Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

Một số thơ văn Hán Nôm tại đền Cụ Tiền tướng quân Võ Văn Khiêm - ở làng An Ninh phường Hương Long - Tp Huế.

 Văn bia chữ Nôm Miếu ông Tiền tướng quân Võ Văn Khiêm (nguyên văn viết bằng chữ Kiêm, chúng tôi ghi lại theo cách  nguồn đã dẫn)

 ở làng An Ninh phường Hương Long - Tp Huế.

Phần Nôm này đã được Gia tộc phiên âm và khắc lại trên bia khác. 






Ảnh lấy từ nguồn Journey in Hue và Facebooker Bùi Đình Thiệp

https://www.facebook.com/huevanhungchuyendi/posts/149023686686733

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.125914794980172&type=3

 

Khải Định Giáp Tí niên mạnh xuân cát nhật

Hương giang đất nước trong ngần

Song Ninh là hiệu thế thần bản nguyên

Võ Văn nối nghiệp Kiêm tuyền

Mừng vui lo nhớ nghĩ riêng vài lời

Trăm năm trong cõi ở đời

Phải dò bể thánh làm người mới hay

Xem lời trong sách tỏ bày

Nhiều người nhân nghĩa Thảo ngay ân tình

Những người Hữu đệ cung huynh

Những người kết bạn tin mình Thủy Chung

Người xưa ưa phải rất Đông

Người nay cũng thụ hóa công sinh người

Ở sao cho phải đạo trời

Công cha Nghĩa mẹ biết đời nào nguôi

Nhớ năm Giáp tý sinh tôi

12 tháng ngọ giờ mùi ngày biên

Nhờ ơn cha Phật mẹ Hiền

Sinh ngoài bọc trắng trong nên con người

Phòng tư anh vật khác vời

Mi thanh mục Tú mặt tươi da Hồng

Nuôi con khi ẵm khi bồng

Cha mẹ trông lớn lo lòng cạn sâu

Đêm ngày tâm niệm khẩn cầu

Nguyện cho trăm tuổi sống lâu ở đời

Sớm khuya đèn sách những người

Làm trai nặng gánh mấy lời Thảo ngay

Tên cha công nghiệp đã dày

Ơn vua nợ nước nhiều ngày về sau

Phúc nhà lại gặp ân sâu

Tuyển phê thị vệ chầu hầu chân tay

Lịch dịch chung ngoại những ngày

Đã nhiều lao khổ lại giày gian nan

Dụ về nhị phẩm triều ban

Thưởng thêm Kim Khánh rõ ràng Liên lao

Kim Tiền ba thứ ban giao

Bội tinh lại thưởng công lao khen đều

Rắp phê đổng lý sửa nhiều

Đến năm kỷ vị trực chầu mừng vui

Lòng son báo đáp chưa nguôi

Chuẩn Tòng tân nhị dụ hồi nghỉ An

Châu phê nhất phẩm thăng quan

Sắc phong tam Đại ấn đường cả ba

Lại thêm hưu bổng dưỡng già

Bãi trầu biểu tạ hồi ra khen dồn

Trăm năm thực lục ghi còn

6  triều luận nghĩa vuông tròn phân minh

Thảnh thơi cảnhthú Hưu đình

Cội Tùng vườn cúc mượn tình xưa sau

Nhờ ơn thăng thưởng nay lâu

nặng như trời bể cao sâu Mấy tầng

Làm tôi danh phận thành thân

Triều bao xiêm áo đái khăn mặn mà

Nên tạc Lưu tích để nhà

muôn đời sau nối biết là ơn trên

Phận con nhờ Phúc vững bền

Thảo ngay hai chữ sao đền Đặng đây

Tấc riêng khôn xiết tỏ bày

Ơn dày Đức Trọng cũng tày trời sanh

Ơn trên phụ mẫu sinh thành

thân hình trọn vẹn dành dành tướng quan

Lo sau mặt khuất thể An

Nên lưu chân tượng Cửu Trường về sau

Nguyện trong trời đất khẩn cầu

Sau dầu thể thác hồn hầu báo ân

Thảo ngay là chữ chung thân

Từ đường trước sẵn cảm nhân thêm rầy

Nhưng mà chút Thảo từ ngày

Làm nhà vọng tự tỏ bày lòng con

Cảnh thờ Trần thiết vàng son

Cuốn than xây đá vuông tròn thềm Hoa

Trên thờ cha 1 mẹ 3

Anh em tả hữu ruột già vọng Trung

Tầng dưới xây án tử Hồng

Xuân Thu nhị mạnh hội đồng tế văn

Nhà trong để tượng truyền thần

Bốn người hiền phụ thờ gần với tôi

Th  chung đông đủ đều vui

Nghìn năm hương lửa không nguôi tấc Thành

Giao cho chi phái dành dành

Tự điền 5 mẫu đã dành luân ban

Sắm xanh phẩm vật sẵn sàng

Tiết nghi nghiêm chỉnh lệ thường phân minh

Hương Yên trầm tửu tư sinh

Hương thường kỵ lạp lập thành vườn trong

Nhà từ trước mặt có sông

Bình Phong trụ biểu bách Tùng sinh Huy

Cảnh này là cục Kim quy

Xa Hoàn Thủy nhiễu vậy thì giàu sang

Vườn ấy là đất trong làng

Ở đây là đất Đồng An ông trường

Còn trời còn ruộng còn vườn

Hãy còn gia tự chủ trương hãy còn

Muôn đời không dám hao mòn

Thảo ngay dám kể vuông tròn nhờ Biên

Muôn chúc thiên tử vạn niên

Thái bình thiên hạ ức Thiên Phú Cường

Vọng từ kỷ niệm

Đặc tiến tráng Vũ tướng Quân tiền quân đô thống phủ đô thống trưởng phủ sự Võ Văn Kiêm cung Thuyên.

(Khi phiên âm chúng tôi chưa đối chiếu với bản Quốc ngữ của Gia tộc phía dưới. Nên có thể có những sai khác. Mong độc giả lượng thứ tự đối chiếu)

 Phần phiên âm đã được con cháu gia tộc phiên âm khắc vào bia xi măng phía sau, năm 1994.


Bia mộ cụ:
Hiển khảo - Hoàng triều cáo thụ, đặc tiến Tráng Vũ tướng quân, Tiền quân Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ sự - Thượng trụ quốc, thụy Võ Nghị, tự Thiện Khanh Võ công tôn mộ

Tám bài thơ trên nhà Trung đình đề chữ Hán là 
Truy Tư Đình
Tương Tướng Điệt Hưng



Với tám bài thơ của các tác giả thời Đường - Tống, miêu tả các cảnh tượng cho Tứ thời - Bát tiết

晴窗早覺愛朝曦,竹外秋聲濺作威。

命僕安排新暖閣,呼童熨貼舊寒衣。

葉浮嫩綠酒初熟,橙切香黃蟹正肥。

容菊滿圓皆可羨,賞心從此莫相違。

·劉克莊11871269


Dch nghĩa

Song sớm tỉnh ra thấy nắng ghê

Rặng trúc tiếng thu đã rộ uy

Kêu hầu sắp lại căn gác ấm

Dặn trẻ đun hồ nếp hàn y

Xanh non đọn lá men hơi rượu

Chanh cắt thơm vàng Cua béo phì

Mặt cúc tròn đầy yêu trọn vẻ

Lòng vui như thế có khác gì

Tống. Lưu Khắc Trang劉克莊11871269

冬至
天時人事日相催,冬至陽生春又來。
刺繡五紋添弱線,吹葭六琯動浮灰。
岸容待臘將舒柳,山意衝寒欲放梅。
雲物不殊鄉國異,教兒且覆掌中杯。

杜甫(712770

Dch nghĩa

Tiết  trời việc người cứ nối nhau

Đông đã qua rồi xuân đến sau

Thêu gấm năm màu thêm sợi nhuyễn

Thổi lau sáu ống động tro mầu

Ven bờ vào chạp ra mềm liễu

Ý núi tiết hàn mai trổ mau

Cảnh trời cảnh vật quê đâu khác

Rót chén trên tay gọi trẻ hầu

Đõ Phủ 712770

太平

兩個黃鸝鳴翠柳 一行白鹭上青天

窗含西岭千秋雪,门泊东吴万里船

Lưỡng cá hoàng ly minh thuý liễu,
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên.
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết,
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền.

Dch nghĩa

Hai  cái oanh vàng  hót  liễu  biếc

Một  hàng  cò  trắng   lướt trời xanh

Song ôm Tây lĩnh nghìn năm tuyết

Cửa đậu Đông Ngô vạn dặm thuyền

閒來無事不從容,睡覺東窗日已紅。
萬物靜觀皆自得,四時佳興與人同。
道通天地有形外,思入風雲變態中。
富貴不淫貧賤樂,男兒到此是豪

Trình Hạo程顥 (1032-108)

Thu cảnh

Nhàn lai vô sự bất thung dung,
Thuỵ giác đông song nhật dĩ hồng.
Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc,
Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng.
Đạo thông thiên địa hữu hình ngoại,
Tứ nhập phong vân biến thái trung.
Phú quý bất dâm bần tiện lạc,
Nam nhi đáo thử thị hào hùng.

Dch nghĩa

Nhàn ra  không việc  chẳng  thong dong

Ngủ dậy cửa đông nắng đã hồng

Muôn vật tĩnh trông đều thửa đắ

Bốn mùa hứng đẹp cảnh người chung

Đạo lan trời đất ngoài vật lý

Gió mây tứ phía biến vô song

Giàu có chả ham, nghèo vui vẻ

Nam nhi đến thế mới anh hùng

上元侍宴  

淡月疏星繞建章,
仙風吹下御爐香。
侍臣鵠立通明殿,
一朵紅雲捧玉皇

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) 

Thượng nguyên th yến

Đạm nguyệt sơ tinh nhiễu Kiến Chương,
Tiên phong xuy há ngự lô hương.
Thị thần hộc lập Thông Minh điện,
Nhất đoá hồng vân phủng Ngọc Hoàng.

Dch nghĩa

Hầu yến tết thượng nguyên

Kiến Chương trăng nhạt sao thưa

Gió tiên lò ngự hương đưa thoảng nồng

Thông Minh thị vệ hầu trông

Mây hồng một đóa bưng dâng Ngọc Hoàng

夏日

长夏江村风日清,檐牙燕雀已生成。

蝶衣晒粉花枝午,蛛网添丝屋角晴。

落落疏帘邀月影,嘈嘈虚枕纳溪声。

久斑两鬓如霜雪,直欲樵渔过此生。

Trương Lỗi 张耒(1054——1114)文潜

Dch nghĩa

Sông quê ngày hạ gió  trời thanh

Thềm hiên én sẻ đã sinh thành

Bướm khoe áo phấn cành hoa ngọ

Nhện lại tơ giăng góc nắng hanh

Rủ rủ rèm thưa lay mời nguyệt

Lao xao gối rỗng tiếng khe quanh

Lâu lâu hai búi màu sương tuyết

Mong được ngư tiều kiếp qua nhanh

Trình Hạo程顥 (1032-1085)

Vân đạm phong khinh cận ngọ thiên,
Bạng hoa tuỳ liễu quá tiền xuyên.
Thời nhân bất thức dư tâm lạc,
Tương vị thâu nhàn học thiếu niên.

Dch nghĩa

Gió đưa mây nhạt gần trưa

Bên đường hoa liễu đu đưa trước dòng

Người đời ai biết ta mừng

Đương  nhân nhàn rảnh học cùng trẻ thơ

詩家清景在新春,綠柳才黃半未勻。

若待上林花似錦,出門俱是看花人

楊巨源

Thi gia thanh cảnh tại tân xuân,
Lục liễu tài hoàng bán vị quân.
Nhược đãi Thượng Lâm hoa tự cẩm,
Xuất môn câu thị khán hoa nhân.

Dch nghĩa

Thi nhân cảnh đẹp buổi xuân tươi

Liễu biếc chuyển vàng đã nửa rồi

Nếu đợi vườn kia hoa trổ gấm

Ra ngoài toàn kẻ ngắm hoa thôi


古歡南塘阮Cổ hoan Nam đường Nguyễn khảo dịch

Đức cuốc xã, Đại dịch Tàu +, tháng 10/2020












































Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét