Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Thần y Hàn Quốc Hứa Tuấn 허준 với sách Đông Y Bảo Giám동의보감

 Thần y Hàn Quốc Hứa Tuấn 허준 với sách Đông Y Bảo Giám동의보감
Nguyễn Đức Toàn sưu tầm và dịch giới thiệu
Thần y Hứa Tuấn 許浚, tiếng Hàn Quốc là Heo Jun허준, tự là Thanh Nguyên, 清源hiệu là Quy Nham龜岩. Sinh năm 1546 ở Dương Xuyên陽川, đạo Kinh Kỳ京畿道, dưới thời Triều Tiên vương triều Lý thị朝鮮王朝李氏, mất tháng 8 năm 1615ở hưởng thọ 70 tuổi. Ông là danh y của Triều Tiên dưới thời Tuyên Tổ宣祖 và Quang Hải quân光海君, là tác giả bộ y thư nổi tiếng Đông Y Bảo Giám東醫寶鑑 hoàn thành năm Quang Hải quân thứ 2 (1610). Sách giới thiệu các dược liệu của Triều Tiên kết hợp với các dược liệu trong Bản Thảo cương mục 本草綱目của Lý Thời Trân 李時珍. Đông y bảo giám có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển Y học cổ truyền của Triều Tiên. Đến thế kỷ XVIII, sách này được khắc in truyền bá tại cả Trung Quốc và Nhật Bản, được đánh giá rất cao. Hiện nay sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ông còn soạn một số sách như  Dịch Thần phương疫神方, Tân toản ôn phương新纂瘟方Ngạn giải cứu cấp phương諺解救急方[1]Ngạn giải đậu thương tập yếu諺解痘瘡集要Ngạn giải thai sản tập yếu諺解胎產集要Mạch quyết tập thành脈訣集成Toản đồ phương luận mạch quyết tập thành纂圖方論脈訣集成 .
Hứa Tuấn dưới thời Tuyên Tổ thi được vào Nhập Nội y viện, nhờ tài năng và y đức, có công lao trong chữa trị cho hoàng gia. Năm Nhâm Thìn thời Tuyên Tổ thứ 25 (1592), quân Nhật xâm lược Triều Tiên, ông làm Ngự y theo hầu bên vua cho đến khi phục quốc. Năm thứ 37 (1604), được ban Tam đẳng hỗ thánh công thần.  Năm thứ 38 (1605), gia phong Dương Bình quân 陽平君. Sau bị đài gián, triệt tiêu chức vị. Năm thứ 41 (1608), Tuyên Tổ mất, Quang Hải quân lên ngôi, do hai ty Tư Hiến và Tư Gián  ghép tội chữa trị cẩu thả, bãi chức Hứa Tuấn, chờ khám xét, làm Y quan gần 40 năm. Sau được xá tội. Năm Quang Hải quân thứ 7 (1615), Hứa Tuấn mất, được truy tặng Phụ quốc Sùng lộc đại phu輔國崇祿大夫, phục tước Dương Bình quân. Nhân dân gọi ông là Thần y.
Đông Y Bảo Giám東醫寶鑑tổng cộng 5 thiên, chia thành 23 quyển. Trong đó Nội Cảnh thiên 4 quyển, Ngoại Hình thiên外形篇4 quyển, Tạp Bệnh thiên 雜病11 quyển, Thang Dịch thiên 湯液3 quyển, Châm Cứu thiên針灸1quyển. Nội dung bao quát lý luận cơ sở của Đông Y, bao gồm các phần Nội khoa, Ngoại khoa, Phụ khoa, Nhi khoa, Lâm sàng các chứng, với Dược liệu và Châm cứu.
chúng tôi xin giới thiệu lời tựa sách  Đông y bảo giám  của ông do đồng liêu - Nho thần Lý Đình Quy soạn, để sơ lược hoàn cảnh ra đời, nội dung tác phẩm đến những người yêu thích Đông y, cũng như những bạn đang tìm hiểu nghiên cứu về Hàn Quốc.

