. Nan vong cốt tuỷ chi thâm ân, hà hạ truy tư chi hậu ý. Viên, mệnh công tu bảo tháp, phụng đáp trọng ân. Doanh chi bất nhật viên thành, đắc dĩ ức niên hương hoả. Phục nguyện, tuệ đăng diệu nhĩ, chân tính trạm nhiên. Hiện diệu tướng vu Phạm cung, hiển uy quang vu bảo tháp. Tỉ môn nhân cộng chứng Bồ đề, thiền tông vĩnh mậu; bảo Thích tử đồng viên ích trí, đạo mạch trường lưu. Dương dương nhi tổ ấn trùng quang, ái ái nhi chân tông trường diễn. Biến chu sa giới, tận nhập huyền môn. Cẩn bái hồ, thuật chi. Vĩnh bảo, kì truyền vu hậu thế.
Minh viết:
Thiện tai! Phật tử,
Bất nhiễm thế duyên.
Tri thân thị huyễn,
Ngộ tướng phi kiên.
Truyền đăng kế tổ,
Xả tục đầu thiền.
Chân thừa quả chứng,
Thượng hạnh công viên.
Tam quan thấu đạt,
Vạn pháp quy nguyên.
Tâm chu sa giới,
Lượng khuếch nhất nguyên.
Vô giá vô ngại,
Hữu nhân hữu duyên.
Nhất nhân tu đạo,
Cửu tộc sinh thiên.
Thân minh vu thạch,
Vĩnh bảo kỳ truyền.
Hoàng triều Vĩnh Thịnh thập tam niên Xuân nguyệt cốc nhật.
Dịch nghĩa:
Am Tuệ Minh
Thường nghe: Nguồn tâm vắng lặng, vốn chẳng có trên - dưới sai biệt; biển giác lắng trong, nào đâu phân đục trong đôi ngả. Giả như ngọc tâm trong sáng, ắt hiểu tội tính đều không. Chỉ do thiện - ác, mê - ngộ chẳng đồng; cho nên Thánh phàm, lên xuống mới khác. Vì vậy, một ý niệm thiện khởi lên thì thiên đường thẳng đến, một tư tưởng ác sinh ra thì địa ngục liền thành. Kẻ mê thì vĩnh kiếp trầm luân, người ngộ thì nhiều đời giải thoát. Sở dĩ nói, làm thiện ở người, phúc thiện ở trời chính là như vậy. Báo ứng của trời người, há có thể sai khác được ư ?*
(Nhớ đức Thích Ca xưa) (Người) Thị hiện chốn bệ ngọc cung vàng, tu hành nơi núi Tuyết, chứng đắc quả vị Chân thường; đản sinh làm lá ngọc cành vàng, hiện bày vô lượng pháp môn, đạt đến viên thông tự tại. (Từ đó về sau) Lớp lớp truyền thừa tổ giáo, đời đời vững chấn từ phong. Mỗi mỗi đều nghiêm cẩn vâng theo Phật pháp, người người đều xứng danh tông chủ thiền môn.
Kính lễ đức tông sư ta, là ngài Ma ha Tì kheo Chân Hỷ Tuệ Minh Hoà thượng . Bậc phúc trí trang nghiêm, liễu ngộ vô sở đắc, Bồ tát hoá thân, kế thừa y bát , tâm ngộ chân không. Nương thân chốn tùng lâm, dứt sạch thị phi cõi tục; ẩn tích nơi động mây, quên bặt danh lợi thế gian. Ở nơi trần thế mà không nhiễm trần duyên, sống trong đời thường mà không vương thế thái. Sông thiền trong lặng, sóng dồn chẳng lay; trăng thu hiện đầy, gương trí tròn đủ. Nghiệp trần không mảy may xâm phạm, trí tuệ lặng chiếu khắp muôn nơi. Dắt dìu muôn loài đồng tu Tịnh độ3, tiếp dẫn Tứ chúng cùng tạo thiện duyên. Nhận rõ vạn pháp tựa không hoa mà chứng quả Niết Bàn , dạo chơi trên bờ giác; thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ để trà tì thân huyễn, hoà nhập cùng thái hư . Công đức Ngài thật chẳng thể nghĩ bàn, khiến chân tục ai nấy đều khát ngưỡng.
Nay có đệ tử là Sa di tự Như Ngọ, cùng với các đệ tử tại gia trong đạo tràng: Như Tĩnh, Như Hiểu, Như Bân, Như Tuyển, Như Công. Đệ tử xuất gia là Tính Hoàn. Các đệ tử tại gia: Tính Thuyên, Tính Nghiêm, Tính Bảo, Tính Truy, Tính Hồ, Tính Tường, Tính Dung, Tính Trường, Tính Khoan, Tính Trạm, Tính Bổng, Tính Hân, Tính Thuỷ, Tính Thống, Tính Đăng, Tính Trinh, Tính Trụ, Tính Hiển, Tính Tùng, Tính Trì, Tính Điểm, Tính Chuyên, Tính Quỳnh, Tính Kính, Tính Trọng, Tính Hoành, Tính Truyền, Tính Cục, Tính Thận.
(Chúng con có phúc duyên) sinh ra vào lúc thịnh thế, lớn lên gặp được minh sư. Thấm gội sư ân vô bờ bến, nương nhờ pháp nhũ chưa báo đền. Ơn nặng khó quên, nghĩ sao báo đáp? Vậy nên, cho thợ xây dựng bảo tháp, ngõ hầu báo đáp trọng ân. Chẳng bao lâu thì kiến thiết viên thành, việc hương hoả được lưu truyền muôn thuở. Xin nguyện, đèn tuệ rạng ngời, chân tính sạch trong. Hiện diệu tướng vào Phạm cung, hiển uy quang nơi Bảo tháp. Gia trì cho môn nhân cùng chứng Bồ đề, thiền tông mãi mãi hưng vượng; phù trợ cho Thích tử trí tuệ tăng trưởng, đạo mạch muôn thuở lưu truyền. Tổ đạo sáng chói muôn nơi, chân tông chảy dài khắp chốn. Rộng đến hằng sa cõi pháp, tất thảy đều nhập huyền môn. Xin được kính cẩn thuật ra đây, để lưu truyền mãi cho hậu thế.
Bài minh rằng:
Lành thay Phật tử,
Chẳng nhiễm trần duyên.
Biết thân như huyễn,
Ngộ tướng không bền.
Truyền đăng kế tổ,
Xả tục theo thiền.
Chứng quả chân thừa,
Công hạnh chu viên.
Tam quán thấu triệt,
Đạt nguồn vạn pháp.
Tâm trùm vạn cõi,
Lớn tựa hư không.
Chẳng bị ngăn che,
Có nhân có duyên.
Một người tu đạo,
Cửu tộc sinh thiên.
Xin khắc vào đá,
Mãi mãi lưu truyền.
Ngày lành tháng mùa Xuân niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717).
Chú thích:
*Từ “Trời” trong hai câu cuối này nên hiểu là vũ trụ vạn hữu hay quy luật tự nhiên mà không phải là một đấng Thượng Đế quyền năng nào cả. Hai câu này là hai câu tổng kết toàn bộ nội dung đoạn văn, ý nói muôn việc đều do tâm tạo ra, nhưng kết quả của những hành động đó lại tuân theo quy luật tự nhiên, hay nói cách khác là tuân theo quy luật nhân quả của vũ trụ, bản thân chúng ta không thể quyết định được.

Cẩn án:
Bia Tuệ Minh am gắn ở mặt trước tháp am Tuệ Minh, thuộc tháp thứ 3 bên phải chùa Vồm (Đại Khánh, cũng gọi là chùa Đại Hùng, chùa Bàn A) thuộc xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Theo Đại Nam nhất thống chí q6 Tỉnh Thanh Hóa phần Chùa quán cho biết chùa “nhân vách núi Bàn A mà làm thành tường chùa, giữa chạm phù điêu tượng Phật rất lớn, không rõ từ khi nào…”. Theo hệ thống văn bia và ma nhai, dù mờ, đã phản ánh chùa muộn nhất đã đã có từ thời Trần.
Theo truyền pháp kệ của Trí Bản Đột Không thì Thiền sư pháp danh Chân Hỷ, pháp hiệu và tháp hiệu đều có tên là Tuệ Minh thuộc đời thứ 36 Thiền phái Lâm Tế Đàng Ngoài. Theo văn bia Kim Cương bảo tháp bi ký do Dạ Mạt cư sỹ người Thái Nguyên là Vương Thị Nhị Xá soạn vào năm Vĩnh Trị 1 (1676) và Vĩnh Phúc Thiền tự bi, do đệ tử của Minh Lương là Tỷ kheo Chân Tường (nguyên là Quan viên tử xã Hoằng Trung, huyện Thuần Lộc, phủ Hà Trung, Thừa tuyên Thanh Hoa) soạn vào năm Chính Hòa 13 (1692) đều xác nhận: Chân Hỷ là đệ tử của Thiền Sư Minh Lương. Cụ thể Kim Cương bảo tháp bi ký xếp Chân Hỷ đứng thứ 2 trong số môn nhân dựng tháp, còn Vĩnh Phúc Thiền tự bi thì sau Chân Môn, Chân Tường, Chân Nguyên thuộc hàng Tỷ kheo, thì Chân Hỷ đứng thứ 3 sau Chân Phúc và Chân Thăng ở hàng Sa di. Với hai mốc thời gian trên, đều xác nhận sự có mặt của Chân Hỷ và môn nhân Sơn môn Vĩnh Phúc đã cùng Minh Lương trùng tu chùa Vĩnh Phúc năm 1663 - khi đó Chân Hỷ vẫn còn là Sa di và cùng tham gia dựng tháp cho Bản sư Minh Lương vào năm 1676.
Với nguồn tư liệu hãn hữu hiện còn, chỉ xác định được Chân Hỷ, Chân Tường nói trên và Sa di Lê Tiến Thư, pháp danh là Chân Lai Không Quảng Đức Thiền sư (Theo văn bia Kiến lập Tam bảo điền tự sự Tổ sư Ân Quang tháp bi ký, khắc năm Chính Hòa 7 (1686) dựng ở chuà Phật Tích thì lại ghi là “Ma ha Tỷ kheo Chân Lai Thanh Tịnh Quảng Đức Liên Hoa Bồ tát Thiền sư”, Lai người xã Bất Một, huyện Vĩnh Phúc, phủ Thiệu Thiên, Thừa tuyên Thanh Hoa) là nhóm người cùng quê Thừa tuyên Thanh Hoa, cả 3 cùng đứng chữ “Chân” đời thứ 36, cùng thuộc môn nhân của Thiền phái Lâm Tế Đàng Ngoài. Trong khi Chân Hỷ và Chân Tường là đệ tử Minh Lương, thuộc sơn môn Vĩnh Phúc thì Chân Lai lại theo về Minh Hành, thuộc Sơn môn Phật Tích.
Theo ước đoán thì, sau khi bản sư Minh Lương mất vào năm 1676, Chân Hỷ mới tạm biệt Vĩnh Phúc mà về trụ trì và hoằng dương Thiền tông Lâm Tế tại chùa Đại Khánh. Tại đây Chân Hỷ đã biệt lập thành một Sơn môn riêng đúng như ghi nhận của văn bia Tuệ Minh Am, khi cho Chân Hỷ là bậc “Thiền môn tông chủ” của Sơn môn Đại Khánh nói riêng và của Phật giáo xứ Thanh thời Trung hưng nói chung. Khi tả về công đức và phẩm hạnh của Chân Hỷ, văn bia ghi: “Hòa thượng là bậc Tông chủ phúc tuệ cả thẩy trang nghiêm, hiểu thấu cái không có chỗ chứng. Là bậc Bồ tát hóa thân, chân truyền y bát, lòng ngộ niềm không. Gửi thân rừng Thiền, đoạn tuyệt với cảnh thị phi; neo bóng hang mây, nghễnh tai với trường danh lợi. Ở giữa cõi trần mà không ô nhiễm duyên trần; sống trong thế tục mà không ràng buộc thế thái. Nguồn thiền lắng, sóng lòng chẳng bợn mà trăng Thu hiện lên vành vạnh; gương Tuệ sáng, bụi trần không bám khiến hào quang rọi chiếu nơi nơi. Dìu muôn người cùng tu Tịnh độ, đỡ bốn chúng gieo mầm duyên thiện. Ngắm không hoa liền chứng quả Niết Bàn, ngao du trên bờ Giác ngộ; khêu đèn Tuệ mà thiêu tướng huyễn hoặc, hòa hợp cùng cõi Thái hư. Diễn phô công đức không thể nghĩ bàn, khiến Chân – Tục đều đem lòng ngưỡng mộ”.
Lần sửa lại tháp Tuệ Minh vào năm 1717, do Sa di Như Ngọ là trưởng tử đứng ra làm chủ hưng công, ngoài ngôn từ tán dương chung chung, soạn giả tạm thời cho ông là người Thanh Hóa cho dù văn bia không cho biết Chân Hỷ người quê ở đâu, hành trạng thực hư ra sao? Và tạm lấy trước năm sửa tháp 1 năm làm năm sư viên tịch.
Văn bia Nam Mô A Di Đà Phật tạo hậu Phật bi ký soạn năm Dương Đức 3 (1674) thuật lại việc bầu hậu Phật cho Dật sĩ Nguyễn Tài Khiêm là tác phẩm còn lại hiện được biết đến của Chân Hỷ, dưới bút danh “Tiểu Tiểu Đệ tử”.
Bia và tháp đá nay vẫn còn, thác bản văn bia một mặt hiện lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. No 9408

Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Câu đối Tranh chữ hình người -

Tranh cổ còn có dòng Tranh Thờ, vẽ hình người xếp theo tự dạng của Chữ Hán, bố cục thành câu Đối. Trông từ xa rất ấn tượng và phải luận cho ra hình Chữ.
Trước đây có dịp đi trên phố Lò Đúc, ngang qua 1 nhà bán giải khát. Nhà họ đang sửa, dỡ ảnh cũ tranh thờ xuống, mình ngang qua thấy đọc cho, họ có vẻ sĩ dện, mời nước nôi nhưng lại kiểu dửng dưng. Câu đối hình người, nội dung thờ Quan Thế Âm Bồ tát. Đọc ra là:
Tử Trúc Lâm Trung Quan Tự Tại
Bạch Liên Đài Thượng Hiện Như Lai
紫竹林中观自在
白莲台上现如来
Giữa rừng Trúc tía xem tự tại
Trên đài Sen trắng hiện như lai

Nay trên Facebook đồng đạo có bức mới 

Tam thiên biến hóa xuất nam hải
Nhất phiến từ tâm độ thế nhân.
三千变化出南海
一片慈心度世人
Cũng là câu để tôn phụng Quan Thế Âm.

 Bằng hữu gần xa ai có hình chụp như thế này cùng đăng lên luận giải cho nó vui mà thú vị nữa. 

Thứ Bảy, 20 tháng 5, 2017

GIỚI THIỆU TẤM BIA “TRÙNG TU NGỌA VÂN THIỀN TỰ BI KÝ” CHÙA NGỌA VÂN NÚI YÊN TỬ

GIỚI THIỆU TẤM BIA “TRÙNG TU NGỌA VÂN THIỀN TỰ BI KÝ” CHÙA NGỌA VÂN NÚI YÊN TỬ
ThS. Dương Văn Hoàn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chùa Ngọa Vân nằm ở vị trí trung tâm sườn phía Nam của núi Bảo Đài (Vây Rồng), ở độ cao trung bình 588m – 644m so với mặt nước biển, tựa lưng vào núi Bảo Đài. Chùa là một cụm các công trình phân bố từ chân lên đỉnh của ngọn Ngọa Vân (Ngọa Vân phong), nơi nhân dân hiện nay quen gọi là khu Chùa đổ hay Nhà Mẫu và Bàn Cờ tiên.
Thời Lê Trung hưng, sau thời gian dài bị xuống cấp, năm 1707 Ngọa Vân được trùng tu và xây dựng mở rộng. Năm 2009, các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu vết nền móng của chùa Ngọa Vân được xây dựng dưới thời Lê Trung hưng.
Am Ngọa Vân nay là chùa Ngọa Vân, nằm cách chùa Ngọa Vân khoảng 200m về phía Bắc, lấy ngọn Ngọa Vân làm tay ngai phải (hữu bạch hổ) và cánh núi phía Đông của núi Bảo Đài làm tay ngai trái (tả thanh long). Tháng 5 năm 1307, sau một thời gian tu hành, giảng pháp và vân du khắp nơi để dạy dân chúng phá bỏ dâm từ và thực hành thập thiện, Trúc Lâm đại sĩ đã lên tu tại một am nhỏ trên Ngọa Vân, am nhỏ đó được gọi tên theo tên của ngọn núi nơi dựng am tức là am Ngọa Vân.
Các ghi chép về hành trạng tu hành của Trúc Lâm đại sĩ và các di tích, di vật mà khảo cổ học tìm được tại Ngọa Vân cho thấy, ban đầu khi Trúc Lâm đại sĩ đến Ngọa Vân ngài chỉ cho dựng một am nhỏ gọi là am Ngọa Vân để tu hành. Giờ Tý, ngày 1 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), Ngài “an nhiên viên tịch” ở tư thế sư tử nằm, Ngọa Vân đã trở thành điểm kết thúc trọn vẹn quá trình tu hành hóa Phật của Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Sau khi Trúc Lâm đại sĩ hóa Phật, đệ tử của Ngài tiến hành hỏa thiêu Ngài ngay tại am Ngọa Vân, đồng thời cho xây dựng một tòa bảo tháp để lưu giữ một phần xá lỵ của Ngài tại đây. Ngọc cốt và xá lỵ còn lại được chuyển về kinh đô Thăng Long rồi sau đó được phân chia đi an trí ở nhiều nơi Là nơi Phật hoàng tu hành và đắc đạo, Ngọa Vân trở thành thánh địa của Thiền phái Trúc Lâm, nên ngay sau khi Ngài mất, người nối dòng của Ngài là tổ Pháp Loa đã cho xây dựng và mở mang Ngọa Vân. Đến đây, Ngọa Vân không chỉ là am nhỏ nữa mà đã trở thành một quần thể kiến trúc chùa tháp lớn trên dãy Yên Tử. Trong đó am Ngọa Vân là nơi thờ Đệ nhất tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông. Trải qua một thời gian dài suy vong của Phật giáo nói chung, Phật giáo Trúc Lâm nói riêng, các công trình kiến trúc ở Ngọa Vân được xây dựng dưới thời Trần không còn nữa. Đầu thế kỷ XVIII, thiền sư Đức Hưng đã cho xây dựng lại Ngọa Vân. Tại khu vực am Ngọa Vân, ông cho xây dựng lại Phật Hoàng tháp, nhà tổ làm nơi thờ tam tổ Trúc Lâm và một số công trình khác[1].
Hiện nay, chùa Ngọa Vân vẫn còn lưu giữ được một số hiện vật cổ có giá trị như tháp tổ Phật Hoàng, bia bài bị Trần Nhân Tông cùng một số vị thiền sư, đặc biệt là tấm bia 2 mặt ghi chép về việc trùng tu chùa do Thiền sư Đức Hưng tạo dựng. Bia có tên Trùng tu Ngọa Vân tự công đức chi bi ký (Trùng tu Ngọa Vân thiền tự bi ký). Bia làm bằng đá xanh gồm 2 phần đế và thân, đế bia hình chữ nhật, cao 20cm, dài 129cm, rộng 52cm; thân bia rộng 91cm, cao 125cm, diềm thân trang trí văn mây, trán bia hình bán nguyệt trang trí mặt nguyệt ở giữa, hai bên văn mây hóa rồng. Bia được dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707).

Bia Trùng tu chùa Ngọa Vân Ảnh: Nguyễn Văn Anh (2013)
Qua nội dung của văn bia, chúng ta được biết chùa đã được chúa Trịnh ban lệnh chỉ cho dân địa phương làm tạo lệ, miễn phu phen tạp dịch để lo thờ phụng đèn nhang. Đặc biệt cho chúng ta được biết Thiền sư Đức Hưng hiệu Viên Trí, trụ trì chùa Ngọa Vân đã đứng ra đại trùng tu sửa sang lại ngôi chùa, cũng như xây dựng thêm nhiều hạng mục mới, cụ thể văn bia ghi “sửa sang tu tạo các tòa thượng điện, hậu đường, gác chuông, tăng phòng, cả thảy là 25 gian; xây hai tòa tháp, dựng một tấm bia, với lại khai sáng các chùa thiền Kim Am, chùa thiền Linh Quang, các am Hương Vân, am Vân Tuyết, am Tri Kiến, am Giải Thoát”. Trong công cuộc xây dựng quy mô lớn này, nhà sư được sự hậu thuẫn, giúp đỡ của hai quý bà, đó là Thị nội tư quan, Giáo phường ty Dương Thị Phương hiệu Diệu Tín và bà Vương phủ Thị nội đệ nhất cung tần Chiêu nghi Dương Quý thị Ngọc húy Trinh người xã Khắc Niệm huyện Tiên Du phủ Từ Sơn. Hai bà là chị em nhà dòng dõi quyền quý, mộ đạo Phật, từng nhiều lần đến chùa cầu cúng và được hiển ứng, nên phát tâm công đức tôn tạo lại chùa có quy mô to đẹp. Nhận thấy đây là tấm bia giá trị, cung cấp nhiều thông tin về lịch sử ngôi chùa, đời sống Phật giáo, cũng như xã hội đương thời, nên chúng tôi xin giới thiệu toàn văn tấm bia này để độc giả tham khảo.
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bản dịch của tấm bia này[2].
Mặt trước:


Thác bản mặt trước bia Trùng tu chùa Ngọa Vân – kí hiệu 4552 Nguồn: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trùng tu chùa Ngọa Vân
Văn bia trùng tu chùa thiền Ngọa Vân
Từng nghe: tịnh độ[3] bỏ bụi trần, kim điền[4] lưu sắc tướng. Ấy là khu nổi tiếng muôn đời của ngôi chùa Phật. Cho nên, Khe Tào múc nước, thắng tích chùa Bảo Lâm dựng lúc ban đầu[5]; chống gậy tích bay lên không, chùa U Thê núi Chung Lĩnh một mình riêng chiếm. Các ngôi đàn lâm, tinh vũ[6] này trải qua biết bao số kiếp, trường tồn cùng với vũ trụ bát ngát bao la. Há chẳng phải vì là nơi phúc địa có khí thiêng chung đúc, có cao nhân thấu ngộ nên mới truyền lại được dài lâu không nát đấy ư!
Nay xem chùa Ngọa Vân xã tạo lệ[7] An Sinh huyện Đông Triều phủ Kinh Môn đạo Hải Dương thực là nơi danh lam cổ tích hàng đầu ở trời Nam. Núi non chót vót nghìn tầm, cao vời muôn nhận. Nơi nơi u nhã, vật vật thanh kỳ. Dãy núi tựa đám cháu con sắp bày la liệt; trăm dòng như những dải lụa phơ phất lưng chừng. Đứng đây có thể hái được trăng sao chín tầng cao thẳm; là một bầu tiên cảnh mãi mãi tươi xuân. Thực là do quỷ thần đẽo gọt, bởi trời đất đặt bày; dường như từ Linh Thứu[8] bay về, cõi La Phù[9] đưa lại. Ngỡ chẳng thể có được ở cõi nhân gian.
Cho đến Hoàng đế triều Trần[10] rũ bỏ ngôi cao quyền quý, dấn bước chốn hiểm rừng sâu. Phát gai mở ngôi phương trượng[11], đẽo đá dựng chốn cửa thiền. Trăm năm rồng khuất Đỉnh Hồ[12], dấu Tiên còn mãi; thần tượng cao vời đỉnh núi, mãi gắn tịnh duyên[13]. Dẫu là mến chuộng một thời, nhưng cũng bởi từ sông này núi này khéo sắp đặt, khéo đưa đến mà ra. Cho nên rốt cuộc [cũng] không [thể] đem thứ này đổi cho thứ kia[14]. Há cái thú vị tầm thường mà có thể khiến người ta hâm mộ cuồng nhiệt đến như vậy ư? Từ xưa đã mở dấu tích lạ kỳ, sau này sẽ gây nên nền phúc đức. Gần trông xa ngóng, nước cúng dân cầu. Chuông mõ luôn vang, đèn nhang chẳng dứt, truyền tới ngày nay đã được hơn bốn trăm năm rồi. Chùa cũ trải biết bao năm tháng, vốn là vật hữu hình thì có quy luật; mọi người biết bao lực lượng, đâu dám coi nhẹ sửa sang. Ngẫm rằng hưng phế là có lúc, cho nên cơ hội đến vừa hay.
Nay có vị Tỷ khưu tự Đức Hưng hiệu Viên Trí[15] trụ trì chùa Ngọa Vân núi Bảo Đài đứng ra sửa sang tu tạo các tòa thượng điện, hậu đường, gác chuông, tăng phòng, cả thảy là 25 gian; xây hai tòa tháp, dựng một tấm bia, với lại khai sáng các chùa thiền Kim Am, chùa thiền Linh Quang, các am Hương Vân, am Vân Tuyết, am Tri Kiến, am Giải Thoát. Sư là người kiên trì giới hạnh, thấu đạt uyên vi. Tỏ tường sắc không không sắc nhiệm màu, đốn ngộ tâm Phật Phật tâm huyền diệu. Miệng không ưa cay mặn, chí chẳng để tiền tài, vứt bỏ duyên trần tứ khổ[16]; tính là giác ngộ, tâm là từ bi, ngầm hợp bảo quyết tam thừa[17]. Đắc đạo đã lâu, lòng người càng tín mộ; đạo lại cao quý, mọi người tự tôn sùng. Vì thế xa gần sang hèn không ai là không tôn kính quy y, đến dâng lễ chật cửa, người nườm nượp lại qua. Chỉ hễ mở miệng một câu là mọi người ghé vai gánh vác, mở lối làm đường đi thông thoáng, việc nặng cả nghìn cân bỗng nhẹ tựa lông hồng, dường như chẳng cần khó nhọc cũng tự nhiên đạt được như thế vậy.
Bấy giờ, có bà Thị nội tư quan, Giáo phường ty Dương Thị Phương hiệu Diệu Tín và bà Vương phủ Thị nội đệ nhất cung tần Chiêu nghi Dương Quý thị Ngọc húy Trinh người xã Khắc Niệm huyện Tiên Du phủ Từ Sơn là chị em nhà dòng dõi quyền quý, thích nghe điều thiện, ngưỡng mộ nhân phong, nhiều lần đích thân đến chùa cầu khấn, lại được hiển ứng bao lần, bèn đứng ra tu sửa lại chùa, tự thuê mướn thợ thuyền, chọn mua vật liệu. Qua vài năm thì hoàn thành quy mô to đẹp. Ngoài ra còn cúng dàng tượng đẹp, chuông to, cùng là đồ pháp khí bằng vàng bằng đồng để rạng rỡ dài lâu.
Ôi! Há phải chăng là việc làm ngẫu nhiên ư? Có lẽ do sự linh thiêng của ngôi chùa này đã ứng nghiệm rõ ràng cho nên người người tôn kính tin theo, không tiếc tiền của; cũng bởi vị sư trụ trì tinh thâm đạo Phật, khế hội được tâm ấn của Đức Phật, túc duyên của sư tổ nên mới làm được như vậy chăng? Tấm lòng ấy, đã cảm thông tới ba cõi, thấu suốt chín tầng trời. Đời này dân này cùng bước lên cõi nhân thọ, có lẽ chẳng khó khăn chi. Công việc đã xong xuôi trọn vẹn, cũng muốn truyền lại dài lâu, bèn xin bài văn khắc vào bia đá, dựng ở nơi mây vờn ráng phủ.
Bấy giờ là ngày tốt tháng cuối đông [tháng Chạp] năm Đinh Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh 3 [1707] triều Lê.
Đệ tử thờ Phật là Trần Tước Lộc tự Viên Liêu viết
Thợ đá Nguyễn Duy Sĩ người xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên vâng khắc.
Mặt sau:

Nguồn: Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thác bản mặt sau bia chùa Ngọa Vân (Ảnh do TS. Phạm Văn Tuấn cung cấp.)

Văn bia công đức
Cung phụng lệnh chỉ của Đại nguyên soái Thống quốc chính Thượng thánh Phụ sư Thịnh công Nhân minh Uy đức Định vương [chúa Trịnh Căn] ra lệnh cho Nguyễn Diễn, Nguyễn Duy Cao, Nguyễn Như Vệ, Nguyễn Văn Khuể, Nguyễn Quang Kỳ, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Đức Độ, Nguyễn Công Sính, Nguyễn Đức Học, Nguyễn Đức Sơn, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Đức Nhật, Nguyễn Công Hán, Nguyễn Minh Đội, Nguyễn Huy Đỉnh, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Đức Tài, Nguyễn Trí, Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn Duy Lại, Nguyễn Đức Hào, Nguyễn Dật, Nguyễn Đức Chiêm, Nguyễn Như Mi, Nguyễn Đức Thịnh cùng toàn thể dân xã tạo lệ An Sinh huyện Đông Triều.
Nay viên Khâm sai Tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, kiêm Chưởng chính quyền Thái úy Tấn quốc công [Trịnh Bính], được ủy quyền giải quyết các công việc quốc gia, đảm nhận việc binh dân trọng trách, có dâng lời khải nói rằng: Nguyên bản xã đã được cấp lệnh chỉ, chỉ thị, chuẩn cấp cho làm dân tạo lệ phụng sự 5 vị Hoàng đế triều Trần tại điện An Sinh[18] và các chùa Ngọa Vân, Tư Phúc[19]. Số lương quý, tiền gạo, các việc bồi đắp, sửa sang đê điều đường xá và các việc hộ phận, bài biểu, tế khoán sưu sai hàng năm đều được miễn trừ cả. Vào năm Nhâm Tuất [1682] do bị hỏa hoạn, cháy mất lệnh chỉ, chỉ còn các tờ chỉ thị và tờ phê, kính xin được cấp [làm tạo lệ] như cũ. Do đã qua tra xét thấy đúng thực. Vì vậy vẫn ban cho làm dân tạo lệ, miền trừ các việc sưu sai tạp dịch như trước kia, để tiện việc thờ phụng, kéo dài mạch nước. Quan phụng sai và các nha môn không được nhũng nhiễu bắt bớ. Ai trái lệnh đã có phép nước trừng trị. Nay ban lệnh!
Ngày 24 tháng 10 năm Chính Hòa thứ 10 (1689).
- Công đức: Trung Kính quân doanh, Trung quân [Đô đốc] phủ Tả đô đốc Phó Đô tướng, Thái bảo, Đông quận công Trịnh Hoàn tự Viên Minh - quận phu nhân Lê Thị Ngọc Ân hiệu Diệu Thụy.
- Công đức: Hậu Khuông quân doanh, Đông quân [Đô đốc] phủ Tả đô đốc Phó Đô tướng, Thái phó, Phái quận công Trịnh Du - quận phu nhân Đinh Thị Ngọc Phương hiệu Diệu Hương.
- Công đức:
Xã An Sinh: Nguyễn Như Vệ tự Phúc Tín, Nguyễn Công [Sính], Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Đức Lượng vợ Bùi Thị Thảo, Nguyễn Phụ Phượng vợ Nguyễn Thị Uyên, Nguyễn Đức Hà vợ Đoàn Thị Trừu, Nguyễn Đức Vinh, Nguyễn [Quang] [ ] tự Phúc Hợp vợ hiệu Từ Huệ.
Xã Phúc Đa: Sở sứ Phạm Trung Gián vợ Nguyễn Thị Tông hiệu Diệu Lộc.
Xã Đạm Thủy: Đinh Văn Quận tự Phúc Trường vợ Phạm Thị Do.
Xã An Sinh: Phạm Văn Giảng tự Phúc Tín vợ Nguyễn Thị Ta hiệu Diệu Thành.
Xã Phú Ninh: Nguyễn [] [] [tự] Viên Hương vợ Nguyễn Thị Mũi(?) hiệu Diệu [Lộc].
Xã [] Khê: Nguyễn Công [] và vợ.
Xã Khinh Dao huyện Giáp Sơn: Lưu Hán tự Viên Khoan thê Nguyễn Thị Lời hiệu Diệu Huệ.
Xã Lạc Sơn huyện Chí Linh: Nguyễn Thị Chuyên hiệu Diệu Lộc.
Xã Bình Quân huyện Lương Tài: Nguyễn Thị Điển hiệu Diệu Lộc, con trai là Lê Quang Đăng tự Viên Thiệu; Nguyễn Thị Xướng hiệu Diệu Năng.
Xã Cổ Bi huyện Gia Lâm: Nguyễn Thị Hân hiệu Diệu Thành Pháp Tính [Chân nhân].
Xã Triền Dương[20]: Đoàn Thị [ ] hiệu Diệu Quý, Nguyễn Thị Xuyến hiệu Diệu Đắc….

CHÚ THÍCH:
[1] Theo Nguyễn Văn Anh, Am Ngọa Vân, NXB Văn hóa Thông tin, năm 2013.
[2] Mặc dù hiện nay tấm bia này đã được một số người dịch, có bản dịch được in vào sách, nhưng do căn cứ trên bia thực địa đã bị vỡ và mờ mòn nhiều chữ, nên bản dịch chưa thực đúng. Chúng tôi tìm được thác bản mặt trước được EFEO rập từ thế kỷ XX, nội dung còn rất đầy đủ, do đó dịch lại toàn bộ tấm bia này.
[3] Tịnh độ: 淨土; S: buddhakṣetra; C: jìngtǔ; J: jōdo; nguyên nghĩa Phạn ngữ là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh. Trong Ðại thừa, người ta hiểu mỗi cõi Tịnh độ thuộc về một vị Phật và vì có vô số chư Phật nên có vô số Tịnh độ. Ðược nhắc nhở nhiều nhất là cõi Cực lạc (s: sukhāvatī) của Phật A-di-đà (s: amitābha) ở phương Tây. Tịnh độ phía Ðông là cõi Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha), có khi cõi đó được gọi là Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya). Phía Nam là cõi của Phật Bảo Sinh (s: ratnasambhava), phía Bắc là cõi của Phật Cổ Âm (s: dundubhisvara). Ðức Phật tương lai Di-lặc (s: maitreya), là vị đang giáo hoá ở cõi Ðâu-suất (s: tuṣita), sẽ tạo một Tịnh độ mới. Tịnh độ được xem là “hoá thân” của thế giới, là cõi xứ của người tu hành muốn được tái sinh. Muốn đạt được cõi này, hành giả không phải chỉ trau dồi thiện Nghiệp mà còn phải nguyện cầu các đức Phật của các cõi đó cứu độ được tái sinh. Trong nhân gian, người ta thường hiểu Tịnh độ là một nơi có vị trí địa lí nhất định, nhưng thật ra Tịnh độ là một dạng của tâm thức giác ngộ, không bị ô nhiễm và các phương hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc chỉ có tính chất hình tượng. Tịnh độ không phải là mục đích cuối cùng trên con đường tu tập – chỉ là nơi được xem là cõi cuối cùng mà hành giả phải tái sinh để rồi đạt Niết-bàn (Tịnh độ tông).
[4] Kim điền (ruộng vàng): từ Phật giáo chỉ nơi ở của Bồ tát, cũng là cách gọi khác của chùa Phật.
[5] Khe Tào múc nước: Đời Lương có vị cao tăng là Trí Dược từ nước Thiên Trúc vào Trung Quốc. Thuyền đến cửa Khe Tào ở Thiều Châu, thoảng thấy mùi thơm, múc nước nếm rồi bảo: "Thượng lưu dòng nước này có thắng địa". Bèn khai núi làm chùa, đặt tên là Bảo Lâm.
[6] Đàn lâm 檀林 (danrin): nguyên lai, nó là từ gọi tắt của Chiên Đàn Lâm (旃檀林là nơi chúng tăng hòa hợp, tập trung tu hành; thường chỉ cho tự viện; cho nên nó cũng là tên gọi khác của tự viện Phật Giáo. Tinh vũ: tức tinh xá, là cách gọi tắt của Kỳ Hoàn tinnh xá 祇洹精舍,còn gọi là Kỳ Viên Tinh Xá (祇園精舍), tên gọi của tinh xá nằm ở Thành Xá Vệ (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛城), kinh đô của nước Kiều Tát La (s: Kauśala, p: Kosala, 憍薩羅) vào thời Ấn Độ cổ đại. Lúc bấy giờ, trưởng giả Tu Đạt (p: Sudatta, 須達, còn có tên là Cấp Cô Độc [給孤獨]) của Thành Xá Vệ mua khu rừng của Thái Tử Kỳ Đà (s, p: Jeta, 祇陀) để xây dựng tu viện cho giáo đoàn đức Phật.
[7] Tạo lệ: là dân được triều đình phong kiến cho phép miễn các khoản tô thuế, lao dịch để chuyên lo phục dịch các đền miếu, chùa chiền được triều đình xếp vào loại "quốc lễ" do nhà nước thờ cúng.
8] Theo sách Hợp bích: ở Tây Vực (Ấn Độ) có núi Thiết Linh, hình núi giống chim Thứu, Phật thường ngự ở đó, nên gọi là non Thứu để chỉ nơi Phật ở. Tiếng Phạn gọi núi này là: Grudhakuta, phiên âm là Kỳ-xà-quật, Phật giáo thường gọi là: Linh Thứu sơn, Linh sơn, Thứu Đầu sơn, Thứu lĩnh. Thêm nữa, cánh rừng phía Nam thành Vương Xá có nhiều người chết, lũ chim ó thường đến đó ăn thịt, rồi bay về đậu nơi núi Kỳ Xà Quật, nên người đương thời gọi núi nầy là Thứu Đầu sơn. Núi này rất cao và to, có nhiều rừng và suối đẹp, là nơi ở của Thánh nhân. Lúc Đức Phật Thích Ca còn sanh tiền, Đức Phật thường đến ở núi này để thuyết pháp độ chúng sanh.
9] La Phù: là tên một ngọn núi ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tương truyền Cát Hồng đời Đông Tấn học được phép thuật của tiên ở đây. Do vậy điển này chỉ cảnh tiên.
[10] Tức vua Trần Nhân Tông, sau đi tu trở thành vị tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
[11] Phương trượng: chỉ chùa.
[12] Đỉnh Hồ: Đời Hoàng đế đúc vạc ở núi Kinh, khi đúc xong vạc, thì cưỡi rồng bay đi. Người bấy giờ đặt tên xứ ấy, gọi là Đỉnh Hồ. Sau dùng điển Đỉnh Hồ là nói vua băng hà. Đây là nói vua Trần Nhân Tông chết.
[13] Tịnh duyên: không còn sinh diệt.
[14] Đoạn này ý nói tính kế thừa thành quả của đời trước là tính tất yếu, không thể khác được.
[15] Thiền sư Đức Hưng hiệu Viên Trí là người đã giải âm sách Lý tướng công minh ty lục, được thiền sư Từ Hòa Chiếu Thường (1780-1840) chùa Khê Hồi, Thường Tín, đứng ra hưng công trùng san lại vào thời Minh Mệnh, dựa trên bản giấy in trước đó của Thiền sư Viên Trí chùa Ngọa Vân. (Xem thêm: Đồng Dưỡng, Trở lại với ván khắc sách Giải âm Lý Tướng công Minh ty lục, Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 146. Nguồn: http://vanhoaphatgiaoblog.com/nghie... (2014)).
[16] Tứ khổ: là bốn nỗi khổ theo Đạo Phật, đó là: sinh (sinh ra), lão (già đi), bệnh (bệnh tật), tử (chết).
[17] Tam thừa: (三乘, sa. triyāna) là ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa (zh. 聲聞乘, sa. śrāvakayāna), Độc giác thừa (zh. 獨覺乘, sa. pratyekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (zh. 菩薩乘, sa. bodhisattvayāna). Đại thừa gọi Thanh văn thừa là Tiểu thừa (sa. hīnayāna) với sự đắc quả A-la-hán (sa. arhat) là mục đích, Độc giác thừa là Trung thừa (sa. madhyamāyāna) với quả Độc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Đại thừa (sa. mahāyāna) vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác (zh. 無上正等正覺, sa. anuttarasamyaksaṃbodhi).
[18] Điện An Sinh tức nay là đền An Sinh thuộc quần thể Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều thuộc huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh.
[19] Chùa Tư Phúc: tên chữ của chùa Côn Sơn, nay thuộc xã Côn Sơn huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.
[20] Xã Triền Dương: nay là thôn Lý Dương xã Nhân Huệ huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Nguyễn Văn Anh, Am Ngọa Vân, NXB Văn hóa Thông tin, năm 2013
2.     Đồng Dưỡng, Trở lại với ván khắc sách “Giải âm Lý Tướng công Minh ty lục”, Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 146. (Nguồn: http://vanhoaphatgiaoblog.com/nghie... (2014)).
3.     Thiền phái Trúc Lâm và danh thắng Yên Tử (TT. Thích Thanh Quyết -Trịnh Khắc Mạnh chủ trì biên soạn; Trịnh Khắc Mạnh, Trần Trọng Dương, Dương Văn Hoàn, Phạm Văn Tuấn và Lê Quốc Việt sưu tập và biên dịch). Bản thảo chưa xuất bản.
Nguồn: Bài đăng trên Thông báo Hán Nôm học năm 2015 (có chỉnh sửa).