 

 

Nguyên văn:
醫者,雅言軒岐。軒岐上窮天紀,下極人理,宜不屑乎記述。而猶且說問、著難,垂法後世,則醫之有書,厥惟遠哉。上自倉越,下逮劉張朱李,百家繼起,論說紛然,剽竊緒余,爭立門戶,書益多而術益晦,其與《靈樞》本旨不相逕庭者鮮矣。世之庸醫,不解窮理,或倍經訓而好自用,或泥故常而不知變,眩于裁擇,失其關鍵,求以活人而殺人者多矣。我
宣宗大王,以理身之法,推濟眾之仁,留心醫學,軫念民瘼。嘗于丙申年間,
召太醫臣許浚
教曰︰近見
中朝方書,皆是抄集,庸瑣不足觀。爾宜聚諸方,輯成一書。且人之疾病,皆生于不善調攝,修養為先,藥石次之。諸方浩繁務擇其要。窮村僻巷,無醫藥而夭折者多。我國鄉藥多產,而人不能知。爾宜分類並書鄉名,使民易知。浚退與儒醫鄭厝、太醫楊禮壽、金應鐸、李命源、鄭禮男等,設局撰集,略成肯綮。值西本之亂,諸醫星散,事遂寢。厥後
先王又教許浚獨為撰成,仍出內藏方書五百卷,以資考據。撰未半而
龍馭賓天。至
聖上即位之三年庚萬戌,浚始卒業而投進,目之曰︰《東醫寶鑒》,書凡二十五卷。
上鑒而嘉之,下教曰︰陽平君許浚,曾在先朝特承撰集醫方之
命,積年覃思,至于竄謫謫流離之中,不廢其功,今乃編帙以進。仍念先王命撰之書,靠成于寡昧,嗣服之後,予不勝悲感其。賜浚太僕馬一匹以酬其勞。速令內醫院設廳鋟梓,廣布中外。且
命提調臣廷龜撰序文,弁之卷首。臣竊念太和一散,六氣不調,癃殘扎瘥,迭為民災,則為之醫藥,以濟其夭死,是實帝王仁政之先務。然術非書則不載,書非擇則不精,彩不博則理不明,傳不廣則惠不布。是書也,該括古今,折衷群言,探本窮源,挈納提要,詳而不至于蔓,約而無所不包。始自內景、外形,分為雜病諸方,以至脈決、癥論、藥性、治法、攝養要義、針石諸規,靡不畢具,井井不紊。即病者,雖千百其候,而補瀉緩急,泛應曲當,蓋不必遠稽古籍,近搜旁門。惟當按類尋方,層見疊山;對證投劑,如符左契。信醫家之寶鑒、濟世之良法也。是皆
先王指授之妙算,而我
聖上繼述之盛意,則其仁民愛物之德,利用厚生之道,前後一揆。而中和位育之治,在于是語。曰︰仁人之用心,其利博哉。豈不信然矣乎。 
萬歷三十九年辛亥孟夏崇祿大夫行吏曹判書兼弘文館大提學、藝文館大提學知經筵春秋館成均館事。 
世子左賓客臣李廷龜奉
教謹序
萬歷四十一年十一月日內醫院奉教刊行
監校官通訓大夫內醫院直長臣李希憲法
通訓大夫內醫院副奉事臣尹知微
Dịch nghĩa:
Lời tựa Đông Y Bảo Giám
Cái gọi Y thuật, lời nhã ngôn còn gọi là Hiên Kỳ[2]. Hiên Kỳ thì trên thông lẽ trời dưới tận đạo người. Nên chẳng thèm ghi thuật mà hỏi nói cũng khó. Để  lại phương pháp cho đời sau thì nghiệp Y phải có sách, sự ấy đã từ lâu. Xưa từ thời Thương Công, Việt Nhân[3] cho đến các vị Lưu Hà Gian, Trương Tử Hòa, Chu Đan Khê, Đông Viên[4]. Đến khi trăm nhà nối dựng, luận thuyết phân chia. Trộm cắp thừa thẹo, tranh lập môn phái. Sách Y thì càng nhiều mà Y Thuật thì càng tối. So với bản chỉ lời sách Linh Khu[5] mà không sai thì ít lắm. Lũ y gia tầm thường không hiểu hết nghĩa lý, khi thì trái lời Kinh dạy mà chuộng thói tự tiện, khi thì nệ chấp thói thường mà  không biết sửa mờ tối để lựa chọn khác biệt, làm mất cái then chốt, để cầu cứu người mà thành ra giết người nhiều lắm.
Đức Tuyên Tông đại vương[6] ta
Lấy pháp tắc sửa mình, thúc lòng nhân cứu dân. Lưu tâm đến Y học, thương xót dân bệnh. Từng năm Bính Thân (1596)
 Chiêu gọi bề tôi Thái y Hứa Tuấn
Dạy rằng: Gần nay thấy các sách Y của
Trung Quốc đều là sao chép tầm thường hình thức, không đáng để xem. Ngươi nên sưu tập các phương, biên tập thành một sách. Vả lại tật bệnh con người ta đều sinh ra từ không hay điều nhiếp tu dưỡng là cái đầu tiên, thuốc thang mới tiếp theo đấy. Các phương thì nhiều mà rườm, nên vụ chọn cái cốt  yếu. Ở các nơi thôn cùng ngõ vắng, vì không có thầy có thuốc mà chết yểu nhiều lắm. Nước ta thuốc quê thì sẵn nhiều mà dân không biết. Người nên phân loại, lại chép tên quê đó để dân dễ biết. Hứa Tuấn lui cùng với bọn Nho y Trịnh Thạc, Thái y Dương Lễ Thọ, Kim Ứng Đạc, Lý Mệnh Nguyên, Trịnh Lễ Nam đặt cục soạn biên. Sơ sơ mới thành được phần cơ yếu. Vừa gặp năm loạn Đinh Dậu[7], các y sư y thư lưu tán hết, việc bị gác lại. Về sau đó
            Tiên vương lại giao cho mình Hứa Tuấn soạn thành. Lại xuất trong nội kho ra sách y học phương thư 500 quyển để giúp làm khảo cứ. Soạn chưa được nửa thì  
            Xe rồng đã khách ngự trời cao[8]
            Thánh thượng lên ngôi năm Canh Tuất thứ 3 (1610), Hứa Tuấn mới làm xong việc mà
dâng, đề mục là: Đông Y Bảo Giám, sách có 25 quyển
            Hoàng Thượng ngự lãm mà khen, dạy xuống rằng: Dương Bình quân Hứa Tuấn từng được  
            Tiên triều đặc  
Mệnh sai soạn tập sách y phương. Lâu năm ơn thấm, những khi phải chạy loạn, phải giáng chức, lưu lạc như thế mà không ngơi công  sức. Nay biên quyển thành sách dâng đây. Còn nhớ niềm
            Mệnh Tiên vương sai soạn sách, thành sách sau khi kẻ kém cỏi ta lên nối. Ta cảm xúc khôn nguôi. Ban cho Tuấn 1 con ngựa Thái bộc để đáp sự lao nhọc của y. Tức tốc lệnh cho Nội Y viện đặt sảnh khắc in rộng truyền trong ngoài. Lại
            Mệnh cho Đề điệu thần là Lý Đình Quy soạn bài tựa văn biên vào đầu quyển. Thần trộm nghĩ, cuộc thái hòa một phen tan tác, lục khí chưa điều tiết[9], các tật già ốm non chết là tai hại cho dân. Thế nên kẻ hành thuật y dược là để cứu giúp dân khỏi chết tai vì tai vạ. Đó cũng là việc nhân chính gấp rút trước tiên của đấng đế vương. Nhưng Y thuật không có sách thì không có gì để biên chép lại; Sách mà không lựa xét thì không được tinh chuyên; Sưu tầm không rộng rãi thì lý thuyết không sáng tỏ; Lưu truyền không xa khắp thì ân huệ không được ban ra. Quyển sách này gồm xét cả cổ kim, chiết trung các lời, thám cứu gốc nguồn, thâu tóm cương lĩnh đề yếu. Tường tận mà không lan man, giản ước mà không gì không bao quát. Mở đầu Nội Cảnh, Ngoại Hình. Chia ra Tạp Bệnh các phương cho đến chứng luận Mạch Quyết, trị pháp Dược Tính, yếu nghĩa Nhiếp Dưỡng, các phép Châm Thạch không gì không đầy đủ, rành mạch không hỗn loạn. Dù cho  bệnh có trăm nghìn chứng biến mà các phép bổ tả hoãn cấp ứng phó xứng đáng. Đại thể không phải xa thì kê cứu cổ tịch, gần thì thu thập của bàng môn. Duy chỉ theo loại tìm phương, từng tầng lộ thấy lớp lớp mà ra, đối chứng làm thuốc. Như bùa khắc gỗ mà chia ra để ghép lại làm tin[10]. Thực là gương báu của Y gia, phép hay để cứu đời vậy. Đấy đều là
            Sự tính toán nhiệm mầu của Tiên vương ta giao phó, mà cũng là thịnh ý của
            Thánh thượng ta kế chí xưa thuật việc trước. Ấy là cái đức của bậc nhân với dân yêu muôn vật, là cái đạo ích lợi cho đời sau vậy. Trước sau chỉ một mà ngôi trung hòa vị dục thực là ở đây. Thế mới nói rằng: Cái dụng tâm của đấng Nhân giả có lợi ích thật rộng lớn thay! Khá không đáng tin sao. Đầu hè năm Tân Hợi niên hiệu Vạn Lịch thứ 39 (1611) Sùng Lộc đại phu Hành Lại tào phán thư kiêm Hoằng Văn quán Đại đề học Nghệ Văn quán Đại đề học Tri Kinh diên Xuân Thu quán Thành Quân quán sự
Thế tử Tả tân khách thần Lý Đình Quy vâng
Lời giao dạy kính cẩn soạn tựa.
Ngày tháng 11 năm Vạn Lịch th41 (1613). Nội y viện phụng giáo san hành.
Giám sát hiệu chính quan:
Thông Huấn đại phu Hành nội y viện trực trưởng thần Lý Hi Hiến.
Thông Huấn đại phu  Hành nội y viện phó phụng sự thần Doãn Tri Vi.



Nguyên văn ảnh ấn lời Tập lệ trong sách Đông Y Bảo Giám
Mục lục Đông Y Bảo giám東醫寶鑑目錄
Phần 1: Nội cảnh, bàn về cơ thể người, các vấn đề về Tinh , Khí , Thần , Huyết , Nằm mơ , Thanh âm 聲音, Ngôn ngữ言語, Tân dịch 津液, Đàm ẩm痰飲, Ngũ tạng lục phủ 五髒六腑,  Đại Tiểu tiện 大小便.
Phần 2: Ngoại hình, bàn về các hiện chứng bên ngoài của cơ thể, như: Đầu , mặt , mắt , tai , mũi , miệng lưỡi 口舌, răng lợi 牙齒, họng 咽喉, cổ gáy 頸項, lưng , ngực , vú , bụng , rốn , eo , sườn , da , thịt , mạch , gân , xương ,
Phần 3: Tạp bệnh
Phần 4: Thang dịch
Phần 5: Châm cứu

Niên biểu Hứa Tuấn
Năm
Tuổi
Triều Tiên

Việt Nam
Nam Bắc Triều
Trung Quốc

Niên biểu Hứa Tuấn


Lý thị
Nam-Lê
Bắc- Mạc
Minh triều


1546
1
Minh tông 1
Nguyên Hòa 14
Quảng Hòa 4

Thế tông Gia Tĩnh 25
Hứa Tuấn ra đời tại Dương Xuyên, bố là Hứa Luân làm chức Quận thú, mẹ Tôn thị là dân thường
1568
23
Tuyên tổ 1
Chính Trị 11
Sùng Khang 3
Mục tông Long Khánh 2
Cùng mẹ dời Long Xuyên. Đến Sơn Âm tôn Danh y Liễu Nghĩa Thái làm thầy. Làm nghề gánh nước tạp dịch nuôi thân, sau làm nghề hái thuốc, rồi trông kho thuốc. Con là Hứa Khiêm ra đời
1573
28
Tuyên tổ 6
Gia Thái 1
Sùng Khang 8
Thần tông Vạn Lịch 1
Bị đuổi khỏi sư môn. Theo nghiệp khoa cử Y khoa, vì bị ốm nên lỡ mất cơ hội
1574
29
Tuyên tổ 7
Gia Thái 2
Sùng Khang 9
Thần tông Vạn Lịch 2
Thầy là Liễu Nghĩa Thái mất. Theo nghiệp khoa cử Y khoa đỗ đầu, làm trong Nội y viện, thăng Huệ Dân thư tham phụng
1575
30
Tuyên tổ 8
Gia Thái 3
Sùng Khang 10
Thần tông Vạn Lịch 3
Quang Hải quân sinh
1576
31
Tuyên tổ 9
Gia Thái 4
Sùng Khang 11
Thần tông Vạn Lịch 4
Thăng Chính thất phẩm trực trưởng
1577
32
Tuyên tổ 10
Gia Thái 5
Sùng Khang 12
Thần tông Vạn Lịch 5
Cung tần họ Kim bị bệnh mất. Tam dời Nội y viện đi ngao du khắp nước nghiên cứu dược liệu
1578
33
Tuyên tổ 11
Quang Hưng 1
Diên Thành 1
Thần tông Vạn Lịch 6
Lý Thời Trân李時珍 người Trung Quốc hoàn thành sách Bản Thảo cương mục本草綱目
1591
46
Tuyên tổ 24
Quang Hưng 14
Hồng Ninh 1

Thần tông Vạn Lịch 19

1592
47
Tuyên tổ 25
Quang Hưng 15
Vũ An 1
Thần tông Vạn Lịch 20
Được phong Chính tam phẩm đường thượng quan, nhậm mệnh Ngự y của Nội y viện.
Năm Nhâm Thìn, quân Nhật xâm lược Triều Tiên lần thứ 1. Theo Tuyên Tổ lánh nạn ở Nghĩa Châu
1596
51
Tuyên tổ 29
Quang Hưng 19
Kiền Thống 4
Thần tông Vạn Lịch 24
Quân Nhật thua. Tuyên Tổ mệnh sai bọn Hứa Tuần soạn sách
1597
52
Tuyên tổ 30
Quang Hưng 20
Kiền Thống 5
Thần tông Vạn Lịch 25
Năm Đinh Dậu, quân Nhật xâm lược Triều Tiên lần thứ 2.
1600
55
Tuyên tổ 33
Thận Đức 1
Kiền Thống 8
Thần tông Vạn Lịch 28
Là người đứng đầu Nội y viện
1601
56
 Tuyên tổ 34
Hoằng Định 1

Kiền Thống 9
Thần tông Vạn Lịch 29
Phong tặng Chính Hiến đại phu tri Trung Khu phủ sự
1604
59
Tuyên tổ 37
Hoằng Định 4
Kiền Thống 12
Thần tông Vạn Lịch 32
Ban tặng Trung Cần Trinh Lượng Hỗ Thánh công thần
1606
61
Tuyên tổ 39
Hoằng Định 6
Kiền Thống 14
Thần tông Vạn Lịch 34
Gia tặng tước Dương Bình quân chính nhất phẩm Phụ Quốc Sùng lộc đại phu. Con đích của Tuyên Tổ là Vĩnh Xương đại quân sinh
1608
63
Tuyên tổ 41
Hoằng Định 8
Kiền Thống 16
Thần tông Vạn Lịch 36
Tuyên Tổ mất
1609
64
Quang Hải quân 1
Hoằng Định 9
Kiền Thống 17
Thần tông Vạn Lịch 37
Mang tội mưu nghịch bị đày đi phương Nam
1610
65
Quang Hải quân 2
Hoằng Định 10
Kiền Thống 18
Thần tông Vạn Lịch 38
Hoàn thành sách Đông Y Bảo giám東醫寶鑑
1611
66
Quang Hải quân 3
Hoằng Định 11
Kiền Thống 19
Thần tông Vạn Lịch 39
Sau hai năm đi đày được xá tội
1613
68
Quang Hải quân 5
Hoằng Định 13
Kiền Thống 21
Thần tông Vạn Lịch 41
Đông Y Bảo Giám 東醫寶鑑được khắc in
1615
70
Quang Hải quân 7
Hoằng Định 15

Kiền Thống 23
Thần tông Vạn Lịch 43
Bị bệnh mất



[1] Ngạn : tên gọi khác của chữ Hangul/한글, tức là chữ viết, tiếng Hàn Quốc, phiên theo âm Hán Việt là Ngạn âm諺文/언문
[2] Hiên Kỳ轩歧: tức nói tắt của Hiên Viên – Kỳ Bá轩辕-歧伯, hai ông tổ y học của Trung Quốc. Hiên Viên tức là Hoàng Đế, cùng với Kỳ Bá được coi là những tác giả của Hoàng đế nội kinh tố vấn.  Về sau dùng từ Hiên Kỳ để chỉ y học cổ truyền của Trung Quốc.
[3] Thương công: tức Thái Thương công太仓公người Lâm Truy nước Tềhọ Thuần Vu淳于, tên là Ý, vì làm chức trưởng kho, nên gọi là Thương công; Biển Thước: tức danh y Biển Thước扁鹊, người nước Trịnh ở quận Bột Hải, họ Tần, tên Việt Nhân越人. Cả hai đều là những danh y nổi tiếng tài đức, có tiểu truyện được chép trong Sử Ký Tư Mã Thiên扁鹊仓公列传第四十五
[4] Lưu, Trương, Chu, Lý: Bốn đại danh y thời cuối Kim đầu Nguyên là Lưu Hà Gian 刘河间, giỏi dùng Hàn Lương寒凉, có soạn sách Tuyên Minh luận phương宣明论方, Thương Hàn trực cách phương伤寒直格方;Trương Tử Hòa 张子和chủ trương Công Hạ攻下, có soạn các sách Nho môn sự thân儒门事亲; Chu Đan Khê朱丹溪, giỏi về Tư Âm滋阴, soạn thành sách Đan Khê tâm pháp丹溪心法, Cách trí dư luận格致余论; Lý Đông Viên 李东垣thì chuyên môn bổ ích Tỳ Vị补益脾胃, soạn thành sách Tỳ Vị luận脾胃论, Lan thất bí tàng兰室秘藏. Cả bốn vị đều là các đại gia có nhiều phát huy và vận dụng trong Phương Tễ học và lý luận Đông y.
[5] Linh Khu: tức Kinh Linh Khu靈樞經, cùng với sách Tố vấn 素問 hợp thành Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn 黃帝內經 là một bộ Y thư kinh điển của Đông Y.
[6]Tuyên tông 宣宗(15521608 tên húy là Lý Công李昖, tước Hà Thành Quân河城君miếu hiệu là Tuyên tổ宣祖là vua thứ 14 của vương triều Lý thị Triều Tiên.
[7] Năm loạn Đinh Dậu: tức tháng 2 năm 1597, Nhật Bản Phong Thần Tú Cát 豐臣秀吉Toyotomi Hideyoshi phát binh xâm lược Triều Tiên lần thứ 2.
[8] Ý nói năm 1608, Tuyên tông mất.
[9] Thái hòa太和: chỉ cuộc thái bình, âm dương điều hòa, trời đất tán hóa sinh sôi muôn vật. Cũng dùng để chỉ thời kỳ thái bình; Lục khí 六气: chỉ sáu khí, sáu hiện tượng thời tiết khí hậu trong trời đất. Theo quan niệm của Đông Y cũng có thuật  ngữ Lục Khí.
[10] Phù tả khế左契: đời xưa vẽ hình bùa, làm khế ước khắc lên gỗ chia đôi cho nhau để làm tin. Khi có việc thì giao ra để ghép lại đối chứng. Đây nói việc tra phương nghiệm bệnh theo Đông Y bảo giám như là vẽ bùa ghép khoán vậy xác thực đến thế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét